Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

THIỀN và CHÁNH NIỆM - GS001

THIỀN và CHÁNH NIỆM
GS001

Nói đến Thiền người ta thường nghĩ đến một cách tu của Phật giáo, như hình ảnh ngồi xếp bàn, yên tĩnh của các nhà sư.  Gần đây Thiền đã trở nên một vấn đề phổ biến trong dân gian.  Người ta thấy có thiền Yoga, thiền xuất hồn của ông Lương sĩ Hằng, thiền Quán Âm của Sư Cô Thanh Hải, v.v.,  rồi chính ngay trong đạo Phật người Phật tử cũng phân vân với vô số phương pháp thiền:  Thiền công án, Tổ sư thiền, Như Lai thiền, Thiền Minh Sát, Thiền với nhiều đề mục khác nhau.
  Kinh Lăng Nghiêm có bàn đến thiền với đề mục Quán Âm nhưng khác với thiền Quán Âm của Cô Thanh Hải như thế nào?
Bài viết này không có tham vọng tả rõ hết tất cả các phương pháp thiền nhưng chỉ xác định lại ý nghĩa và mục đích của Thiền căn cứ trên phương cách tu hành của đức Phật đã được ghi lại trong Tam Tạng Kinh điển.  Nắm vững được tinh thần này người Phật tử tự nhiên sẽ thấy sự khác biệt như thế nào giữa Thiền Đạo Phật, mà trong bài này gọi là THIỀN TRÍ TUỆ, với tất cả các loại Thiền khác, mà trong bài này gọi là THIỀN THAM ÁI.  Thấy rõ sự khác biệt này sẽ hữu ích cho người Phật tử để thực hành đúng CHÁNH ĐỊNH, CHÁNH TINH TẤN, để không đi lạc đạo quá xa trong lúc tu Thiền.
Cũng như trong các ngành khoa học, Y Khoa, Vật Lý, hoặc Hóa Học, một sinh viên muốn thấu triệt ngành học của mình không những chỉ học phần lý thuyết mà còn phải thực tập trong phòng thí nghiệm để chứng nghiệm những gì đã học, hoặc để khám phá thêm những phát minh mới.  Người Phật tử học Phật cũng gần như vậy, không thể chỉ tu TỊNH ĐỘ tụng kinh mà còn phải thực hành THIỀN để thực nghiệm chân lý.  Thật là thiếu sót khi phân chia tông phái để rồi chỉ chọn một trong hai, hoặc TỊNH ĐỘ (tụng kinh) hoặc THIỀN (bất lập văn tự, kiến tánh thành Phật).  Người tu Phật phải đi qua trọn vẹn cả 3 pháp:  Pháp Học phải đầy đủ, để Pháp Hành khỏi đi lạc, và rồi để đi đến Pháp Thành  là lúc để hoàn tất sự giải thoát.
Học Kinh sách để có đầy đủ những CHÁNH KIẾN mà Đức Phật đã khám phá, để học thêm những kinh nghiệm tu hành của Đức Phật.  Thực hành thiền trong Đạo Phật rốt ráo là để Thực Nghiệm sự thật VÔ NGÃ mà đức Phật đã giác ngộ (khám phá).  Đó cũng là để chứng thực KHÔNG TÁNH của vạn pháp.  Tinh thần của Thiền là tinh thần của Khoa Học Thực Nghiệm.  Là tìm kiếm lời giải đáp cho những thắc mắc về chính mình bằng cách khảo sát, nghiên cứu tìm hiểu cái TA của chính mình.  Cũng từ những thắc mắc như thế mà đức Phật đã Giác Ngộ được Đạo.  Ngày thành đạo, ngài đã kể lại công trình nghiên cứu đó như sau:
Xuyên qua bao vạn kiếp
Như Lai đi kiếm ông thợ xây cửa dựng nhà
Như Lai đi thênh thang mà không gặp
Hôm nay Như Lai đã kiếm thấy ngươi
Từ nay ngươi không còn xây nhà cho Như Lai nữa
                        Kinh Pháp cú 153.
Các vị Bồ Tát cũng thực hành Thiền quán với tinh thần khoa học tương tự như vậy.  Trong kinh Lăng Nghiêm, ta thấy Bồ Tát Quán Âm chẳng khác gì là một khoa học gia chuyên môn nghiên cứu về sự nghe.  Phương pháp quán của ngài là quán vào CĂN của SỰ NGHE (Nhĩ căn viên thông).  Có nghĩa là tìm hiều “gốc cội”, lý do tại làm sao mà ta nghe được.  Tương tự như vậy Bồ Tát Di Lặc là một khoa học gia nghiên cứu về CĂN của Ý tức là “gốc cội” của Tư Tưởng, từ đâu mà đến.  Có thắc mắc như thế ta mới có thể đi xa hơn những gì mà khoa học ngày hôm nay đã tìm thấy.  Ví dụ: với khoa học sự nghe là do Màng Nhĩ của Tai, do Âm thanh.  Sự thấy là do Mắt do Ánh Sáng, v.v.  Nhưng trong giấc mơ dầu mắt nhắm, dầu không có âm thanh, hay ánh sáng ta vẫn có sự nghe, sự thấy.
Đạo Phật thật chẳng khác gì một khoa học đi tìm kiếm SỰ THẬT, tìm hiểu gốc cội của mọi vấn đề, nhất là NGUỒN GỐC CỦA SỰ KHỔGIÁC NGỘ là khi lời giải cho bài toán KHỔ đã được tìm ra và có thể trình bày lại được cho chúng sanh theo. Chứ không phải tuyên bố “Hoát nhiên đại ngộ” rồi vẫn “câm miệng hến” như nhiều ông Tổ Thiền Tông Trung Hoa.  Người Phật tử thực hành Thiền quán là để phát triển Trí Tuệ hiểu biết về TA và về sự KHỔ, chứ không phải để đạt được những tham ái của bãn ngã.  Ai thực hành thiền mà để hoàn thiện bãn ngã thì vẫn kể như còn ở trình độ THIỀN THAM ÁI của “Ngoại Đạo”, tức chưa phải là THIỀN TRÍ TUỆ của Phật.
Trong tinh thần THIỀN TRÍ TUỆ  của Phật, chừng nào mà sự thật về TA và về nguyên nhân sự KHỔ chưa được chứng thực thì hành giả vẫn chưa gọi là GIÁC NGỘ.   Nếu không có tinh thần Trí Tuệ như vậy thì tâm THAM ÁI sẽ rất dễ “CHẠY THEO TRẦN CẢNH” với các hiện tượng tâm vật lý của thiền.  Rất nhiều hành giả đã bị “kẹt” vào những “âm thanh vi diệu” với pháp Thiền Quán Âm của Cô Thanh Hải.  Rất nhiều hành giả sau khi bị rơi vào những “feeling giải thoát” (kể cả feeling vô ngã) đã tuyên bố “Tôi đã Giác Ngộ”.  Phải biết rằng những gì còn ở trình độ “CẢM THỌ” (feeling) thì vẫn còn ở trình độ NGỦ UẨN, vẫn còn trình độ của “PHÁP HỮU VI”, vô thường, tạm bợ, không phải là sự giải thoát chân thật và bền chắc.  Những “feeling tuyệt vời” đó kinh Lăng Nghiêm gọi là “Ngũ Ấm Ma” vì nó khi hiện khi mất.
Khi hành thiền, hành giả phải quán sát chính TA với tâm rất KHÁCH QUAN chẳng khác gì các khoa học gia trong phòng thí nghiệm, không phê phán (Vọng hoặc Chơn), không chọn lựa.  Đó là lý do trong kinh Tứ Niệm Xứ đức Phật đã dạy:  “Thấy tâm Tham nổi lên, biết tâm Tham nổi lên, thấy tâm Sân nổi lên biết tâm Sân nổi lên...Khi thở ra hơi dài biết thở ra hơi dài, khi thở ra hơi ngắn biết thở ra hơi ngắn, khi sắp thở ra biết sắp thở ra, khi sắp hít vô, biết sắp hít vô”.  Nói như thế cũng phải hiểu rằng nếu có “tâm phê phán” hay “tâm chọn lựa” nổi lên thì cũng vẫn “TUỆ TRI” các tâm đó đang nổi lên một cách khách quan với sự giác biết thanh tịnh.
Quán sát khách quan như vậy để làm gì?  -Để cho THAM ÁI không dự phần, để cho NGÃ tánh không phát triển, để mới có thể khám phá ra được sự thật VÔ NGÃ: Ta không phải SẮC, ta không phải THỌ, ta không phải TƯỞNG, ta không phải HÀNH, ta không phải THỨC (ngủ uẩn giai không), TA không phải bất cứ cái CÓ nào cả, TA KHÔNG THỰC SỰ HIỆN HỮU.  Chứng nghiệm được cái “KHÔNG TÁNH” của ta đó là sự chứng nghiệm “SẮC TỨC THỊ KHÔNG”.  “KHÔNG TỨC THỊ SẮC” của BÁT NHÃ.   Đó cũng là để hoàn toàn ra khỏi NGÃ, ÁI, THỦ, HỮU, ra khỏi mọi khổ đau ách nạn.  Đó cũng là chứng nghiệm được những gì mà Đức Phật đã dạy ở trong Tiểu Bộ Kinh:
“Này các Tỷ-kheo, có sự không sinh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi.
Này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sinh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sinh, khỏi hiện hữu, khỏi bị làm, khỏi hữu vi.
Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có sự trình bày xuất ly khỏi sinh, khỏi hiện hữu, khỏi bị làm, khỏi hữu vi.”
Như vậy THIỀN là để Phát Triển TRÍ TUỆ VÔ NGÃ.  Có nghĩa rằng phải thấy rõ THỰC TƯỚNG của chính ta.  “CÓ SAO THẤY VẬY” không bắt ta phải VÔ NIỆM, kềm kẹp TRI KIẾN, hoặc ỨC CHẾ TÂM gì cả.   Những phương cách thiền nào nhằm mục đích để cho NGÃ của ta được hay hơn, tốt đẹp hơn, nhiều khả năng hơn, sung sướng hơn, an vui hơn, thanh tịnh hơn, v.v. thì còn chưa ra ngoài lãnh vực THAM ÁI và CHẤP NGÃ nên sẽ không thể khám phá được sự thật VÔ NGÃ.  Sau khi sự thật VÔ NGÃ đã được khám phá thì trong TRÍ TUỆ VÔ NGÃ dầu ngủ uẩn này còn bấn loạn, còn lo, còn buồn, còn khổ gì đi nữa, đó vẫn chỉ là các pháp hữu vi, “DO DUYÊN SINH”, không phải do ta, không phải là của ta.  Cho nên vẫn giải thoát.  NIẾT BÀN được thực chứng ngay trong KHỔ mới thực sự là NIẾT BÀN.  Nếu đòi hỏi KHỔ phải biến mất thì NIẾT BÀN đó không phải là NIẾT BÀN thật. (vì hễ còn có điều kiện, thì sẽ không bền vững).
GIỮ GÌN CHÁNH NIỆM
Rất nhiều người hiểu hạn hẹp chữ CHÁNH của Phật theo nghĩa THIỆN.  Có thầy dạy giữ gìn Chánh Niệm trong khi ăn bằng cách quán tưởng đến công ơn của các bác nông phu cày cấy.  Nhưng đối với tinh thần của TỨ NIỆM XỨ, quán niệm như vậy là VỌNG NIỆM, vì đã đi ra khỏi sự theo dõi chính mình. Chánh Niệm trong khi ăn là theo dõi sự ăn để tìm hiểu tại sao ta phải ăn?  Tại sao ta khổ vì đói?  Chữ CHÁNH trong đạo Phật có nghĩa là hướng đúng về mục tiêu NIẾT BÀN (lúc khổ được tận diệt). Làm chệch ra khỏi hướng đó thì là TÀ (trật).  Vì sự KHỔ chỉ hoàn toàn chấm dứt khi sự thật VÔ NGÃ được chứng nghiệm, cho nên CHÁNH cũng là hướng về sự phát triển TRÍ TUỆ VÔ NGÃ.
CHÁNH NIỆM là luôn luôn “tâm niệm” (mindfulness) khách quan khảo sát chính ta.  Bất chấp nó tốt hay xấu, bất chấp nó khổ hay vui, bất chấp nó thiện hay ác.  Sự khảo sát này có 2 tính chất chính: LIÊN TỤCKHÁCH QUAN.  Ví dụ, khi tâm tinh tấn tu hành, biết tâm đang có sự tinh tấn.  Khi tâm chán nản, biết tâm đang chán nản.  Nếu tâm tinh tấn chống cự, biết tâm đang tinh tấn chống cự, nếu tâm có khuynh hướng chịu thua, biết tâm muốn chịu thua.  Dầu thế nào đi nữa, phải Luôn Luôn KHÁCH QUAN nhận rõ những gì đang xảy ra.  Như thế, thì vẫn ở trong CHÁNH NIỆM.  Duy trì tâm khách quan như thế để sẽ thấy rõ NHÂN DUYÊN sinh khởi của các NGỦ UẨN, để từ đó chứng thực sự thật VÔ NGÃĐạo Phật là để hết Khổ, không phải để làm cho TA hay hơn hoặc tốt hơn.  Hay hơn hoặc Tốt hơn mà còn Ngã chấp, còn chấp thủ ngũ uẫn, thì vẫn còn khổ như thường.

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

ÔNG DUY TUỆ PHỈ BÁNG TAM BẢO PHẬT, PHÁP VÀ TĂNG NHƯ THẾ NÀO?




ÔNG DUY TUỆ PHỈ BÁNG TAM BẢO

PHẬT PHÁP VÀ TĂNG NHƯ THẾ NÀO?

GS001

Tôi chưa có cơ hội tiếp cận với quyển sách "TA LÀ AI?" của ông DUY TUỆ để thấy rõ ông ta đã trình bày những tư tưởng của ông ta trong một "context" như thế nào, nhưng qua sự trích dẫn có vẻ khá đầy đủ của đạo hữu MINH THANH  tôi thấy có vẻ ông DUY TUỆ đã có những lời lẽ quá đáng kể như đã PHỈ BÁNG TAM BẢO (PHẬT, PHÁP, TĂNG):


1) ÔNG DUY TUỆ PHỈ BÁNG PHẬT như thế nào:


Trang 189: “Ví dụ, tôi nói: “Đức Phật chắc gì đã ra bốn cửa thành, chắc gì thấy người ta khổ mà đi tìm đường cứu khổ, biết đâu đức Phật lúc ấy đang có vấn đề gia đình nên bỏ đi thì sao?”. Điều đó có thể làm những người quá tôn vinh đức Phật bị “sốc”.

GS001 xin trả lời:  Dĩ nhiên ông có quyền nghi ngờ, nhưng ông cũng nên biết rằng nếu những lý luận của ông xây dựng trên sự nghi nghờ thì thông thường dẫn đến những sai trái tai hại cho chính ông vì đó là những tư duy không xây dựng trên CHÁNH KIẾN có sự thật.  Chuyện ra bốn cửa thành để diện kiến những cái khổ muôn đời của chúng sanh: SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT do chính đức PHẬT kể lại trong kinh ĐẠI BỔN thuộc TRƯỜNG BỘ KINH ông có thể vào link này để đọc: http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-truongbo/truong14.htm  (hay: http://www.thuvienhoasen.org/ )
Bằng như ông cho rằng Đức PHẬT hay chư tăng đã bịa chuyện nói láo thì sự phỉ báng PHẬT và TĂNG của ông càng trầm trọng hơn khi chính PHẬT đã ra giới luật "KHÔNG ĐƯỢC NÓI LÁO" và chư tăng đến giờ này vẫn còn phải ghi nhớ giới luật đó.

Chuyện một bậc TRÍ TUỆ có thể thấy trước những sự khổ của cuộc đời để ra đi tìm con đường giải thoát trước khi sự khổ xảy ra là chuyện thường.  Ngay như TRỊNH CÔNG SƠN, khi hát lên rằng "trong khi ta về lại nhớ ta đi", thì đó có phải là đã thấy sự khổ của chia ly trước khi có hạnh phúc hội ngộ không?.  Chính tôi đây, ngày xưa khi mới lớn lên, khi chưa hề có thất bại nào trong cuộc đời; lúc đó mới biết yêu, thấy đời rất đẹp, yêu đời yêu người không thua gì Trịnh công Sơn, nhưng sau một lần tư duy thấy trước được rằng MỌI HẠNH PHÚC TRONG CUỘC ĐỜI ĐỀU HỨA HẸN ĐAU KHỔ, thì tôi đã hiểu được tại sao Đức Phật ra đi.

Vì nếu càng yêu đời, yêu người thì lại càng xót xa khi thấy chúng sanh không có được HẠNH PHÚC CHÂN THẬT mà chỉ có hạnh phúc hứa hẹn khổ đau.  Bởi thế đức PHẬT mới ra đi để tìm HẠNH PHÚC CHÂN THẬT cho chúng sanh, để tìm con đường BẤT TỬ thoát khỏi SINH, LÃO, BỆNH, TỬ, cho chúng sanh.  Khi tôi đã thấy trước được mọi hạnh phuc trên đời này, càng hạnh phúc bao nhiêu. sự hứa hẹn khổ đau càng lớn lao bấy nhiêu, thì tôi đã hiểu tại sao Đức Phật đã từ bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con yêu, để ra đi.  Từ đó tôi linh cảm con đường Đức Phật đã ra đi là có lý, và do vậy tôi đã đi vào đạo PHẬT để tìm hiểu về con đường "thoát khổ" mà ngài đã đi qua và đã chỉ lại cho chúng sanh.  Do đó mà tôi chưa hề có cái tư tưởng hạ liệt như ông là đức PHẬT đã đau khổ vì gia đình mà đi tu.
2) ÔNG DUY TUỆ PHỈ BÁNG PHÁP như thế nào:
Trang 122, đoạn trên: “Nếu Bát Chánh đạo giải quyết được sự thay đổi có tính hình tướng đó thì tại sao người ta, quý Phật tử và tăng ni học mãi vẫn không giải quyết được”.
Trang 122, đoạn dưới: “Nếu nói Bát Chánh Đạo là chìa khóa giải quyết vấn đề khổ đau, thì tại sao mấy ngàn năm qua không phát huy tác dụng? Tám con đường đó là để giải quyết tình trạng của cái đầu mỗi người, chứ không phải lên thiên đàng hay về cõi Phật như kinh sách nói, nhưng tại sao không giải quyết được?
GS001 xin trả lời:  Trong kinh Mahà Parinibbàna (Đại Niết Bàn), để trả lời một câu hỏi của Đạo Sĩ Subhadda, Đức PHẬT đã đề cao BÁT CHÁNH ĐẠO như sau:
"Trong bất luận giáo đoàn nào, nếu không có Bát Chánh Đạo thì cũng không có hạng nhất đẳng sa-môn (Tu Đà Huờn), cũng không có nhị đẳng sa-môn (Tư Đà Hàm), tam đẳng sa-môn (A-Na-Hàm), hay tứ đẳng sa-môn (A-La-Hán). Trong giáo đoàn nào có Bát Chánh Đạo, nầy Subhadda, thì cũng có hạng nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng và tứ đẳng sa-môn. Bát Chánh Đạo là con đường duy nhất."
Nói như vậy có nghĩa là nếu không có BÁT CHÁNH ĐẠO thì không có sự chứng đắc một THÁNH QUẢ nào hết.   Tại sao ông DUY TUỆ có thể phát ngôn rằng BÁT CHÁNH ĐẠO không phát huy tác dụng?  Có lẻ ông DUY TUỆ chưa hiểu đầy đủ tất cả 8 chi trong BÁT CHÁNH ĐẠO có ý nghĩa như thế nào chăng?
CHÁNH KIẾN là gì? -- Đó là sự "THẤY ĐÚNG VỚI SỰ THẬT".  THẤY ĐÚNG VỚI SỰ THẬT mà không có tác dụng ư?  Chính nhờ có CHÁNH KIẾN (thấy đúng với sự thật) mà các khoa học gia, như GALILEO, DARWIN, EINSTEIN, STEPHEN HAWKING đã đem đến cho cuộc đời rất nhiều sự lợi ích và đã giải thoát cho vô số người ra khỏi đức tin về một GOD TÀO LAO.  Như vậy CHÁNH KIẾN có tác dụng hay không hở ông DUY TUỆ?
CHÁNH TƯ DUY là gì? -- Đó là những suy nghĩ lý luận đặt nền tảng trên các CHÁNH KIẾN.  Tức là những suy luận xây dựng trên các data đúng với sự thật.  Đó cũng là cách tư duy lý luận của các khoa học gia.  Người tu theo PHẬT cũng phải tư duy với một cách như vậy, đôi khi còn chính xác hơn, vì sự thấy của khoa học, lắm lúc vẫn còn trật, chưa phải là chân lý.  Trong khi sự thấy các "pháp hữu vi" của thế gian với 3 sự thật VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ của những người theo PHẬT luôn luôn đúng với SỰ THẬT.
Nghe qua nhiều bài giảng của ông,  tôi chưa nghe ông nhấn mạnh nhiều đến các sự thật VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ, cho nên tôi biết ông chưa hoàn toàn có CHÁNH KIẾN và CHÁNH TƯ DUY.  Do đó sự hiểu biết của ông còn bấp bênh lắm.  Ông tưởng sự thấy của ông có sự thật, nhưng sự thấy của ông do còn "có điều kiện" mới thấy như vậy, cho nên vẫn chưa "thật" đâu ông DUY TUỆ ạ.
CHÁNH NIỆM là gì? -- Đó là sự luôn luôn theo dỏi quán sát tìm hiểu con người của mình.  Điều này thì tôi thấy ông khá đúng hơn nhiều người khác, khi ông tuyên bố rằng "THIỀN là phải LUÔN LUÔN BIẾT".  Tình thần "BIẾT" như ông nói, PHẬT đã dạy qua hai chữ "TUỆ TRI" ở trong kinh TỨ NIỆM XỨ.  Tuy nhiên sự hiểu biết về chính mình của ông chỉ mới như thấy một hạt cát trong sa mạc.  Thiền của ông mới chỉ hiểu mình qua HƠI THỞ, một phần rất nhỏ của THÂN, trong khi thiền TỨ NIỆM XỨ của PHẬT là để hiểu biết tất cả con người của mình qua mọi khía cạnh, qua tất cả: THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP hoặc qua tất cả ngủ uẩn: SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH THỨC.
Chính vì ông chưa thấy đầy đủ cái ta của ông trong mọi góc độ,  nên ông chưa thấy rõ cái bản chất THAM ÁI của ông, ông chưa thấy rõ bản chất VÔ MINH CHẤP NGÃ của ông,  do đó ông mới bị chúng đánh lừa sau khi ông mới đạt được chút HỈ LẠC, điều sơ đẳng nhất của thiền định.  Ông tưởng là ông đã chứng đắc chân lý hơn thiên hạ, nhưng thật sự cái thấy của ông vẫn còn do nhiều điều kiện tạo nên mà ông vẫn chưa tự chủ được mọi điều kiện đó.  Tôi dám chắc ông chưa có khả năng nhập định được vào trạng thái an lạc bất cứ lúc nào ông muốn.  Đúng như vậy không hở ông DUY TUỆ? Yes!  or No!?
Tôi đã nghe qua một hai audio thuyết giảng của ông, và đã nghe ông tuyên bố rằng:  Ông đã giác ngộ được "CHÂN TÂM BẤT ĐỘNG" sau khi "GIÒNG SUY NGHĨ NGỪNG CHẢY". Ông cũng tuyên bố rằng ông đi vào trạng thái tuyệt với đó nhờ được "BÊN TRÊN GIA TRÌ".  Vậy tôi hỏi ông 3 câu hỏi này:
* Nếu bên trên không gia trì cho ông, thì ông có thể tự mình đi vào lại được trạng thái tuyệt vời đó bất cứ lúc nào ông muốn không?  Không lẻ sự chứng ngộ của ông giống như sung rụng chờ có gió đi qua?
* Ông đã trải nghiệm CHÂN TÂM được bao lâu mà kết luận CHÂN TÂM của ông nó thường hằng bất động?  Giả như bây giờ có kẻ thù "BỊT MŨI" không cho ông thở (ông có thể tự làm thử như vậy) thì ông có thể vẫn vào được an lạc của CHÂN TÂM hay không?  Cứ thành thật trình bày đi!  tôi sẽ cho biết cái CHÂN TÂM của ông là THẬT hay GIẢ.  Ông có khả năng ngồi yên được trong lửa cháy đang thiêu đốt thân hình, mũi mắt của mình, như ngài QUẢNG ĐỨC hay không?
* Ông bảo rằng khi giòng suy nghĩ ngừng chảy thì có thể thấy được CHÂN TÂM của mình, thế sao những bác nông phu đêm nằm ngủ say như chết, giòng suy nghĩ đã ngừng chảy rồi, mà sao họ không tuyên bố đã thấy được CHÂN TÂM nhỉ?
Qua những gì mà ông đã trình bày, không hề nghe ông nói gì đến sự giác ngộ VÔ NGÃ, mà chỉ nghe ông ÔM THỦ cái CHÂN TÂM, thì tôi biết ông chưa thực sự có GIÁC NGỘ.   Ông thực sự chưa thực hành đúng CHÁNH ĐỊNH của PHẬT, chưa có đúng CHÁNH TINH TẤN của PHẬT.  Vì nếu có đúng ĐỊNH và TINH TẤN của PHẬT  thì những cách đó phải dẫn ông đến sự giác ngộ VÔ NGÃ để ra khỏi ÁI, THỦ, HỮU để đích thực có TỊCH TỊNH NIẾT BÀN.
Tôi thách ông có thể chấm dứt được mọi sự khổ với cái CHÂN TÂM của ông?  Chính ông cũng chưa hiểu đầy đủ được BÁT CHÁNH ĐẠO của PHẬT do đó mà ông vẫn chưa đạt đến đích thực sự GIÁC NGỘ để có khả năng chấm dứt mọi sự khổ đau.   Dễ gì thấu triệt được BÁT CHÁNH ĐẠO của PHẬT hả ông, khi mà thế gian vẫn còn ở trong THAM ÁI và NGÃ CHẤP.  Đó cũng là câu trả lời cho ông biết: tại sao BÁT CHÁNH ĐẠO đã có lâu rồi mà vẫn có ít người chứng ngộ.
3) ÔNG DUY TUỆ PHỈ BÁNG TĂNG như thế nào:
Trang 134: “CÓ CẦN ĐI TU NỮA KHÔNG? Nếu đã thấy rõ được như vậy, quý vị nghĩ xem có cần tu nữa không? Có cần tập trung hàng trăm hày ngàn ngàn lại để tu không? Mà liệu tập trung vậy có đạt được kết quả gì không? Tôi nói vấn đề này để cứu quý vị và những người đang vô minh. Tốn tiền, thời gian nhưng chắc chắn không có hiệu quả… Nhưng việc tập trung lại cho đông người trong khoảng thời gian tu học là làm việc khác, chứ không phải để thấy Phật của mình. Làm việc khác thì phải trả giá bằng tiền, sự phiền muộn, sức khỏe, thời gian. Phải bỏ nhà cửa, công ăn việc làm, thậm chí còn làm phiền người khác. Tập trung như thế chỉ để mua sự an lạc tạm thời, rồi đâu lại vào đó”. Người trích dẫn nhấn mạnh câu “Tôi nói vấn đề này để cứu quý vị và những người đang vô minh”.
GS001 xin trả lời:  Phần này thì có lẻ tôi không cần mất nhiều thì giờ để trả lời ông.  Thật là ngu si khi có một người ở nhà, mới tự mình học qua vài quyển sách,  thấy mình biết nhiều hơn số đông các học sinh đang đến trường, rồi tuyên bố rằng:  Mọi trường học lập nên đều chỉ vô ích và tốn kém.  Cách tư duy của ông khi chê bai hệ thống chùa chiền lập lên để dạy đạo cho các chư tăng, đại khái cũng ngu si kiểu như vậy đó ông ạ.
Rất mong được nghe sự phản biện hồi âm của ông.

Thân ái.
GS001.