Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

Khái Niệm và Thực Tại (hoặc Tục đế và Chân đế) - Thiền Sư U Silananda


Là những hành giả thiền Quán, quý vị cần phải hiểu rõ ràng và chính xác sự khác biệt giữa Khái niệm và Thực tại, vì chỉ một trong hai điều này là đối tượng của thiền Minh sát (Vipassana).
Khi hành thiền Quán, thiền sinh cần phải chú tâm ghi nhận bất cứ đối tượng nào đang sanh khởi và nổi bật trong giây phút hiện tại.
Trong ngữ cảnh nầy, từ 'bất cứ' có nghĩa là gì? Ðó là bất cứ những gì thuộc Sự thật Tuyệt đối, hay Chân đế. Nói một cách khác, đó là bất cứ những gì chính nó thật sự hiện hữu.
Những gì hiện hữu do sự suy nghĩ và trí tưởng tượng của con người thì không thể dùng làm đề mục trong thiền Quán. Vipassana, thiền Minh Sát hay thiền Quán, là pháp hành thanh lọc tâm và mục đích của thiền Vipassana là để giúp ta nhận thức được ba đặc tướng (tam tướng), để có kinh nghiệm thực chứng bản chất vô thường, khổ,vô ngã nơi sự vật. Ðể hành giả thật sự thấy được ba đặc tướng này, đối tượng thiền tập của hành giả phải hội đủ ba đặc tướng đó.
Một đề mục hành thiền hội đủ ba đặc tướng này khi nó thật sự hiện hữu, sanh rồi diệt, và vì có sanh diệt nên mang bản chất vô thường, khổ, và vô ngã. Những gì chỉ hiện hữu qua sự suy nghĩ, qua trí tưởng tượng của chúng ta thì không thể là đề mục thiền Quán Vipassana, vì chúng không hội đủ ba đặc tướng, trong khi đó tác dụng của pháp thiền Vipassana là để thẩm thấu ba đặc tướng này.
Hãy lấy một ví dụ về 'chiếc xe hơi'. Chiếc 'Xe' thoạt 'trông như' có thật, nhưng khi ta tháo rời từng bộ phận, ta không còn cái gọi là 'Xe' mà chỉ còn những bộ phận phụ tùng rời rạc. Cái mà ta gọi là Xe, thật sự chỉ là một khái niệm, chỉ hiện hữu trong trí óc suy nghĩ tưởng tượng của ta. Danh từ 'Xe' chỉ là một khái niệm quy ước được tạo ra để nói chuyện chứ không là một thực tại hiện hữu.
Một ví dụ khác là 'bàn tay'. Với đôi mắt, ta nhìn thấy 'bàn tay', nhưng thật sự con ngươi không thấy 'bàn tay' mà chỉ thâu nhận những dữ kiện (về hình tướng) của bàn tay, và trí óc cho đó là bàn tay. Trí óc ta thật sự nhìn biết qua 'tâm thấy' (nhãn thức). Ngay sau 'Tâm thấy' đó lại có những chập tâm khác và chính tạiến trình một chuỗi những tâm sau này đã ghép lại những dữ kiện của bàn tay, và ta 'thấy' được bàn tay. Ta không thể thấy được sự khác biệt giữa những dữ kiện về bàn tay (từ Tâm thấy) và khái niệm về bàn tay (từ sự gom chấp những dữ kiện này trong tâm) vì chính tâm ta không đủ nhạy bén để thấy rõ được những tâm khác nhau đang nối tiếp sanh khởi không ngừng. Do đó, đối với ta, dữ kiện và khái niệm, cả hai xem như là một, và ta nói: Tôi thấy 'bàn tay'.
Khái niệm gồm có hai loại: khái niệm về tên gọikhái niệm về sự vật. Trở lại với ví dụ 'bàn tay', danh từ 'bàn tay' là khái niệm về tên gọi (name concept), trong khi đó chính bàn tay năm ngón này là khái niệm về sự vật (thing concept). Khái niệm về tên gọi là những danh từ được đặt ra và gán vào một vật hoặc một người, trong khi đó khái niệm về sự vật chính là vật hay người được gán vào bằng những danh từ kia.
Ta không biết được điểm khởi đầu của một danh từ, một khái niệm về tên gọi và ta cũng không biết được khi nào danh từ này biến mất. Làm sao ta có thể thấy được sự sinh diệt của một đối tượng khi chính nó không sinh cũng chẵng diệt? Vì vậy, khái niệm không thể làm đề mục trong thiền Quán Vipassana.
Vậy khi thấy một bàn tay, ta phải ghi nhận và chú niệm ra sao? "Bàn tay, bàn tay..." hay là "Thấy, thấy..."? Ta phải niệm "thấy, thấy...". Nếu ta niệm 'bàn tay' là ta đang niệm về một khái niệm, và ta sẽ không bao giờ thấy được ba đặc tính vô thường, khổ, và vô ngã nơi nó. Nếu ta niệm 'thấy, thấy...' là ta đang ghi nhận Tâm thấy. 'Tâm thấy' sinh ra rồi hoại diệt. Ðây là một sự thật tuyệt đối, một chân đế mà ta có thể kinh nghiệm được, có thể dùng làm đề mục thiền quán. Ðiểm này là một điểm rất quan trọng.
Hầu hết mọi vật đều mang hai loại khái niệm: tên gọi và sự vật. Con người cũng vậy, cũng mang hai loại khái niệm về tên gọi và về sự vật. Danh từ 'con người' là khái niệm về tên gọi và con người bằng xương bằng thịt là khái niệm về sự vật. Vậy trong con người, có sự thật tuyệt đối chăng, có chân đế chăng? Thân và tâm là những sự thật tuyệt đối trong con người. Trong sự phân tích rốt ráo tột cùng, chỉ có thân-tâm là thật sự hiện hữu, là những sự thật tuyệt đối, ngoài ra không có gì khác.
Chân đế là gì? Thực tại là gì? Ðó là cái gì đúng y như vậy, không sai chạy như đã được nhận biết. Một ví dụ là những dữ kiện về một vật thấy. Một định nghĩa khác của thực tại hoặc chân lý tuyệt đối là những gì ta có thể nhận biết qua sáu giác quan (tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, và ý), là những gì ta có thể kinh nghiệm được qua thiền Quán Vipassana.
Qua phương pháp thiền Quán Vipassana, ta có thể kinh nghiệm được thân-tâm một cách rõ ràng, thấy được sự sinh diệt của chúng. Ta biết được thân-tâm là những thực tại, những sự thật tuyệt đối vì ta có thể thực chứng kinh nghiệm được chúng qua sự thiền tập. Những gì một người thực chứng được là những chân đế. Ta có thể đọc sách về những sự thật tuyệt đối, hoặc nghe giảng về chúng, nhưng đối với ta, chúng chỉ thật sự là những thực tại khi nào chính bản thân ta có kinh nghiệm về chúng.
Ví dụ ta có thể nghe nói đến hoặc đọc về cái 'thấy'. 'Thấy' là một sự thật tuyệt đối. Nhưng nếu một người không kinh nghiệm được cái thấy (như trường hợp một người bẩm sinh bị mù), đối với người này, cái 'thấy' không phải là một kinh nghiệm thực chứng, không là một thực tại, mà chỉ là một điều nghe lại từ người khác hoặc học biết qua sách vở.
Một ví dụ khác: Ta học Vi Diệu Pháp, về 121 loại Tâm và 52 loại Tâm sở. Chúng là những sự thật tuyệt đối. Khi nào ta chưa thực sự kinh nghiệm chúng qua chính bản thân, qua thiền tập của chính mình, lúc đó đối với ta, chúng vẫn chỉ là những khái niệm, vì ta chỉ biết đến chúng qua từ ngữ trong kinh điển. Khi ta hành thiền Quán Vipassana và thật sự trông thấy tâm đang đồng sinh khởi với Tham, ta kinh nghiệm tâm Tham ngay trong bản thân mình, và lúc đó đối với ta, tâm Tham là một chân đế không sai chạy. Cùng là một sự thật, đối với một người chưa kinh nghiệm qua, nó chỉ là một khái niệm, nhưng đối với người đã từng kinh nghiệm nó, nó là một sự thật tuyệt đối, một chân đế. Do đó, một chân đế chỉ được biết qua sách vở hoặc nghe lại từ người khác vẫn chỉ là một khái niệm mà thôi.
Ðọc về sách thiền, ta biết có một trng thái tâm gọi là hỷ (piti). Trong sự hiểu biết này, hỷ vẫn là một khái niệm. Khi hành thiền và thực chứng hỷ, tâm sở hỷ nay trở nên một thực tế đối với ta. Do đó, bất cứ chân lý nào khi chưa được thực chứng kinh nghiệm qua chính bản thân thì nó chỉ là một khái niệm.
Khi nói về thực tại, tất cả những gì mà ta thấy hoặc kinh nghiệm ngoài thiền Quán đều là những thực tế 'bề ngoài' (apparent realities). Ví dụ, khi nhìn một đàn kiến từ xa thì chúng trông chẳng khác nào một đường đen không dứt đoạn, hoặc khi một cây đuốc được xoay tròn thì nó tạo ảo ảnh một vòng lữa, hoặc một dòng cát chảy từ một túi treo trên cao tạo hình ảnh một cột cát nối liền từ túi cát đến mặt đất. Người ta thường hay nói "có thấy thì mới tin". Tuy nhiên, có rất nhiều cái thấy mà lại không đúng với thực tế, như những ví dụ nêu trên. Chúng chỉ là những "thực tại bề ngoài", chính vì chúng mà ta không thấy được sự thật tuyệt đối, chúng che lấp thực tại của sự vật, chúng chỉ là những khái niệm. Chỉ khi nào ta hành thiền Quán Vipassana, ta mới có khả năng xuyên qua những lớp vỏ bề ngoài này và thấu suốt vào sự thật tuyệt đối bên trong.
Do đó, khi hành thiền Quán Vipassana, ta phải cố gắng thấu đạt Chân đế, dùng 'thực tế tuyệt đối' này làm đề mục hành thiền. Có như vậy ta mới phá vỡ được những lớp vỏ 'thực tế bề ngoài' và xuyên thấu vào chân đế từng bị chúng che lấp. Chỉ có sự quán niệm liên tục và sắc bén mới có khả năng xuyên thấu chân đế.
Hành giả sơ cơ rất dễ lầm lộn một đối tượng do khái niệm và nghĩ rằng mình đang quán sát một đối tượng thuộc chân đế, hoặc có khi thì ghi nhận đối tượng do khái niệm, có lúc thì lại ghi nhận đối tượng thuộc chân đế, không phân biệt được rõ ràng.
Ví dụ khi thiền sinh theo dõi hơi thở ra vào nơi đầu mũi. Nếu cảm nhận như có một cây bút chì đang di chuyển vào ra nơi mũi, quý vị đang ghi nhận một khái niệm. Chỉ khi nào quý vị cảm thấy được sự di chuyển hoặc đặc tính căng dãn của hơi thở, lúc đó quý vị mới có được chánh niệm trên bản chất thật sự của hơi thở, trên chân lý tuyệt đối trong hơi thở. Khi quán sát hơi thở, ta không chú niệm vào hình dáng của hơi thở mà phải chú niệm vào đặc tính của nó -- sự chuyển động hoặc căng dãn. Thấy được những đặc tính này, ta thấy được chân lý tuyệt đối trong hơi thở.
Cũng như thế đối với đề mục phồng xẹp nơi bụng. Khi hành giả theo dõi được sự chuyển động, sự căng phồng và thư dãn nơi bụng, hành giã đang có chánh niệm trên chân đế của đối tượng đang quán sát -- đó là nguyên tố Gió (phong đại). Ðặc tính của nguyên tố gió là sự chuyển động. Lúc đó hành giả cảm nhận rõ ràng sự chuyển động và căng dãn nhưng không nhận thấy được hình dáng của bụng hoặc màng bụng. Lý do là vì tâm định của hành giả lúc này khá mạnh, có khả năng xuyên thấu vào chân lý tuyệt đối, nên tâm không chú vào những gì thuộc khái niệm.
Các thiền sư bên Miến Ðiện vẫn thường nói: "Khi Khái niệm được nhận thấy rõ ràng, Chân đế bị che khuất. Khi Chân đế được quán thấy, Khái niệm dần mờ phai". Trong tiến trình tu quán niệm, tâm định càng vững trụ, chân đế càng rõ ràng. Chân đế càng rõ ràng, khái niệm càng phai biến.
Chúng ta vẫn sống trong một thế giới của Khái niệm, ngôn ngữ ta dùng, âm thanh ta nghe, tư tưởng ta suy nghĩ... biết bao khái niệm trong từng ngày của cuộc sống. Do đó, khi ta hành thiền quán Vipassana và bắt đầu có kinh nghiệm với chân lý tuyệt đối, ta thường hay bỡ ngỡ, cảm thấy khó chịu như có gì không ổn. Có cảm giác như vậy chẳng qua là vì trong giai đoạn này, khái niệm bắt đầu mờ phai mà thực tại thì chưa thể hiện rõ ràng.
Do đó ta cần phải cố gắng ghi nhận cho được chân đế, chứ không ghi nhận khái niệm khi hành thiền Quán Vipassana. Ðề mục của Vipassana phải là Chân đế chứ không là Khái niệm, vì khái niệm không có sinh diệt, và do đó, không mang ba đặc tướng Vô thường, Khổ và Vô ngã. Nếu dùng khái niệm làm đề mục thiền quán, ta sẽ không thực chứng được bản chất sinh diệt của đối tượng, sẽ không thấy được tính chất vô thường, khổ, và vô ngã của chúng. Trong khi mục đích của thiền Quán Vipassana là trí tuệ để xuyên thấu ba đặc tướng, nếu đối tượng thiền quán lại không hội đủ tam tướng này, làm sao thiền tập mang đến kết quả?
Theo Vi Diệu Pháp, có bốn loại Chân lý tuyệt đối: Tâm (citta), Tâm sở (cetasika), Sắc hay Thân (Rupa) và Niết bàn (Nibbana). Bốn chân đế này thực sự hiện hữu, chúng ta có thể thực chứng kinh nghiệm chúng qua chính bản thân. Trong bốn chân đế, chỉ có Niết bàn là không thể lấy làm đề mục cho thiền Quán Vipassana, vì Niết bàn không có khởi đầu và không có chấm dứt (vô thỉ vô chung), không sinh không diệt (bất sinh bất diệt), không mang đặc tính vô thường và khổ. Chỉ có tâm, tâm sỡ, và thân mới có thể dùng làm đề mục thiền Quán Vipassana.
Trong Phạn ngữ Pàlại, Tâm là citta, được định nghĩa là sự 'nhận biết đối tượng'. Tâm là sự nhận biết đơn thuần chớ không phải là sự ghi nhận (chánh niệm) khi ta hành thiền Quán. Với thiền quán Vipassana, các thiền sư vẩn thường nhắc nhở : "Hãy để tâm ghi nhận, hãy có chánh niệm lên đề mục." Tâm nhận biết đơn thuần - citta - được phiên dịch qua Anh ngữ là 'awareness', mà tâm ghi nhận chánh niệm Sati cũng được dịch là 'awareness'. Do đó quý vị nên hiểu sự khác biệt giữa tâm nhận biết (citta) và tâm sở chánh niệm (sati).
Khi tâm chỉ đơn thuần ghi nhận, những đặc tính của đối tượng chưa được nhận rõ. Ví dụ trong cái thấy, có tâm thấy. Tâm thấy này chỉ làm sự móc nối giữa tâm và đối tượng, lúc này ta chưa biết được màu sắc của đối tượng, hay đối tượng kia là đàn ông hay đàn bà, vv..
Tâm luôn đồng sanh khởi với những tâm sở như: cảm thọ, chú ý, tự tin, thương hại, hiểu biết, chánh niệm, định, vv... Có 52 tâm sỡ nhưng không phải lúc nào tất cả 52 tâm sở này đồng sanh khởi với tâm. Có những nhóm tâm sở khác nhau đồng sanh khởi với những loại tâm khác nhau. Gọi là 'tâm sở' vì những tâm này tuỳ thuộc vào tâm để có mặt, do đó mà kinh điển có dạy 'tâm dẫn đầu mọi tâm sở', tâm được xem như yếu tố cầm đầu. Không có tâm ta không thể có tâm sở.
Tâm và tâm sở thuộc về Tâm (hoặc Danh), Phạn ngữ Pàli gọi là Nàma. Trong lúc thiền, khi một âm thanh sanh khởi, ta niệm 'nghe, nghe...', đó là ta đang niệm tâm -- tâm nghe hoặc nhĩ thức. Khi tâm phóng đi đây đó, ta niệm 'phóng tâm, phóng tâm...' đó là ta đang niệm tâm -- tâm phóng dật. Hoặc khi ta mong cầu ham muốn điều gì, ta niệm 'ham muốn, ham muốn...'. Ðó là ta đang niệm tâm sở Tham ái - Lobha. Khi cảm thấy giận dữ, ta niệm 'giận, giận...' ta đang niệm tâm sở Sân - Dosa. Và nếu ta niệm vào ý thức biết mình đang giận, ta đang niệm tâm, sự nhận biết.
Chân lý tuyệt đối thứ ba là Thân hoặc Sắc, Phạn ngữ Pàli là Rupa. Thân hoặc vật chất là cái gì thay đổi vì sự nóng lạnh, đói khát, muỗi mòng,.... Thân không có khả năng nhận biết, không thể bắt đối tượng vì chính nó là đối tượng.
Thân gồm 28 yếu tố: 4 nguyên tố -- Tứ đại, đất nước gió lửa, và 24 yếu tố phụ, tùy thuộc vào Tứ đại này để sanh khởi. Trong 24 yếu tố phụ thuộc gồm có 6 giác quan và 6 đối tượng của chúng, vv... Thân là một chân đế. Thân thật sự hiện hữu, mang trọn tam tướng vô thường, khổ, và vô ngã, và là đề mục thiền Quán Vipassana.
Khi ta hành thiền quán Vipassana với đề mục hơi thở ra vào nơi đầu mũi, hoặc sự phồng xẹp nơi bụng, đó là ta đang dùng Thân làm đề mục thiền. Khi ghi nhận hơi thở ra vào hoặc sự phồng xẹp nơi bụng, ta đang quán thân. Và khi một âm thanh sanh khởi, nếu ta nghi nhận 'nghe, nghe...' ta đang niệm tâm, nếu ta chú vào ghi nhận 'âm thanh, âm thanh...' ta đang niệm thân, vì âm thanh chính là đối tượng của tâm nghe hoặc nhĩ thức.
Khi hành thiền Quán Vipassana, hành giả chú tâm cố gắng thấy cho được Chân đế, những thực tại tuyệt đối. Ðể thấy được chân đế, chớ không khái niệm, hành giả cần áp dụng Chánh niệm, tâm ghi nhận đơn thuần lên đối tượng đang nổi bật trong giây phút hiện tại. Tâm ghi nhận này là một tâm vững mạnh và liên tục, chớ không là một sự ghi nhận hời hợt. Một tâm ghi nhận nông cạn, hời hợt không thể được gọi là Chánh niệm -- vì danh từ Phạn ngữ Pali của Chánh niệm là Sati, và Sati có nguyên nghĩa là "không nổi bồng bềnh trên mặt". Do đó, Chánh niệm là tâm ghi nhận đơn thuần đi thẳng sâu vào đối tượng, chẳng khác nào viên sỏi chìm sâu vào đáy hồ.
Với một Chánh niệm vững chắc, sắc bén, và xuyên thấu như vậy, hành giả mới có khả năng xuyên vượt qua những lớp vỏ khái niệm và đạt vào chân đế, mà chân đế này, thực tại tuyệt đối này là đối tượng thực sự của thiền Quán Vipassana, là đối tượng mang trọn ba đặc tướng vô thường, khổ, và vô ngã, là đối tượng mà chúng ta đang nỗ lực quán sát rõ ràng.
Do đó khi hành thiền Quán Vipassana, chúng ta cần phải có một cố gắng tinh tấn liên tục giữ tâm Chánh niệm lên đối tượng đang nổi bật trong từng giây phút hiện tại, và tâm Chánh niệm này phải đủ vững, đủ mnh để có thể xuyên thấu vào đối tượng một cách sâu sắc. Nếu được như vậy, hành giả sẽ thấu suốt vào được chân đế, hành giả sẽ tự kinh nghiệm được những loại chân đế khác nhau. Một khi những chân đế này được thực chứng, hành giả sẽ kinh nghiệm được sự sinh diệt của chúng và thấy rõ được bản chất vô thường, khổ, và vô ngã của chúng.
Với trí tuệ xuyên thấu bản chất vô thường, khổ, và vô ngã, từng bước một, từng giai đoạn một, hành giả tiến gần đến mục tiêu tối thượng -- đó là sự thực chứng Tứ Diệu Ðế. Vì vậy, chúng ta phải nỗ lực quán niệm đễ thấy được Chân đế, ngay trong chính kinh nghiệm của ta, ngay trong chính thân tâm ta, và cứ vậy mà tiến mãi cho đến lúc viên thành mục tiêu tối thượng đó.
Ðến đây, Sư xin trình bày thêm về đề tài 'thiền sư và đề mục thiền'.
Khi hành thiền và dạy thiền, thông thường mỗi vị thầy có đề mục theo sở thích riêng. Tuy nhiên nếu đề mục ấy thuộc Chân đế, thì đó là đề mục chính đáng của thiền quán Vipassana. Có những thiền sư, dựa vào kinh nghiệm bản thân riêng mình, thích hợp với một đề mục nào đó, nên khi dạy thiền, truyền dạy phương pháp đã đem kết quả cho chính mình. Những vị này suy nghiệm rằng đề mục này hợp cho mình thì có thể hợp với đa số các thiền sinh. Do đó, chúng ta có những vị thầy dạy thiền với những đề mục khác nhau.
Hòa thượng Mahasi, khi dạy thiền Tứ Niệm Xứ, lấy chuyển động phồng xẹp nơi bụng làm đề mục chính. Thật ra, Hoà thượng không phải là người đầu tiên nghiệm ra đề mục phồng xẹp và chính Hòa thượng trước tiên cũng không hành thiền Quán với đề mục này. Ðề mục này đầu tiên do một thiền sư cư sĩ áp dụng và giảng dạy. Vị này là bạn đồng môn của Ngài Mahasi, cùng là đệ tử của Hòa thượng thiền sư danh tiếng Mingun Sayadaw. Vị thiền sư cư sĩ này dạy môn đệ quán lên sự phồng xẹp nơi bụng và nhận thấy đa số các thiền sinh dễ bắt rõ đề mục này hơn là hơi thở ra vào nơi đầu mũi. Ngài Mahasi đồng ý về điểm này qua kinh nghiệm dạy thiền và nhận xét của chính mình. Do đó mà về sau, Ngài luôn luôn dùng cử động phồng xẹp nơi bụng làm đề mục chính để dạy thiền Quán. Trong khi đó, những thiền sư khác có thể chưa bao giờ áp dụng đề mục Phồng xẹp này và dùng những đề mục khác để dạy thiền Quán.
Ðề mục chẳng qua chỉ là một phương tiện để hành giả có được tâm định. Lúc mới đầu, hành giả thường thấy khái niệm (tục đế) nhiều hơn, nhưng một khi đã giữ tâm được trên một đối tượng hoặc đề mục nào đó, hành giả sẽ phát triển được định tâm. Một vị thầy có thể dùng bất cứ đề mục gì để dạy pháp môn thiền Quán, miễn là đề mục đó là một Chân đế, một thực tế tuyệt đối chứ không phải là một khái niệm.
Mục đích của sự lựa chọn đề mục chính ở đây là giúp thiền sinh có được tâm định càng dễ dàng và mau chóng càng tốt. Do đó, ta không thể cho rằng đề mục này sai hay đề mục kia đúng. Nếu đề mục đó thuộc chân đế, nếu quý vị thử tu tập và thấy thích hợp với chính mình, thấy mình có được tâm định một cách dễ dàng, quý vị cứ giữ lấy khi nhận biết rằng, đây là đề mục tốt nhất cho chính mình. Không có đề mục thiền Quán nào tốt hơn đề mục nào, chúng đều là những đề mục mà thôi.
Câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao Hòa thượng Mahasi Sayadaw lại dùng chuyển động phồng xẹp nơi bụng làm đề mục dạy thiền Quán Vipassana? Trong bản chú giải của kinh Ðại Niệm Xứ có ghi, "thiền quán niệm hơi thở đưa dẫn đến nhập thiền Jhana, đây là phương pháp thiền Chỉ Samatha", và khi giảng về phương pháp quán niệm hơi thở, Chú giải giảng qua thiền Chỉ Samatha rất cặn kẽ. Nhưng, như quý thiền sinh đã biết, khi hành thiền nếu ta dùng khái niệm hơi thở làm đề mục, ta đang hành thiền Chỉ Samatha. Nhưng khi ta chú tâm ghi nhận bản chất của hơi thở, ví dụ yếu tố gió trong hơi thở, sự chuyển động của hơi thở nơi đầu mũi, ta đang hành thiền Quán Vipassana vì yếu tố Gió, một trong bốn nguyên tố Ðất Nước Gió Lữa, là một thực tại tuyệt đối, một chân đế. Nếu chọn đề mục hơi thở nơi đầu mũi để dạy thiền, Hòa thượng cứ phải lặp đi lập lại sự khác biệt giữa khái niệm hơi thở nơi đầu mũi với bản chất thật sự của hơi thở nơi đầu mũi, do đó Ngài dùng sự phồng xẹp nơi bụng làm đề mục dạy thiền để tránh cho thiền sinh khỏi lẫn lộn.
Từ bao năm qua, Sư đến Thiền Viện này để dạy Pháp học cũng như hướng dẫn những khóa thiền. Sư thấy được sự phát triển của Trung tâm Thiền này. Ngày nay, Trung tâm này được xem như là một trung tâm Thiền đứng đắn và nhiều uy tín, một nơi mà pháp môn thiền Quán Vipassana được hành trì một cách thuần khiết, không pha lẫn trà trộn với pháp môn nào khác. Tại đây, chúng ta hành trì thiền Quán Vipassana như được chỉ dạy trong Tam Tạng Kinh, trong các Chú giải, theo đúng truyền thống Ðạo Phật Nguyên thủy.
Sư sẽ luôn cố gắng đến với quý vị thường xuyên dựa vào thời khóa biểu của chính Sư cũng như vào sự thỉnh mời của quý vị. Sư luôn hoan hỉ đến với Như Lai Thiền Viện vì Sư xem quý vị như là những người bạn đồng hành, cùng đi với Sư trên con đường hoằng dương Giáo Pháp Ðức Phật tại phương Tây này, về Pháp Học cũng như về Pháp Hành -- Pháp môn Thiền Quán Vipassana thuần túy.
Cùng chung sức, chúng ta có thể đem rất nhiều lợi lạc đến tất cả những ai có tâm mong cầu học hiểu Giáo Pháp Ðức Phật. Mặc dù Sư rất bận bịu với những trách nhiệm Phật sự khắp nơi, nhưng mỗi lần bước chân vào Như Lai Thiền Viện này, Sư luôn hết lòng chia xẻ sự hiểu biết và kinh nghiệm của Sư đến quý vị. Sư rất mang ơn quý vị đã cho Sư cơ hội đem Giáo Pháp Ðức Phật đến chia xẻ cùng quý vị cũng như đến những ai có tâm mong cầu Pháp bảo.
Sau đây là những câu Paritta chúc phúc Sư xin gửi đến quý vị:
Mong phước báu đến với người
Mong Chư thiên che chở người
Do Oai lực của chư Phật
Mong Hạnh phúc đến cùng người.
Mong phước báu đến với người
Mong Chư thiên che chở người
Do Oai lực của Pháp bảo
Mong Hạnh phúc đến cùng người.
Mong phước báu đến với người
Mong các Chư thiên che chở người
Do Oai lực của chư Thánh Tăng
Mong Hạnh phúc đến cùng người.
Mong quý vị được sức khỏe, hạnh phúc và an lành.
Mong quý vị chứng đạt được Niết Bàn trong thời gian ngắn ngủi nhất.
SADHU! SADHU! SADHU!

Dịch Việt: TNDT - Hiệu đính: NK & BA

-oOo-

Ðạo và Quả - Ni sư Ayya Khema

Yếu tố phân biệt một thánh nhân với phàm nhân là sự đoạn diệt ba kiết sử đầu tiên đã trói buộc ta vào luân hồi miên viễn. Ba kiết sử nầy là: thân kiến, hoài nghi, và giới cấm thủ (sakkayaditthi, vicikiccha, silabbatta paramasa). Người nào chưa phải là bậc Dự lưu thì người ấy vẫn còn bị trói buộc vào ba loại tà kiến và hành động sai lầm vốn đem ta xa rời sự tự do và đưa ta vào trói buộc.
(Bình Anson lược dịch)

Ðạo và Quả

Path and Fruit

Tham vọng dường như là một hiện tượng tự nhiên của con người. Có người muốn giàu, có quyền thế hoặc danh vọng. Có người muốn có nhiều kiến thức, có bằng cấp. Có người chỉ muốn có một tổ ấm nhỏ và từ đó họ có thể ngắm nhìn quang cảnh giống nhau mỗi ngày. Có người muốn tìm một người tình lý tưởng, hoặc càng gần lý tưởng càng tốt. To have an ambition seems to be a natural phenomenon in the human make-up. Some people want to be rich, powerful or famous. Some want to be very knowledgeable, to get degrees. Some just want to find a little niche for themselves where they can look out of the window and see the same scenery every day. Some want to find a perfect partner, or as near perfect as possible.
Ngay khi chúng ta không sống trong thế gian, chỉ sống trong ni viện, chúng ta cũng có nhiều tham vọng: muốn trở thành thiền giả thượng hạng, muốn có an định toàn hảo, muốn cách sống nầy tạo ra kết quả tốt. Lúc nào cũng có một điều gì đó để ta hy vọng.Tại sao thế? Bởi vì đó là điều sẽ xảy ra trong tương lai, không bao giờ có trong hiện tại. Even when we are not living in the world, but in a nunnery, we have ambitions: to become excellent meditators, to be perfectly peaceful, that this life-style should yield results. There's always something to hope for. Why is that? Because it's in the future, never in the present.
Thay vì chú tâm vào hiện tại, ta lại cầu mong điều tốt đẹp hơn sẽ đến, có lẽ trong ngày mai. Thế nhưng khi ngày mai đến, ta lại mong đến ngày kế, vì nó cũng chưa đủ toàn hảo. Nếu ta thay đổi thói quen trong tư duy của mình và chú tâm vào cái đang hiện hữu, chừng đó ta sẽ tìm được một điều gì đó làm ta hài lòng. Nhưng khi ta chỉ tìm kiếm những gì chưa hiện hữu, mong rằng có thể toàn hão hơn, kỳ diệu hơn, thỏa mãn hơn, ta sẽ không thể tìm được gì cả, bởi vì ta chỉ tìm kiếm cái mà nó không hiện diện ở đó. Instead of being attentive to what is now, we are hoping for something better to come, maybe tomorrow. Then, when tomorrow arrives, it has to be the next day again, because it still wasn't perfect enough. If we were to change this pattern in our thinking habits and rather become attentive to what is, then we would find something to satisfy us. But when we are looking at that which doesn't exist yet, more perfect, more wonderful, more satisfying, then we can't find anything at all, because we are looking for that which isn't there.
Ðức Phật nói về hai hạng người, người tầm thường (phàm nhân, puthujjana) và người cao sang (thánh nhân, ariya). Dĩ nhiên ai cũng mong ước trở thành thánh nhân, nhưng nếu chúng ta chỉ mong cầu điều đó trong một tương lai nào đó, ta sẽ không đạt được. Sự khác biệt giữa một thánh nhân và phàm nhân là sự thực chứng về "đạo và quả" (magga-phala). Giây khắc đầu tiên khi tâm thức đạt đến trạng thái siêu thế này được gọi là Dự-lưu (sotapatti) và người chứng nghiệm điều đó gọi là Dự-lưu nhân (sotapanna), người nhập dòng suối đưa đến Niết-bàn. The Buddha spoke about two kinds of people, the ordinary worldling ("puthujjana") and the noble person ("ariya"). Obviously it is a worthwhile ambition to become a noble person, but if we keep looking for it at some future time, then it will escape us. The difference between a noble one and a worldling is the experience of "path and fruit" ("magga-phala"). The first moment of this supermundane consciousness is termed Stream-entry ("sotapatti") and the person who experiences it is a Stream-winner ("sotapanna").
Nếu ta đem điều đó vào lòng như là một mục tiêu cho tương lai, điều đó sẽ không xảy ra, bởi vì ta không đem hết năng lực và sức mạnh để chú niệm từng giây khắc. Chỉ khi nào tâm chú niệm vào từng giây khắc thì chập tâm Ðạo (sát-na tâm Ðạo) giải thoát mới có thể xảy ra. If we put that into our mind as a goal in the future, it will not come about, because we are not using all our energy and strength to recognize each moment. Only in the recognition of each moment can a path moment occur.
Yếu tố phân biệt một thánh nhân với phàm nhân là sự đoạn diệt ba kiết sử đầu tiên đã trói buộc ta vào luân hồi miên viễn. Ba kiết sử nầy là: thân kiến, hoài nghi, và giới cấm thủ (sakkayaditthi, vicikiccha, silabbatta paramasa). Người nào chưa phải là bậc Dự lưu thì người ấy vẫn còn bị trói buộc vào ba loại tà kiến và hành động sai lầm vốn đem ta xa rời sự tự do và đưa ta vào trói buộc. The distinguishing factor between a worldling and a noble one is the elimination of the first three fetters binding us to continuous existence. These three, obstructing the worldling, are: wrong view of self, sceptical doubt and belief in rites and rituals, ("sakkayaditthi", "vicikiccha" and "silabbatta-paramasa"). Anyone who is not a Stream-winner is chained to these three wrong beliefs and reactions that lead away from freedom into bondage.
Hãy thử nhìn vào sợi dây "hoài nghi" trước. Ðó là ý tưởng vụn vặt lúc nào cũng ám ảnh trong đầu óc: "Chắc là có một pháp tu khác, dễ dàng hơn", hoặc "Tôi biết chắc là tôi có thể tìm được an lạc ở một nơi nào đó trong thế gian rộng lớn nầy". Khi nào vẫn còn sự nghi ngờ về con đường giải thoát khỏi thế gian và vẫn còn sự tin tưởng rằng những điều toại ý có thể tìm ra được trong thế gian, khi đó sẽ không có cơ hội để đắc quả thánh, bởi vì ta đang nhìn lầm hướng. Trong thế gian nầy với con người và vật chất, thú vật và sự chiếm hữu, quang cảnh và các tiếp chạm qua giác quan, không còn có một cái gì khác ngoài những gì chúng ta đã từng quen biết. Nếu còn có gì khác, tại sao chúng lại không được xác nhận, tại sao ta đã không tìm ra? Ðiều nầy thật hiển nhiên. Thế nhưng tại sao ta lại phải tìm kiếm chúng? Let's take a look at sceptical doubt first. It's that niggling thought in the back of the mind: "There must be an easier way," or "I'm sure I can find happiness somewhere in this wide world." As long as there's doubt that the path of liberation leads out of the world, and the belief is there that satisfaction can be found within the world, there is no chance of noble attainment, because one is looking in the wrong direction. Within this world with its people and things, animals and possessions, scenery and sense contacts, there is nothing to be found other than that which we already know. If there were more, why isn't it easily discernible, why haven't we found it? It should be quite plain to see. What are we looking for then?
Dĩ nhiên là chúng ta đang tìm kiếm hạnh phúc và an bình, cũng như những người khác. Hoài nghi, anh chàng báo động, bảo: "Tôi chắc là nếu tôi thử tu tập một cách thông minh hơn là phương cách vừa qua, tôi sẽ được hạnh phúc. Còn có vài điều nữa mà tôi chưa thử qua." Có thể ta chưa tự mình lái chiếc máy bay của riêng mình, chưa thử sống trong hang động Hy mã lạp sơn, chưa từng dùng thuyền chu du thế giới, chưa từng viết một quyển tiểu thuyết bán chạy nhất. Tất cả các điều nầy thật là huy hoàng để thực hiện trong cõi đời, nhưng chúng chỉ là những phí phạm thì giờ và năng lực. Obviously we are looking for happiness and peace, just like everyone else is doing. Sceptical doubt, that alarmist, says: "I'm sure if I just handled it a little cleverer than I did last time I'll be happy. There are a few things I haven't tried yet." Maybe we haven't flown our own plane yet, or lived in a cave in the Himalayas or sailed around the world, or written that best-selling novel. All of these are splendid things to do in the world except they are a waste of time and energy.
Hoài nghi hiện rõ ra khi ta không biết chắc là trong bước kế tiếp, ta sẽ phải làm gì. "Khi tôi đến đó, tôi sẽ phải làm gì?" Ta chưa định hướng được. Hoài nghi là một kiết sử trong tâm khi chưa có được một sự minh bạch rõ ràng vốn bắt nguồn từ sát-na tâm nhập Ðạo. Tâm thức khởi sinh ngay trong giây khắc đó sẽ hủy diệt mọi hoài nghi bởi vì lúc đó, ta tự thực chứng được con đường. Cũng như khi ta cắn quả xoài, ta biết được ngay cái vị của nó. Sceptical doubt makes itself felt when one isn't quite sure what one's next move should be. "Where am I going, what am I to do?" One hasn't found a direction yet. Sceptical doubt is the fetter in the mind when the clarity which comes from a path moment is absent. The consciousness arising at that time removes all doubt, because one has experienced the proof oneself. When we bite into the mango, we know its taste.
Nhận thức sai lầm về tự ngã là một kiết sử gây nhiều tổn hại nhất và vây hãm phàm nhân. Nó chứa đựng ý tưởng chôn sâu trong tâm về "đây là tôi". Có thể cái ngã đó không phải là cái thân "của tôi", nhưng có "một người nào đó" đang hành thiền. Cái "một người nào đó" nầy đang muốn giác ngộ, muốn đắc quả Dự-lưu, muốn được hạnh phúc. Tà kiến về tự ngã nầy là nguyên nhân của mọi vấn đề đang khởi sinh. The wrong view of self is the most damaging fetter that besets the ordinary person. It contains the deeply imbedded "this is me" notion. Maybe it's not even "my" body, but there is "someone" who is meditating. This "someone" wants to get enlightened, wants to become a Stream-winner, wants to be happy. This wrong view of self is the cause of all problems that could possibly arise.
Chừng nào vẫn còn có ý tưởng có "một người nào đó", ta vẫn còn nhiều vấn đề. Nếu ở đó không có một người nào cả, thì ai đang gặp khó khăn đây? Tà kiến về tự ngã là gốc rễ tạo ra sự đau đớn, buồn rầu và than thở. Kèm theo với nó là sự sợ hãi và lo lắng: "Không biết tôi sẽ an toàn, hạnh phúc, thanh bình, tìm được các tôi đang tìm kiếm, đạt được điều tôi mong muốn như là an lạc, giàu có và khôn ngoan không?" Những nỗi lo lắng và sợ hãi nầy được hỗ trợ bằng các kinh nghiệm cá nhân trong quá khứ. Trong quá khứ, ta đã không bao giờ khỏe mạnh, giàu có và khôn ngoan, đã không thể đạt được điều mong muốn, đã không có cảm giác kỳ diệu. Do đó, đây là lý do mạnh mẽ để ta lo lắng và sợ sệt, chừng nào vẫn còn các tư tưởng sai lầm về tự ngã bao trùm. As long as there's "somebody" there, that person can have problems. When there's nobody there, who could have difficulties? Wrong view of self is the root which generates all subsequent pain, grief and lamentation. With it also come the fears and worries: "Am I going to be alright, happy, peaceful, find what I am looking for, get what I want, be healthy, wealthy and wise?" These worries and fears are well substantiated from one's own past. One hasn't always been healthy, wealthy and wise, nor gotten what one wanted, nor felt wonderful. So there's very good reason to be worried and fearful as long as wrong view of self prevails.
Lễ nghi và cúng tế tự chúng không phải gây nhiều điều hại, chỉ khi nào ta tin tưởng đó là một phần của con đường đến Niết Bàn thì mới có hại. Chúng không cần phải có tính tôn giáo, dù rằng ta thường nghĩ như thế. Những hành động như dâng hương hoa trên bàn thờ, quỳ lạy hoặc tham gia vào các cuộc lễ có thể tích tụ phước báo để tái sinh vào các cõi trời. Sự thành tín, kính trọng và biết ơn đối với Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) mới là điều quan trọng. Nhưng ngay cả lòng tin nầy cũng không chỉ giới hạn vào các hoạt động tôn giáo. Mọi người đều sống với lễ nghi và cúng tế, cho dù có khi ta không ý thức về chúng. Trong sự tương giao của con người, có những cách thức qui định để giao tiếp với cha mẹ, con cái, vợ chồng. Ta phải xử sự thế nào trong công việc, với bạn bè, với người lạ, ta mong người khác đối đãi như thế nào, tất cả những điều nầy đều liên kết với những định kiến về sự đúng đắn và thích hợp trong một văn hoá và truyền thống nào đó. Không một điều nào có hàm chứa chân lý, bởi vì chúng chỉ là do tâm tạo ra. Ta càng có nhiều ý kiến, ta càng xa rời thực tế. Ta càng tin tưởng vào chúng, ta càng khó gở bỏ chúng. Khi ta tưởng ta là một loại người nào đó, ta sẽ có giao tiếp như thế trong mọi tình huống. Ðiều này xảy ra chẳng những trong phương cách ta chưng hoa trên bàn thờ mà ngay cả trong cách ta thù tiếp người khác, nếu ta làm theo một nghi lễ tiên định nào đó và không theo cách mà tâm rộng mở của ta sai khiến ta. Rites and rituals in themselves are not harmful, only believing them to be part of the path to "Nibbana" is detrimental. They need not even be religious, although we usually think of them like that. Such as offering flowers and incense on a shrine, prostrating or celebrating certain festivals and believing that this will accumulate enough merit to go to the "Deva" realms. It's devotion, respect and gratitude to the Triple Gem, ["Buddha, Dhamma, Sangha"] which count. But this belief is not only confined to religious activities. Everybody lives with rites and rituals, even though we may not be aware of them. In human relationships there are certain prescribed ways of acting in respect to one's parents, one's children, one's partners. How one relates in one's job, to friends and strangers, how one wants to be confirmed by others, all is connected to preconceived ideas of what is right and proper in a certain culture and tradition. None of it has any basic truth in it, all is mind- made. The more ideas one has, the less one can see reality. The more one believes in them the harder it is to abandon them. As one imagines oneself to be a certain kind of person, one relates in that way in all situations. It doesn't have to be how we put flowers on a shrine, it can also be how we greet people, if we do it according to a certain stereotyped ritual and not the way an open heart and mind may dictate.
Ba kiết sử trên sẽ bị tiêu trừ khi chập Ðạo và chập Quả được thực chứng. Lúc đó sẽ có một sự thay đổi rõ ràng trong người đó, dĩ nhiên không thể nào thấy được qua hình dạng bên ngoài. Nhưng sự thay đổi nội tâm trước tiên là kinh nghiệm thực chứng đó sẽ làm tiêu tan tuyệt đối các hoài nghi về điều cần phải làm trong đời sống. Biến cố nầy hoàn toàn khác hẳn những gì đã biết từ trước, cho đến nỗi, người ấy sẽ thấy những gì đã tạo ra đời sống của mình, từ trước cho đến nay, đều vô nghĩa. Không có việc gì trong quá khứ là quan trọng nữa. Ðiều quan trọng duy nhất là tiến hành với công phu tu tập để làm tăng trưởng sự chứng nghiệm nầy từ trong chập tâm Ðạo đầu tiên, để tái nghiệm và thiết lập vững chắc trong người ấy. These three obstructions fall away when a path and fruit moment has been experienced. There's a marked change in such a person, which is -- of course -- not externally visible. But the inner change is firstly that the experience leaves absolutely no doubt what has to be done in this life. The event is totally different from anything previously known, so much so, that it makes one's former life, up to that point, immaterial. Nothing can be found in the past which has fundamental importance. The only significance lies in going ahead with the practice so that this minimal experience of the first path moment can be fortified, resurrected and firmly established in oneself.
Các chập tâm Ðạo và Quả sẽ lại xảy ra cho những vị Nhất-lai (sakadagami), Bất-lai (anagami) và Giác-ngộ (arahant, a-la-hán). Mỗi lần như thế, chúng chẳng những sâu đậm hơn mà còn kéo dài hơn. Ta có thể so sánh với các kỳ thi trong trường đại học. Nếu ta chọn một chương trình bốn năm để lấy bằng cấp, mỗi năm ta phải dự kỳ thi cuối năm. Ta phải trả lời các câu hỏi trong mỗi kỳ thi, dựa theo kiến thức ta đã thu hoạch được. Các câu hỏi trở nên sâu sắc hơn, khó khăn hơn trong các kỳ khảo hạch kế tiếp. Trong khi chúng chỉ liên quan đến cùng một chủ đề, chúng đòi hỏi phải có kiến thức sâu rộng hơn. Cho đến khi ta tốt nghiệp và không cần phải trở lại trường đại học nữa. Sự phát triển tâm trí của chúng ta cũng như thế. Mỗi một chập tâm Ðạo là dựa theo chập tâm trước và có liên quan đến cùng một chủ đề, nhưng nó đi sâu hơn. Cho đến khi ta vượt qua kỳ khảo hạch cuối cùng và không cần phải trở lại nữa. The path and fruit moments recur for the Once-returner ("sakadagami"), the Non-returner ("anagami") and the Enlightened One ("Arahant"). Each time they are not only deepened, but can be lengthened. One could compare this to having examinations at the university. If one is going through four years of university study to get a certain degree, one has to pass examinations at the end of each year. One has to answer questions each time, based on one's previously absorbed knowledge. But the questions become deeper, more profound and more difficult with each subsequent examination. While they are always concerned with the same subject, they require more depth and profundity of understanding each time. Until one finally graduates and doesn't have to return to university. It's the same with our spiritual development. Each path moment is based on the previous one and is concerned with the same subject, yet it goes deeper and further. Until one passes one's final test and need not return again.
Chập tâm Ðạo không có tư tưởng hay cảm thọ trong đó. Nó không thể so sánh với các tầng thiền-na (jhana). Mặc dù nó dựa vào các tầng thiền vì chỉ có tâm định mạnh mẽ mới có thể đi vào chập tâm Ðạo, nó không có những tính chất như trong các tầng thiền -- trong các bước đầu -- như là hỷ, lạc, và an bình. Lúc sau, tâm chứng nghiệm một sự bành trướng, vô sở hữu và một thay đổi về nhận thức. Chập tâm Ðạo không bao hàm các trạng thái tâm nầy. The path moment doesn't have any thinking or feeling in it. It is not comparable to the meditative absorptions ("jhana"). Although it is based upon them because only the concentrated mind can enter into a path moment, it does not have the same qualities. the meditative absorptions have -- in their initial stages -- the ingredients of rapture, happiness and peacefulness. Later on, the mind experiences expansion, nothingness and a change of perception. The path moment does not contain any of these states of mind.
Nó có tính không sinh hữu. Ðây là một sự nhẹ nhõm và thay đổi quan kiến về thế gian, hoàn toàn đến đổi mà giờ đây người ấy hiểu được tại sao Ðức Phật đã dạy về một sự phân biệt rõ ràng giữa một phàm nhân và Thánh nhân. Trong khi các tầng thiền-na đem đến cảm giác nhất như, nhất thể, tâm Ðạo không có cảm giác đó. Chập tâm Quả, tiếp theo chập tâm Ðạo, là một chứng nghiệm đã thông hiểu và tạo ra một cái nhìn hoàn toàn mới lạ về sự hiện hữu. It has a quality of non-being. This is such a relief and changes one's world view so totally that it is quite understandable that the Buddha made such a distinction between a worldling and a Noble One. While the meditative absorptions bring with them a feeling of oneness, of unity, the path moment does not even contain that. The moment of fruition, subsequent to the path moment, is the understood experience and results in a turned-around vision of existence.
Sự hiểu biết mới nầy nhận thức được rằng mỗi ý tưởng, mỗi cảm thọ đều là khổ (dukkha). Ngay chính ý tưởng cao sang nhất, cao thượng nhất cũng có tính chất đó. Chỉ khi nào không có gì cả, mới không có khổ. Không có cái gì, bên trong lẫn bên ngoài, hàm chứa tính chất toại ý hoàn toàn. Bởi vì có một nhận thức rõ ràng như thế, lòng ham muốn về bất cứ điều gì được loại bỏ. Mọi việc được nhìn theo bản thể chân thật của chúng, và không có gì có thể mang lại hạnh phúc như là những gì khởi sinh qua sự tu tập Ðạo và kết quả của nó. The new understanding recognizes every thought, every feeling as stress ("dukkha"). The most elevated thought, the most sublime feeling still has this quality. Only when there is nothing, is there no stress. There is nothing internal or external that contains the quality of total satisfactoriness. Because of such an inner vision, the passion for wanting anything is discarded. All has been seen for what it really is and nothing can give the happiness that arises through the practice of the path and its results.
Yếu tố Niết-bàn không thể diễn tả thật sự như là hoan lạc, vì hoan lạc mang hàm ý có phấn khởi. Ta dùng chữ "hoan lạc" cho tầng thiền-na, bởi trong đó còn có một sự thích thú. Yếu tố Niết-bàn không công nhận hoan lạc vì tất cả những gì khởi sinh đều xem là khổ. "Sự hoan lạc của Niết-bàn" có thể làm cho ta có cảm tưởng rằng ta có thể tìm thấy hạnh phúc tuyệt đối, thật ra là điều ngược lại. Ta thấy ở đó không có gì cả và vì thế, không còn điều bất hạnh nữa, chỉ có an bình. The "Nibbanic" element cannot be truly described as bliss, because bliss has a connotation of exhilaration. We use the word "bliss" for the meditative absorption, where it includes a sense of excitement. The "Nibbanic" element does not recognize bliss because all that arises is seen as stress. "The bliss of "Nibanna"" may give one the impression that one may find perfect happiness, but the opposite is true. One finds that there is nothing and therefore no more unhappiness, only peace.
Nếu chỉ mong tìm kiếm Ðạo và Quả sẽ không đem chúng đến ta, bởi vì chỉ có sự tỉnh giác từng thời khắc mới có thể làm được điều đó. Sự chú niệm này dần dần sẽ giúp tạo một tâm định thật sự, trong đó ta có thể xả bỏ mọi tư tưởng và hoàn toàn hòa nhập vào đề mục. Lúc đó, ta có thể bỏ đề mục hành thiền. Ta không cần phải đẩy nó ra, nó sẽ rớt đi theo cách riêng của nó, và sự an định trong giác niệm sẽ xảy đến. Nếu cần phải có một tham vọng nào trong đời sống, thì đây là một tham vọng duy nhất có giá trị. Các loại khác không mang đến thành đạt trọn vẹn. To look for path and fruit will not bring them about, because only moment to moment awareness can do so. This awareness will eventually culminate in real concentration where one can let go of thinking and be totally absorbed. We can drop the meditation subject at that time. We need not push it aside, it falls away of its own accord, and absorption in awareness occurs. If there has to be an ambition in one's life, this is the only worthwhile one. All others will not bring fulfilment.
Ta cũng không cần phải tự ép buộc xả bỏ hoài nghi. Còn gì phải hoài nghi khi ta đã chứng nghiệm Chân lý? Nếu ta tự đánh mình bằng một cây búa, ta cảm thấy đau đớn mà không thể nghi ngờ chi cả. Ta biết rõ như thế qua kinh nghiệm tự thân. One doesn't have to force oneself to give up sceptical doubt. What is there to doubt when one has experienced the truth? If one hits oneself with a hammer, one feels pain and cannot doubt it. One knows from one's own experience.
Chấp thủ vào lễ nghi và giới cấm sẽ kết liễu thú vị bởi vì khi ta đã chứng nghiệm được tâm Ðạo thì không còn trường hợp nào ta cần phải đóng tuồng nữa. Mọi vai trò chỉ là những cấu tử của hư ngụy. Ta có thể sẽ tiếp tục các lễ nghi vì chúng hàm chứa những phần kính trọng, biết ơn và thành tín. Nhưng không còn có các lễ nghi để ứng xử với người khác, với tình huống, và cũng không còn phải tạo dựng các câu chuyện về tự ngã, bởi vì các phản ứng của ta lúc đó là hoát nhiên với tâm rộng mở. Rites and rituals are brought to an interesting end because the person who has experienced a path moment will under no circumstance indulge in any role-playing. All roles are the ingredients of unreality. One may continue religious rites, because they contain aspects of respect, gratitude and devotion. But there will not be any rituals in how to relate to people or to situations or how to invent stories about oneself because the response is with a spontaneous open heart.
Xả bỏ tư tưởng sai lầm về tự ngã dĩ nhiên là một thay đổi sâu xa nhất, tạo ra tất cả các thay đổi khác. Ðối với vị Dự-lưu, tà kiến về tự ngã không còn khởi sinh qua lý luận nữa, nhưng vẫn còn các cảm xúc về nó, vì chập tâm Ðạo xảy ra và biến đi rất nhanh. Nó chưa tạo một tác động tuyệt đối. Nếu nó làm được như vậy thì đã tạo ra quả Giác ngộ. Có những người có thể đắc nhanh như thế, như đã ghi trong kinh điển thời Phật còn tại thế. Cả bốn quả thánh có thể được chứng đắc ngay trong khi lắng nghe Pháp của Ngài. Letting go of the wrong view of self is -- of course -- the most profound change, causing all other changes. For the Stream-winner the wrong view of self can never intellectually arise again, but feeling-wise it can, because the path moment has been so fleeting. It hasn't made the complete impact yet. If it had done so, it would have resulted in Enlightenment. This is possible and is mentioned in the Buddha's discourses as having happened during his lifetime. All four stages of holiness were realized while listening to the Dhamma.
Chập tâm Quả đầu tiên cần phải được tái sinh, đó cần phải tái lập nó nhiều lần, cho đến khi chập tâm Ðạo thứ hai khới sinh. Cũng như thể lập lại những gì mình đã biết để khỏi quên, và từ đó tạo dựng thêm cái khác. The initial fruit moment needs to be re-lived, one has to resurrect it over and over again, until the second path moment can arise. It's like repeating what one knows and not forgetting so that one can build upon it.
Ðiều cần thiết là ta phải luôn tự nhắc nhở trong mỗi thời khắc thức tỉnh rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô thường và không có bản thể thường tồn, thay đổi từng chập. Cho dù ta có một trực kiến về vô ngã (anatta) hay chỉ có kiến thức về điều đó, trong trường hợp nào ta cũng phải đem điều đó vào trong tâm và sống với nó càng nhiều càng tốt. Khi ta tiếp tục làm như thế, các vấn đề thông thường sẽ khởi sinh ít đi. Nếu ta giác niệm về tính vô thường của mọi hiện hữu, các nỗi khó khăn của ta dường như không còn quan trọng nữa và quan kiến về tự ngã sẽ từ từ thay đổi. It is very useful to remind oneself in all waking moments that body, feeling, perception, mental formations and consciousness are all impermanent and have no core substance, changing from moment to moment. Whether one has had a direct vision of non-self ("anatta") or just an understanding of it, either way one has to bring it back into one's mind and re-live it as often as possible. As we continue to do this, ordinary problems arise less and less. If we remain aware of the impermanence of all that exists, our difficulties seem far less important and the view of self subtly changes.
Quan kiến ta có về chính ta là kẻ thù độc hại nhất của ta. Mỗi người tạo ra một cá tính, một mặt nạ để mang, và ta không muốn thấy những gì phía sau mặt nạ đó. Ta cũng không cho phép người thấy những điều đó. Sau khi đắc tâm Ðạo, sự che dấu đó không còn nữa. Cái mặt nạ, sự sợ hãi và xua đuổi hiện ra rõ ràng. Ðể đối trị hữu hiệu, ta phải luôn nhớ rằng thật ra không có ai ở đó, chỉ có các hiện tượng mà thôi. Cho dù cái nhìn trong tâm vẫn chưa ổn cố đủ để chứng minh điều đó, sự xác định như thế giúp tháo lỏng các bám thủ, chấp dính và làm ta chấp thủ ít chặt chẻ hơn. The view we have of ourselves is our worst enemy. Everyone has made up a persona, a mask that one wears and we don't want to see what's behind it. We don't allow anyone else to look either. After having had a path moment, that is no longer possible. But the mask, fear and rejection come to the fore. The best antidote is to remember again and again, that there's really nobody there, only phenomena, nothing more. Even though the inner vision may not be concrete enough to substantiate such a claim, the affirmation helps to loosen the grasping and clinging and to hang on a little less tightly.
Ðịnh hướng của sự tu tập chắc chắn là hướng về quả Dự-lưu. Tuy nhiên, không có gì để chứng đắc, mà tất cả cần phải được xả bỏ. Nếu không làm như thế, chập tâm Ðạo sẽ không xảy ra, và ta tiếp tục sống như trước: bị khổ não hành hạ và ràng buộc, trãi qua các sự khen chê, được mất, sang hèn, vui buồn. Các vấn đề thông thường -- tạo ra bởi cái "ngã" -- sẽ lại sinh ra, rồi cứ thế sinh ra mãi. Sự thay đổi thật sự chỉ đến khi nào có được một thay đổi rốt ráo về phương thức ta nhìn về ta. Nếu không, các khó khăn vẫn tồn tại như cũ vì đó là do một người như xưa tạo ra chúng. The direction of the practice is certainly towards Stream-entry. However, there is nothing to get, there's everything to give up. Unless that is done, the moment cannot happen, and we will continue to live in the same way we always have. Beset by "dukkha" obstructed by "dukkha", subject to praise and blame, loss and gain, fame and ill-fame, happiness and unhappiness. The usual problems -- all caused by "self" -- will arise again and again. The real change comes when there is a decisive alteration in the way we view ourselves, otherwise the difficulties remain the same because the same identical person is generating them.
Có chánh niệm trong và ngoài lúc hành thiền là phương cách tu tập để mang lại kết quả. Có nghĩa là giờ nào làm việc ấy, chú ý qua thân và trong tâm. Khi nghe Pháp, chỉ chuyên tâm nghe. Khi ngồi thiền, chỉ chú tâm vào đề mục hành thiền. Khi trồng cây, chỉ biết trồng cây. Không kiểu cách, không phán đoán. Ðó là để cho tâm ý được quen dần trong sự sống từng giây khắc. Làm như thế thì chập tâm Ðạo mới xảy ra. Không phải ở một tương lai xa xôi, mà có thể xảy ra ngay trong lúc nầy và tại nơi đây. Không có lý do gì mà một thiền sinh có đủ trí khôn, khỏe mạnh và quyết tâm, lại không thể đạt được điều đó với lòng kiên nhẫn và trì chí. Being mindfully aware in and out of meditation is the practice which will bring results. It means doing one thing at a time, attentive to mind and body. When listening to Dhamma, only listen. When sitting in meditation, only attending to the meditation subject. When planting a tree, only planting. No frills, no judgements. That habituates the mind to be in each moment. Only in such a way can a path moment occur. It's not in the distant future, it's possible here and now. There's no reason why an intelligent, healthy, committed person should not be able to attain it with patience and perseverance.
Chúng ta đã nghe về sự chán chường và lạnh nhạt là những bước trên đường đến giải thoát và tự do. Chúng không thể có ý nghĩa và tác động nếu không có một quan kiến về một thực tế hoàn toàn khác biệt, một thực tế không nằm trong sự đa dạng của thế gian. Khi ta ngồi thiền mà bắt đầu suy luận, đó là cám dỗ cửa sự đa dạng hóa và bành trướng, phóng tâm (papanca). Yếu tố Niết-bàn là một, không đa dạng. Ta có thể nói nó không hàm chứa những gì ta biết. Cho đến khi thấy được như thế, thế gian tiếp tục đặt tên cho nó, nhưng ta không cần phải tin như thế. Ðó là một công tác khó khăn. Ta phải tự cảnh giác luôn, nếu không sẽ bị cám dỗ lôi cuốn. Ta không nên ngạc nhiên khi ta không tìm thấy hạnh phúc; sự đa đoan, đa dạng không thể tạo hạnh phúc, chỉ tạo vọng mống. We have heard about disenchantment and dispassion as steps on the path to liberation and freedom. They cannot have meaning and impact unless there is a vision of a totally different reality, one which does not contain the world's manifoldness. When one sits in meditation and starts thinking, that's the temptation of diversification and expansion ("papanca"). The "Nibbana" element is one, not manifold. One could say that it's empty of all that we know. Until that is seen, the world will keep calling, but we need not believe it all. It is a difficult task. So one has to remind oneself often, otherwise one gets caught by temptation. One should not be surprised when one doesn't find happiness; manifoldness, diversification cannot create happiness, only distraction.
Chắc chắn là ta có thể chứng nghiệm khoái lạc qua các giác quan. Ta sẽ được nhiều dịp như thế nếu ta tạo nghiệp lành. Thức ăn ngon, phong cảnh đẹp, đối tác dễ thương, âm nhạc du dương, sách hay, nhà cửa thoải mái, không có tật bệnh khó chịu. Nhưng những điều nầy có đem lại một hạnh phúc toàn bích không? Nó đã không xảy ra trong quá khứ, tại sao nó sẽ phải xảy ra trong tương lai? Ðạo và Quả mang lại hạnh phúc vì chúng không hàm chứa hiện tượng. Tánh Không không thay đổi, không trở nên khó chịu mà cũng không thiếu vắng sự bình an, vì không có gì để chao động nó. Certainly one can experience pleasure from the senses. If one has good karma there will be many occasions. Good food, beautiful scenery, pleasant people, good music, interesting books, a comfortable home, not too much physical discomfort. But do these bring fulfilment? Since it didn't happen in the past, why should it occur in the future? Path and fruit bring fulfilment because they are empty of phenomena. Emptiness does not change nor does it become unpleasant and it cannot lack peace, since there is nothing to disturb it.
Khi người ta nghe hoặc đọc về "Niết-bàn", người ta nói ngay là: "Làm thế nào mà tôi có thể không mong muốn gì cả?" Khi ta đã thấy mọi thứ ta muốn chỉ là để trám đầy sự trống rỗng bên trong và đều bất toại ý, lúc đó là lúc ta không muốn gì cả. Ðiều nầy vượt qua sự "không mong cầu" vì giờ đây ta chấp nhận rằng trong thực tế không có gì đáng để sở hữu. Không mong muốn điều gì sẽ giúp ta có thể thực chứng được rằng thật ra không có gì cả -- chỉ có một sự yên lặng và an bình. When people hear or read about "Nibbana", they are apt to say: "How can I want nothing?" When one has seen that everything one can possibly want is meant to fill an inner void and dissatisfaction, then the time has come to want nothing. This goes beyond "not wanting" because one now accepts the reality that there is nothing worthwhile to be had. Not wanting anything will make it possible to experience that there is actually nothing -- only peace and quiet.
Bình Anson lược dịch
tháng 5, 1999
Ayya Khema
(taken from "All of us", 1987)

Bát Chánh Ðạo Tương Ưng Bộ, SN XLV.8

Trong bài kinh này Ðức Phật giảng về các yếu tố của Con Ðường Tám Chánh đưa đến giác ngộ.


SN XLV.8

Phân tích

Nhân duyên ở Sàvatthi.
-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng và phân tích Thánh đạo Tám ngành này. Hãy lắng nghe và khéo tác ý. Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường Thánh đạo Tám ngành? Tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tri kiến? Này các Tỷ-kheo, chính là trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tri kiến.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy? Này các Tỷ-kheo, chính là xuất ly tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tư duy.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh ngữ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ phi Phạm hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh nghiệp.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh mạng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đoạn trừ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh mạng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tinh tấn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có lu mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tinh tấn.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh niệm.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh định? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh, nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh định.
SN XLV.8

Analysis

Setting at Savatthi.
"Bhikkhus, I will teach you the noble eightfold path and I will analyse it for you. Listen to that and attend carefully, I will speak."
"Yes, venerable sir," those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
"And what, bhikkhus, is the noble eightfold path? Right view, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right concentration.
"And what, bhikkhus, is right view? Knowledge of suffering, knowledge of the origin of suffering, knowledge of the cessation of suffering, knowledge of the way leading to the cessation of suffering: this is called right view.
"And what, bhikkhus, is right intention? Intention of renunciation, intention of non-ill will, intention of harmlessness: this is called right intention.
"And what, bhikkhus, is right speech? Abstinence from false speech, abstinence from divisive speech, abstinence from harsh speech, abstinence from idle chatter: this is called right speech.
"And what, bhikkhus, is right action? Abstinence from the destruction of life, abstinence from taking what is not given, abstinence from sexual misconduct: this is called right action.
"And what, bhikkhus, is right livelihood? Here a noble disciple, having abandoned a wrong mode of livelihood, earns his living by a right livelihood: this is called right livelihood.
"And what, bhikkhus, is right effort? Here, bhikkhus, a bhikkhu generates desire for the non-arising of unarisen evil unwholesome states; he makes an effort, arouses energy, applies his mind, and strives. He generates desire for the abandoning of arisen evil unwholesome states.... He generates desire for the arising of unarisen wholesome states.... He generates desire for the maintenance of arisen wholesome states, for their non-decline, increase, expansion, and fulfilment by development; he makes an effort, arouses energy, applies his mind, and strives. This is called right effort.
"And what, bhikkhus is right mindfulness? Here, bhikkhus, a bhikkhu dwells contemplating the body in the body, ardent, clearly comprehending, mindful, having put away covetousness and displeasure in regard to the world. He dwells contemplating feelings in feelings, ardent, clearly comprehending, mindful, having put away covetousness and displeasure in regard to the world. He dwells contemplating mind in mind, ardent, clearly comprehending, mindful, having put away covetousness and displeasure in regard to the world. He dwells contemplating mental phenomena in mental phenomena, ardent, clearly comprehending, mindful, having put away covetousness and displeasure in regard to the world. This is called right mindfulness.
"And what, bhikkhus, is right concentration? Here, bhikkhus, secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, a bhikkhu enters and dwells in the first jhana, which is accompanied by thought and examination, with rapture and happiness born of seclusion. With the subsiding of thought and examination, he enters and dwells in the second jhana, which has internal confidence and unification of mind, is without thought and examination, and has rapture and happiness born of concentration. With the fading away as well of rapture, he dwells equanimous and, mindful and clearly comprehending, he experiences happiness with the body; he enters and dwells in the third jhana of which the noble ones declare: 'He is equanimous, mindful, one who dwells happily.' With the abandoning of pleasure and pain, and with the previous passing away of joy and displeasure, he enters and dwells in the fourth jhana, which is neither painful nor pleasant and includes the purification of mindfulness by equanimity. This is called right concentration."
HT Minh Châu dịch Việt
English translation by Bhikkhu Bodhi

Những cánh hoa trí tuệ: Pháp trích lục

Không than việc đã qua,
Không mong việc sắp tới,
Sống ngay với hiện tại,
Do vậy, sắc thù diệu. 

Do mong việc sắp tới,
Do than việc đã qua,
Nên kẻ ngu héo mòn,
Như lau xanh rời cành. (Tương Ưng Bộ I. 18)
.

Nầy Cunda, sự tình này không thể xảy ra: một người bị rơi vào bùn lầy có thể kéo lên một người khác bị rơi vào bùn lầy. Này Cunda, chỉ khi nào một người không rơi vào bùn lầy mới có thể kéo lên một người rơi vào bùn lầy. Tương tự, Này Cunda, sự tình này không thể xảy ra: một người tự mình không được nhiếp phục, không được huấn luyện, không được hoàn toàn giải thoát, có thể nhiếp phục, huấn luyện và hoàn toàn giải thoát cho người khác. Chỉ khi nào, một người được nhiếp phục, được huấn luyện, được hoàn toàn giải thoát, mới có thể nhiếp phục, huấn luyện, hoàn toàn giải thoát người khác (Trung Bộ Kinh I. 106f). This situation does not occur, Cunda, when one sunk into mud will by himself pull out another who is sunk into mud. But this situation occurs, Cunda, when one not sunk into mud will by himself pull out another who is sunk into mud. This situation does not occur, Cunda, when one who is not tamed, not trained, not utterly quenched, will by himself tame, train, make another utterly quenched. But this situation occurs, Cunda, when one who is tamed, trained, utterly quenched, will by himself tame, train, make another utterly quenched (Majjhima-Nikaaya I. 45; Middle Length Saying I. 56).
Ở đây, Tỷ-kheo hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa trong khi chưa bị những lời nói bất khả ý xúc phạm. Và chư Tỷ-kheo, chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói bất khả ý xúc phạm, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là ôn hòa (Trung Bộ Kinh I. 286). Some monk here is very gentle, very meek, very tranquil so long as disagreeble ways of speech do not assail him. But when disagreeable ways of speech assail the monk it is then that he is to be called gentle, is to be called meek, is to be called tranquil (Majjhima-Nikaaya I. 126; Middle Length Saying I. 163).
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Ðưa đến chơn an lạc. (Tương Ưng I. 11f).
Life to its doom is led. Our gears are few.
Led to decay, for us no shelters stand,
Whoso doth contemplate this fear of death,
Let him so act that merit brings him bliss.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 2; Kindred Saying I. 4).
Thời gian lặng trôi qua,
Ðêm ngày luôn di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh. (Tương Ưng I. 13)
The hours pass by. Nights drive us ever on.
Stages of life in turn abandon us.
Whoso doth contemplate this fear of death,
Let him reject the bait of all the worlds,
Let him aspire after the final peace.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 3; Kindred Saying I. 4).
Không than việc đã qua,
Không mong việc sắp tới,
Sống ngay với hiện tại,
Do vậy, sắc thù diệu.
Do mong việc sắp tới,
Do than việc đã qua,
Nên kẻ ngu héo mòn,
Như lau xanh rời cành. (Tương Ưng Bộ I. 18).
They make no lamentation o’er the past,
They yearn not after that which is not come,
By what now is do they maintain themselves;
Hence comes it that they look serene of hue.
By yearning after that which is not come,
By making lamentation o’er the past,
Hence comes it that the foolish wither up
E’en as a tender reed by sickle shorn.

(Sa"myutta-Nikaaya I. 5; Kindred Saying I. 8).
Không nên chế ngự ý,
Hoàn toàn về mọi mặt,
Chớ có chế ngự ý,
Nếu tự chủ đạt được.
Chỗ nào ác pháp khởi,
Chỗ ấy chế ngự ý. (Tương Ưng Bộ I. 37)
Not on all sides should mind be held in check.
Restrain it not if self-control be won.
But whence soever evil things do rise,
Thence should the mind be curbed and held in check.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 14; Kindred Saying I. 21).
Những ai chỉ biết nói,
Hay chỉ biết nghe thôi,
Những hạng người như vậy,
Không thể nào tiến bộ.
Khó nhọc thay con đường,
Giúp kẻ trí giải thoát.
Nhờ Thiền định thiêu cháy,
Mọi trói buộc quần ma,
Kẻ trí không làm vậy,
Sau khi biết thế tình,
Với trí, chứng Niết-bàn,
Vượt chấp trước ở đời. (Tương Ưng Bộ I. 58)
Not if he merely talk or simply hear,
Shall he avail to make advance herein.
A hard and strenuous course is this, whereby
The strong in spirit liberation find
In contemplative work from Maara’s toils.
Not thus in sooth it is they do who strong
In spirit know the methods of the world,
And knowing, have attained Nibbaana here,
Safe crossing o’er where all the world sticks fast.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 24; Kindred Saying I. 34).
Cho ăn là cho lực,
Cho mặc là cho sắc,
Cho xe là cho lạc,
Cho đèn là cho mắt.
Ai cho chỗ trú xứ,
Vị ấy cho tất cả,
Ai giảng dạy Chánh pháp,
Vị ấy cho bất tử.
(Tương Ưng Bộ I. 73)
He giveth strength who giveth food;
Who giveth gear gives comeliness;
He giveth sight who giveth lamp;
And he it is gives happiness
Who giveth vehicles; whoso
Doth give a dwelling giveth all.
Who in the Norm doth give instruction, this
Giveth Ambrosia [undying bliss].
(Sa"myutta-Nikaaya I. 32; Kindred Saying I. 43).
Nghiệp minh và tâm pháp,
Giới và tối thắng mạng,
Chính những diệu pháp ấy,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải vì dòng họ,
Không phải vì tài sản.
(Tương Ưng Bộ I. 76)
Goodwill, and wisdom, mind by method trained,
The highest conduct on good morals based:--
This maketh mortals pure, not rank nor wealth.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 33; Kindred Saying I. 46).
-- Vật gì tốt không già?
Vật gì tốt trường cửú?
Vật gì vật báu người?
Vật gì cướp không đoạt?
-- Giới là tốt không già,
Tín là tốt trường cửu,
Tuệ, vật báu loài Người,
Công đức, cướp không đoạt.
(Tương Ưng Bộ I. 81f)
-- What by the absence of decay brings luck?
What base and stay’s of happy augury?
What is the precious jewel of mankind?
And what is it that thieves should bear away?
-- Good morals bring us luck that ne’er decays,
Faith well-established doth good fortune bring,
Wisdom’s the precious jewel of mankind,
Merit it is that thieves should bear away.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 36; Kindred Saying I. 51).
Bạn đường, bạn đi đường,
Bạn ở nhà là mẹ,
Bạn bè khi cần thiết,
Mới là bạn thường xuyên,
Công đức tự mình làm,
Là bạn cho đời sau.
(Tương Ưng Bộ I. 84)
Escort’s a good friend to the wayfarer,
Mother’s the good friend dwelling in the home,
A comrade’s help where there has risen need,
Is a good friend again and yet again,
And meritorious deeds wrought by one’s self:--
That is a good friend in the life to come.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 37; Kindred Saying I. 51f).
Trên con đường khó đi,
Và có nhiều lồi lõm,
Kẻ phàm phu vấp ngã,
Trên đường mất thăng bằng.
Con đường đối bậc Thánh,
Là con đường thăng bằng,
Bậc Thánh bước thăng bằng,
Trên đường mất thăng bằng.
(Tương Ưng Bộ I. 111)
In that "rough path" non-Ariyans headlong fall;
To Ariyans the way is even. They
Walk in the uneven with an even stride.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 48; Kindred Saying I. 69).
Ở đây kẻ bị chết,
Làm các nghiệp công đức,
Làm các nghiệp ác đức,
Lấy cả hai đem đi.
Cả hai của kẻ ấy,
Như bóng theo dõi hình.
Cả hai theo kẻ ấy,
Do vậy hãy làm lành,
Tích lũy cho đời sau,
Công đức cho đời sau,
Là hậu cứ cho người.
(Tương Ưng Bộ I. 168f)
Man’s merits and the sins he here hath wrought:
-- That is the thing he owns, that takes he hence,
That dogs his steps, like shadow in pursuit.
Hence let him make good store for life elsewhere.
Sure platform in some other future world,
Rewards of virtue on good beings wait.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 72; Kindred Saying I. 98).
Phải cọng trú mới biết được giới đức của một người, phải cùng chung một nghề mới biết được sự thanh tịnh của một người, chính trong thời gian bất hạnh mới biết được sự trung kiên của một người, phải đàm đạo mới biết được trí tuệ của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ. (Tương Ưng Bộ I. 181) It is by life in common with a person, that we learn his moral character; it is by converse with another, that we learn whether he is pure-minded; it is in time of trouble, that we learn to know a man’s fortitude; it is by intercourse, that we learn to know a man’s wisdom, and then only after a long interval, if we pay good heed and are not heedless, if we have insight and are not unintelligent. (Sa"myutta-Nikaaya I. 78; Kindred Saying I. 105).
Thắng trận sanh thù oán,
Bại trận nếm khổ đau,
Ai bỏ thắng, bỏ bại,
Tịch tịnh, hưởng an lạc. (Tương Ưng Bộ I. 190)
Conquest engenders hate; the conquered lives
In misery. But whoso is at peace
And passionless, happily doth he live;
Conquest hath he abandoned and defeat.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 83; Kindred Saying I. 109f).
Các tài sản của người ấy mếu không thọ dụng chơn chánh, thời vua chúa sẽ cướp đoạt, hay trộm cắp cướp đoạt, hay bị lửa đốt, hay bị nước cuốn trôi, hay bị con cháu thừa tự thù nghịch cướp đoạt. Sự việc là như vậy, các tài sản nếu không thọ dung chơn chánh, đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng.
(Tương Ưng Bộ I. 202)
Those riches of his, not being rightly utilized, are either confiscated by kings or by robbers, or are burnt by fire, or carried away by flood, or are appropriated by heirs for whom he hath ho affection. That being so, riches that are not rightly utilized run to waste, not to enjoyment.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 90; Kindred Saying I. 115).
Lúa, tài sản, vàng bạc,
Hay mọi vật sở hữu,
Nô tỳ và lao công,
Các mạng sống tùy thuộc,
Vị ấy phải ra đi,
Không đem theo được ai,
Tất cả phải bỏ lại,
Khi ra đi một mình.
Chỉ có các hành động,
Về thân, miệng và ý.
Mới thật thuộc vị ấy,
Mang theo khi ra đi,
Nghiệp ấy theo vị ấy,
Như bóng không rời hình.
Do vậy hãy làm lành,
Tích lũy cho đời sau,
Công đức cho đời sau,
Làm hậu cứ cho người.
(Tương Ưng Bộ I. 207)
Grain-store and hoarded wealth, silver and gold,
Or whatsoever property there be,
Or all whose living doth on him depend:
His slaves, his craftsmen and hired menials--
All this he hath to leave, naught can he take;
All this is matter for abandonment.
But what he doth, by act or word or thought:
That is the thing he owns; that takes he hence;
That dogs his steps like shadow in pursuit.
Hence let him make good store for life elsewhere.
Sure platform in some other future world,
Rewards of virtue on good beings wait.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 93; Kindred Saying I. 117f).
Ví như tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.
(Tương Ưng Bộ I. 217)
All the vessels wrought by the potter, whether they are unbaked or bakedỨ --all are breakable. They finish broken, they have breakage in prospect. Even so, all beings are mortal; they finish with death; they have death in prospect.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 97; Kindred Saying I. 122).
Mọi chúng sanh sẽ chết,
Mạng sống, chết kết thúc,
Tùy nghiệp, họ sẽ đi,
Nhận lãnh quả thiện ác,
Ác nghiệp đọa, địa ngục,
Thiện nghiệp, lên Thiên giới.
Do vậy hãy làm lành,
Tích lũy cho đời sau,
Công đức cho đời sau,
Làm hậu cứ cho người.
(Tương Ưng Bộ I. 217f)
All creatures have to die. Life is out death.
And they shall fare according to their deeds,
Finding the fruit of merit and misdeeds:--
Infernal realms because of evil works;
Blissful rebirth for meritorious acts
(Sa"myutta-Nikaaya I. 97; Kindred Saying I. 122).
Ngắn ngủi thay là tuổi thọ loài người ở đời này, rồi phải đi trong tương lai! Hãy làm điều lành. Hãy sống Phạm hạnh. Không có gì sanh ra lại không bị tử vong. Này các Tỷ-kheo, người sống lâu chỉ có một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn.
(Tương Ưng Bộ I. 240)
Brief is the life of men--a matter of flitting hence, having its sequel elsewhere. To be wrought is the good; to be lived is the holy life. To him that is born there is no not-dying. He, bhikkhus, who lives long, lives but a hundred years or but little longer.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 108; Kindred Saying I. 135).
Loài người thọ mạng ngắn,
Người lành phải âu lo,
Như cháy đầu, hãy sống.
Tử vong rồi phải đến.
(Tương Ưng Bộ I. 241)
Brief time have sons of men on earth to live.
Let the good man herein much trouble take.
Acting as were his turban all a-blaze.
There is no man to whom death cometh not.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 108; Kindred Saying I. 136).
Phàm con người đã sanh,
Sanh với búa trong miệng,
Kẻ ngu khi nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân.
Ai khen kẻ làm bậy,
Ai chê người làm hay,
Tự nhen nhúm bất hạnh,
Do chính miệng của mình.
(Tương Ưng Bộ I. 328)
In sooth to every man that's born
A hatchet grows within his mouth,
Wherewith the fool, whene'er he speaks
And speaks amiss, doth cut himself.
He who the blameworthy doth praise,
Or who the praiseworthy doth blame,
Builds by his mouth his evil doom.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 149; Kindred Saying I. 188).
Các hành là vô thường,
Có sanh phải có diệt,
Sau khi sanh, chúng diệt,
Tịnh chỉ chúng, an lạc.
(Tương Ưng Bộ I. 347)
Alas! Impermanent is everything in life!
Growth is its very nature, and decay.
They spring to being and again they cease.
Happy the mastery of them and the peace.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 159; Kindred Saying I. 197).
Kẻ ngu nghĩ mình thắng,
Khi nói lời ác ngữ,
Ai biết chịu kham nhẫn,
Kẻ ấy thật thắng trận.
Những ai bị phỉ báng,
Trở lại phỉ báng người,
Kẻ ấy làm ác mình,
Lại làm ác cho người.
Những ai bị phỉ báng,
Không phỉ báng đối lại,
Người ấy đã thắng trận,
Thắng cho mình cho người.
Vị ấy tìm lợi ích,
Cho cả mình và người,
Và kẻ đã phỉ báng,
Tự hiểu, lắng nguội dần.
Bậc y sư cả hai,
Chữa mình, chữa cho người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không hiểu Chánh pháp.
(Tương Ưng Bộ I. 357)
The fool forsooth doth deem the victory his
In that he plays the bully with rude speech.
To him who knoweth how he may forbear,
This in itself doth make him conqueror.
Worse of the two is he who when reviled
Reviles again. Who doth not, when reviled,
Revile again, a two-fold victory wins.
Both of the other and himself he seeks
The good; for he the other's angry mood
Doth understand and groweth calm and still.
He who of both is a physician, since
Himself he healeth and the other too,--
Folk deem him fool, they knowing not the Norm.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 163; Kindred Saying I. 204)
Ai hại người hiền thiện,
Thanh tịnh, không cấu nhiễm,
Ác hạnh được chín mùi,
Phản lại hại người ngu,
Chẳng khác gì ngược gió,
Lại tung vãi bụi trần.
(Tương Ưng Bộ I. 358)
Whoso doth wrong the man that's innocent:--
Him that is pure and from all errors free--
His wicked act returns upon that fool
Like fine dust that is thrown against the wind.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 164; Kindred Saying I. 204)
Chánh pháp là ao hồ,
Giới là bến nước tắm,
Không cấu uế, trong sạch,
Ðược thiện nhơn tán thán,
Là chỗ bậc có trí,
Thường tắm, trừ uế tạp,
Khi tay chân trong sạch,
Họ qua bờ bên kia.
(Tương Ưng Bộ I. 403)
The Norm's a lake, virtue its strand for bathing,
Clear, undefiled, praised by the good to good men,
Wherein in sooth masters of lore come bathing,
So, clean of limb, to the beyond cross over.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 183; Kindred Saying I. 232f).
Ai nói lên lời gì,
Lời ấy không khổ mình,
Lại không làm hại người,
Lời ấy là thiện thuyết.
Ai nói lời ái ngữ,
Lời nói khiến hoan hỷ,
Lời nói không ác độc,
Lời ấy là ái ngữ.
Các lời nói chơn thật,
Là lời nói bất tử,
Như vậy là thường pháp,
Tử thuở thật ngàn xưa.
Bậc Thiện Nhân được xem,
An trú trên chơn thực,
Trên nghĩa và trên pháp,
Lời đồn là như vậy.
Lời đức Phật nói lên,
Ðạt an ổn Niết-bàn,
Chấm dứt mọi khổ đau,
Thật lời nói tối thượng.
(Tương Ưng Bộ I. 416f)
Whoso can speak a word whereby he works
No torment to himself, nor causeth harm
To fellow-men, that word is spoken well.
Whoso can speak a kindly word, a word
That's grateful to the ear, and lays not hold
Of others' faults, that word is kindly spoke.
Truth is ambrosial speech; of saints of old
This was the ancient Norm; on Truth and Good
And Norm, it is said, the saints do firmly stand.
The Word which the Awakened speaketh, sure
Safe guide to make Nibbaana ours, to put
An end to Ill:--that is the Word Supreme.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 188; Kindred Saying I. 240)
Ai hiếu dưỡng cha mẹ,
Kính trong bậc gia trưởng,
Nói những lời nhu hòa,
Từ bỏ lời hai lưỡi,
Chế ngự lòng xan tham,
Là con người chân thực,
Nhiếp phục được phẫn nộ,
Với con người như vậy,
Chư Thiên tam thập tam,
Gọi là bậc Chơn nhơn.
(Tương Ưng Bộ I. 508)
Whoso his mother and his father keeps,
The senior in his family reveres,
Converseth gently and with soft-toned speech,
And all that makes for slander puts aside,
Who sets himself all meanness to suppress,
A man of truth, his temper 'neath control:--
On such an one the Three and Thirty Gods
Do verily confer the name: Good Man.
(Sa"myutta-Nikaaya I. 228; Kindred Saying I. 294)
Trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tinh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời.
(Trường Bộ Kinh I. 222).
Wisdom is purified by uprightness, and uprightness is purified by wisdom. Where there is uprightness, wisdom is there, and where there is wisdom, uprightness is there. To the upright, there is wisdom, to the wise there is uprightness, and wisdom and goodness are declared to be the best thing in the world.
(Diigha-Nikaaya I. 124; Dialogues of the Buddha I. 156).



Tịnh Tuệ sưu tầm