Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Cảm xạ đi bộ trên than hồng là trò bịp?

Các nhà ảo thuật thường châm lửa cho một chậu than dài chừng 3m để chuẩn bị cho màn trình diễn của mình. Tuy nhiên, thật ngớ ngẩn nếu họ ngay lập tức rảo bước trên đám lửa đang bùng cháy ở chậu than. Hãy tưởng tượng bạn đang đun nóng một chảo nướng kim loại trong bữa tiệc barbecue

Màn trình diễn đi bộ trên than hồng nóng hơn 500 độ C ở Hải Phòng đêm 21/5 vừa qua khiến những người chứng kiến phải rùng mình. Không ít người cho rằng, các cảm xạ viên này đang sử dụng một nguồn năng lượng siêu nhiên. Tuy nhiên, theo trang web HowStuffWorks Express, đây chỉ là “trò lừa”.




Màn đi trên than hồng đêm 21/5 được 150 cảm xạ viên từ những lớp cảm xạ đến từ Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng… biểu diễn. Theo VTC, trước khi biểu diễn đi trên than hồng, các cảm xạ viên đã luyện tập bài hút năng lượng từ cây trên núi Thiên Văn ở quận Kiến An (Hải Phòng).
Trang web này cho rằng, thông thường, trong suốt buổi trình diễn này, người xem luôn luôn để mắt tới chậu than đang cháy hồng. HowStuffWorks Express khẳng định, những hòn than nóng rực lửa trên chiếc chậu kim loại này hoàn toàn là “hàng thật” và con người quả thực đặt chân trần trên đó.

Tuy nhiên, sở dĩ các “ảo thuật viên” có thể đánh lừa người xem là bởi đặc điểm vật lý khác thường của chính những viên than.

“Các nhà ảo thuật thường châm lửa cho một chậu than dài chừng 3m để chuẩn bị cho màn trình diễn của mình. Tuy nhiên, thật ngớ ngẩn nếu họ ngay lập tức rảo bước trên đám lửa đang bùng cháy ở chậu than. Hãy tưởng tượng bạn đang đun nóng một chảo nướng kim loại trong bữa tiệc barbecue. Giờ thì thử nghĩ xem bàn chân trần của những người trình diễn là những miếng thịt băm. Nó chắc chắn sẽ bị cháy xém chỉ trong một phần nghìn giây”, HowStuffWorks Express nhấn mạnh.
HowStuffWorks Express cho rằng, các chậu than thường được đốt cháy trước khi biểu diễn.
Ảnh: Zing/VTC


Vậy làm sao các ảo thuật gia có chịu nổi nhiệt khi đi qua những chậu than dài tới 3m? Theo trang web này, những người trình diễn thực ra không đi trên lửa. Chính xác hơn, họ đi bộ trên những hòn than đang tàn lửa bởi những chậu than được châm lửa từ trước khi biểu diễn rất lâu để đảm bảo rằng, đến thời gian trình diễn, các hòn than không còn lửa cháy.

Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy, các buổi biểu diễn đi bộ trên than này luôn luôn diễn ra vào buổi tối bởi nếu được thực hiện dưới ánh sáng ban ngày, người xem có thể dễ dàng nhận thấy, chậu than không khác gì một đám tro. Không chỉ vậy, các nhà ảo thuật còn rắc một lớp bụi trên các viên than để hạ nhiệt. Tuy nhiên, ánh sáng nhập nhèm của buổi đêm khiến người xem khó có thể phát hiện.

Thêm vào đó, các ảo thuật gia cũng không bao giờ mạo hiểm dậm chân tại chỗ trên chậu than. HowStuffWorks Express giải thích, những hòn than được đem ra trình diễn có xuất phát điểm là những mảnh gỗ, nhưng vì nó được đốt cháy trước khi biểu diễn nên những hòn than này biến thành một loại carbon nhẹ, như than củi. 
Người biểu diễn thực ra chỉ đi bộ trên những hòn than đang tàn lửa. Ảnh: Zing/VTC


Nếu cầm trong tay một trong những viên than carbon này, bạn sẽ thấy nó rất nhẹ. Carbon là một nguyên tố nhẹ nên trong lượng của các khung xe đạp làm từ sợi carbon hay vợt tennis đều không lớn.

Cấu trúc của carbon nhẹ này là một chất dẫn nhiệt rất kém. Sẽ mất rất nhiều thời gian để nhiệt có thể truyền từ hòn than đang tàn tới da người. Trong khi đó, tro bụi lại là một chất cách nhiệt rất tốt. Như vậy, quá trình dẫn nhiệt của những hòn than với lớp bụi phủ trên đó còn bị "giảm tốc" hơn nữa.




Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tiến trình dẫn nhiệt không diễn ra. Nếu đứng một chỗ, than có thể đốt cháy da chân người biểu diễn. Do đó, ảo thuật gia phải "lướt" rất nhanh trên chậu than để không bị bỏng.

Theo Trà My/baodatviet.vn

(theo http://tongiaovadantoc.com/c1044/20110525172242637/cam-xa-di-bo-tren-than-hong-la-tro-bip.htm) 

Đi trên than hồng là chuyện bình thường:

http://hcm.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/di-tren-than-hong-la-chuyen-binh-thuong-c46a381029.html
Theo các chuyên gia thì hiện nay trên thế giới và Việt Nam việc đi trên than hồng đã được nhiều người thực hiện, do chân chỉ tiếp xúc với than hồng trong một thời gian nhất định, rồi bước đi tiếp nên việc đi trên than hồng là điều đơn giản...
Xuất phát từ tín ngưỡng

Ở một số dân tộc vùng cao của Việt nam như xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì, Hà Giang thường tổ chức những cuộc thi đi trên lửa vào dịp đầu năm mới. Ngày tổ chức lễ hội được các già làng, trưởng họ hay Thầy Tào xem xét kỹ lưỡng, từ mồng 2 - 5 tháng Giêng âm lịch. Để đi trên lửa, người dân đã đốt những đống củi to ngay từ rất sớm, khi củi cháy hết người dân sẽ lấy than hồng rực để rải thành "tấm thảm".

Những người "đùa với lửa" sẽ ngồi "hầu lễ" ngay từ đầu buổi, họ lấy que tre gõ liên tục vào những ống vầu đã chuẩn bị từ trước và Thầy Tào sẽ khấn vái xin "thần lửa" về cùng chung vui với dân làng. Khi "thần lửa" đồng ý, từng đôi một sẽ vào nhảy trên những đống than bằng những bước chân trần. Khi đôi trước  nhảy xong, đôi tiếp theo sẽ vào hầu lễ rồi tiếp tục vào nhảy, cứ như thế cho đến hết lễ hội.

Những lễ hội này thường thu hút rất đông thanh niên chưa có gia đình, họ đến đây với mong ước sẽ tìm được người hợp duyên để kết duyên với nhau thành vợ, thành chồng. Đến mùa xuân sau, họ lại dìu dắt nhau đi lễ hội mong thần lửa phù hộ cho tình yêu, hạnh phúc, mùa màng tươi tốt, ấm no...
Đi trên than hồng là chuyện bình thường, Tin tức trong ngày, di tren than, cam xa, bong, cam xa vien, chan tran, than hong, tin tuc 24h
Học viên lớp cảm xạ học Tạ Quang Thanh bước qua than hồng như đi trên mặt đất
Không chỉ ở Việt Nam, mà ở một số quốc gia trên thế  giới cũng có những lễ hội đi trên than hồng. Ở Ấn Độ người ta đã có những bằng chứng, chứng minh rằng lễ hội đi trên than hồng đã có từ 1.200 năm trước Công nguyên. Cho đến nay, những lễ hội kiểu này vẫn được duy trì. Chúng thường gắn với một số tín ngưỡng tôn giáo nào đó, chẳng hạn, mỗi người phải đi trên lửa ít nhất một lần, phải bê cục than hồng trên tay rồi chuyển cho người khác... Những hành động này nhằm chứng minh cho hành động của những người thực hành nghi lễ là tốt về bản chất, hoặc thể hiện sức mạnh siêu nhiên của thần thánh, cầu mong sự ban ơn của đấng tối cao cho con người ấm no, hạnh phúc.

Chuyện bình thường

TS Vũ Thế Khanh, Giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ Tin học Ứng dụng UIA cho biết: Việc đi chân trần trên than hồng được những người luyện tập trong bộ môn yoga, cảm xạ học thực hiện là bình thường. Ở Trung Quốc nhiều người có khả năng biểu diễn nung các thanh sắt nóng hàng nghìn độ để quệt vào các vị trí trên cơ thể. Để có thể có khả năng đặc biệt như thế những người này phải trải qua một quá trình tập luyện rất công phu và kiêng kỵ nhiều thứ.
Đi trên than hồng là chuyện bình thường, Tin tức trong ngày, di tren than, cam xa, bong, cam xa vien, chan tran, than hong, tin tuc 24h
Nhiều người có thể đi trên than hồng vì khi da chân tiếp xúc với than chỉ trong thời gian ngắn, rồi chân được nhấc lên
Theo ông Khanh, các cảm xạ viên ở Hải Phòng có thể đi trên than hồng ở nhiệt độ trên 500 độ C một cách bình thường như đi trên mặt đất nhờ một phần tập luyện khí công, kết hợp phương pháp tập yoga. Nhiều người có thể đi trên than hồng vì khi da chân tiếp xúc với than chỉ trong thời gian ngắn, rồi chân được nhấc lên. Lòng bàn chân chỉ tiếp xúc với than trong khoảng thời gian ngắn như thế, lớp da chân sẽ không chịu sự tác động của than ở nhiệt độ cao. Giống như khi người ta biểu diễn chạy trên các tấm cót dưới nước. Trước khi chạy họ phải vận khí công, chỉ được tiếp xúc nhanh, khẽ chạm trên những tấm cót này để chạy qua một cách nhẹ nhàng.

Theo ông Nguyễn Phúc Giác Hải, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người,  trong chương trình Chuyện lạ Việt Nam, đã từng có người biểu diễn đi trên than hồng ngay tại trường quay S9 Đài Truyền hình Việt Nam năm 2005. Khi đó những cục than đá được nung đỏ, trải ra một tấm thảm có chiều dài là 5m, người đi qua dải than hồng đó không có sự hỗ trợ nào cả, chỉ đi bằng chân trần nhưng người đó đã đi qua, đi lại 3 lần.
Sự tin tưởng tuyệt đối là sẽ không bị bỏng cộng với điệu nhảy tốc độ là bí quyết của việc đi trên thảm lửa. Các chuyên gia của Đức đã xác định chính xác được nhiệt độ mà đôi chân trần phải chịu trong một lần tổ chức lễ hội của thổ dân đảo Fiji. Lúc cao nhất, nhiệt độ dưới bàn chân người nhảy múa lên tới 80 độ C trong khi than nóng những 330 độ C.
Ở đây chúng ta cần xét hai yếu tố. Thứ nhất, xét trên trạng thái cơ thể, không phải lúc nào cơ thể chúng ta cũng có thể làm những việc khác thường như thế được. Mỗi người có khả năng khác nhau như một số người có thể dùng lưỡi liếm dao đã nung đỏ. Ta có thể gọi đó là trạng thái xuất thần của cơ thể. Thứ hai, trước khi họ thực hiện cần phải đọc một câu thần chú, xin phép một ai đó để thực hiện và phải làm một số động tác như múa may quay cuồng, trạng thái lâng lâng, để cơ thể trở về vô thức.

Ông Hải cho hay, ông đã từng tự tay mình bốc than hồng lên để truyền từ tay nọ sang tay kia một cách bình thường mà tay không bị bỏng. Và trường hợp những người đi trên than hồng với nhiệt độ trên 500 độ C cũng vậy. Việc chuẩn bị về mặt tinh thần, nâng khí lên cơ thể và tập luyện về mặt sức khoẻ, quyết tâm bước qua những đống than hồng là những điều cần thiết cho mỗi người. Thực ra đây cũng là việc không có gì lạ lắm. Nếu chúng ta quan sát kỹ khi người đi trên than hồng, tiết diện bàn chân chỉ chạm nhẹ với than hồng rồi nhấc chân lên để bước đi tiếp. Như thế có thể bước đi bình thường trên mặt than hồng mà không sợ bị bỏng chân. Chúng ta đều có thể bước trên than hồng nhưng không thể đứng một chỗ, như thế chắc chắn chân sẽ bị nướng thành than.
BS Đặng Văn Quế, nguyên chuyên viên pháp y Bệnh viện Việt Đức cho biết, việc đi trên than hồng không để nhằm mục đích chính là chữa bệnh ra mồ hôi chân hay chân bị hôi thối. Việc đi trên than hồng giúp cho con người ta khỏe mạnh, rèn luyện tinh thần, chiến thắng mọi khó khăn trong cuộc sống.

Khi ai đó đi được trên than hồng là kết quả của quá trình tập luyện. Chúng ta biết rằng việc một số người bị bệnh ra mồ hôi, hôi thối tay chân là do bị tổn thương thần kinh, stress, cũng có thể là do tuyến cường gián đoạn... điều này chúng ta có thể điều trị bằng các phương pháp nội khoa. Nhưng nhờ quá trình đi trên than hồng cơ thể sẽ chế ngự được những thứ bệnh tật liên quan đến hệ thần kinh ở ngoài da.

Hiện tượng nhớ về tiền kiếp

Năm 20 tuổi, cô gái Elina Markand (người Đức) bị tai nạn. Khi tỉnh dậy, Elina bỗng nói tiếng Italy rất thông thạo, mặc dù trước đó cô chưa từng học một ngoại ngữ nào. Cô còn tự nhận mình là Rozetta Caste Liani, công dân Italy, và yêu cầu được trở về thăm quê hương.



Về tới "nhà", Elina mới biết rằng người có tên Rozetta Caste đã mất từ năm 1917. Đón cô là một bà già lụ khụ, xưng là con gái của Rozetta Caste. Elina chỉ tay vào bà già, nói: “Đây là Fransa, con gái tôi!”. Lúc ấy, tất cả mọi người đều giật mình, vì người đàn bà này quả thực tên là Fransa, đúng như Elina gọi.


 

Câu chuyện của Elina Markand đã trở thành đề tài đầy hấp dẫn cho giới khoa học. Thực tế, trong lịch sử từng có không ít trường hợp tương tự, và hiện tượng “nhớ về quá khứ” không nhất thiết phải bắt đầu từ một chấn thương nào đó, như trường hợp của Elina Markand.


Vào thập niên trước, một cô gái nhỏ người Anh đã biến thành "một người xa lạ" sau khi tỉnh dậy một buổi sáng. Em không nhận ra mẹ và người thân của mình, không nói được tiếng mẹ đẻ trong khi lại thông thạo tiếng Tây Ban Nha, và lúc nào cũng tỏ ra sợ sệt.


Các bác sĩ đều có kết luận giống nhau: Em bé 10 tuổi này không có biểu hiện gì về bệnh lý hoặc tâm thần, sức khoẻ tốt. Em nhận mình là người Tây Ban Nha và sống ở thành phố Toledo. Em kể lại rằng một người cùng phố do ghen ghét và đố kỵ đã đâm chết em năm em 22 tuổi. Cảnh sát Tây Ban Nha đã thẩm tra lại câu chuyện kỳ quặc về “tiền kiếp” của em, và kết luận, đúng như lời em kể. Ở số nhà đó trong thành phố Toledo từng có một cô gái 22 tuổi bị hãm hại. Những người hàng xóm đã tìm thấy xác cô ngay trong nhà. Câu chuyện càng sáng tỏ hơn khi hung thủ (lúc này đã già) tự đến gặp cảnh sát để thú tội.


Các nhà khoa học còn tiếp tục ghi nhận nhiều trường hợp khác. Chẳng hạn có người đột nhiên "biến" thành công dân La Mã cổ đại, và bằng chứng khó chối cãi là anh ta biết sử dụng được thứ ngôn ngữ “nguyên thủy” của mình, không còn ai hiểu nữa. Tương tự như vậy, có người châu Âu bỗng nói tiếng Ai Cập, mất hẳn khả năng dùng tiếng mẹ đẻ. Rồi anh ta mô tả chính xác cảnh vật ở vùng sông Nile, và tự nhận có nguồn gốc Ai Cập.


"Trí nhớ gene"


Một số nhà khoa học đã thử đưa ra một lý thuyết giải thích hiện tượng trên với khái niệm "trí nhớ gene": Nếu các vùng "ngủ" trong ADN bị kích thích, con người có thể "trở về tiền kiếp". Họ bỗng nhớ lại gốc gác La Mã hoặc Ai Cập từ xa xưa. Cũng do ảnh hưởng bởi tiền kiếp mà nhiều người có thói quen xoa râu quai nón, mặc dù trên mặt không hề có râu. Người khác lại có thói quen nhấc vạt áo vét, y như động tác vén váy dài đang mặc khi vượt qua vũng nước.

Trường hợp nhớ về tiền kiếp của bé gái người Anh rõ ràng không hề có quan hệ nào về “gene di truyền” với người mà mình hoá thân. Ảnh minh họa: tamlinh.net

Nhưng ở cô Elina người Đức và bé gái người Anh thì rõ ràng không hề có quan hệ nào về “gene di truyền” với người mà mình hoá thân, có nghĩa là trường hợp của họ không thể giải thích bằng “trí nhớ gene”. Vậy nó là thế nào? Ở châu Á, người ta rất quen thuộc với thuyết luân hồi của Phật Giáo, cho rằng thể xác con người – tức là cái “bề ngoài” - luôn thay đổi. Còn cái “bên trong thể xác” - tức linh hồn - là vĩnh cửu. Theo thuyết luân hồi, cuộc sống không khởi đầu bằng sự sinh ra, và cũng không kết thúc bằng cái chết. Cuộc sống cứ trôi vô tận. Linh hồn ở mỗi "kiếp" lại nhập vào một thân xác mới. Vì thế, sẽ không lạ khi cô Elina và bé gái người Anh đột nhiên nhớ lại kiếp trước của mình.


Thuyết về kết cấu "phách"


Lại có một số nhà vật lý và sinh học đưa ra cách giải thích vấn đề trên bằng “kết cấu phách”. "Phách" ở đây tất nhiên không phải là "phách" trong âm nhạc, mà là một khái niệm chỉ "phần bất biến" của con người, còn được hiểu là "phần năng lượng tách ra dưới dạng sóng". Khi người chết, “phách” liền tan vào vũ trụ. Vì thế, “phách” có thể hiểu là một loại “trường sóng hạt cơ bản nhẹ”, hoặc là “tập hợp những năng lượng thông tin cá thể”.


Theo các nhà khoa học này, thuyết về phách có thể lý giải được đa phần hiện tượng thần đồng (trong âm nhạc, thi ca, khoa học…). Ở tuổi rất trẻ, những thần đồng này đã tích tụ được lượng kiến thức khổng lồ mà người bình thường cả đời cũng khó có được. Theo thuyết này, “phách” của các thiên tài là sản phẩm của hàng vạn kiếp trong quá khứ dồn lại trong một cơ thể hiện hữu. Nói cách khác, "trường sóng hạt cơ bản nhẹ" hay những "tập hợp thông tin cá thể" đã tập trung vào cơ thể họ theo một quy luật nào đó.


Nhiều nhà khoa học đã mạnh dạn đề cập tới những khái niệm rất mới về hiện tượng "nhớ về quá khứ". Họ đã lập ra một "quy trình công nghệ" cho phép bằng thực nghiệm đưa con người vào trạng thái giữa mơ và thực. Ở trạng thái lơ lửng kỳ ảo này, người tham gia thực nghiệm vẫn nhìn thấy những gì quanh mình, nhưng trong tiềm thức, họ lại thấy cả quá khứ. Phương pháp thực nghiệm này đã được áp dụng để chữa một số bệnh tâm thần và đem lại kết quả.


Mặc dù đã có những thành tựu nhất định, nhưng đến nay, những chuyện về "siêu trí nhớ" gần như vẫn nằm ngoài vòng nghiên cứu của khoa học chính thống. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là nhân loại chịu bó tay để tự rơi vào vòng "bất khả tri", các nhà khoa học vẫn đang tìm cách để giải thích những điều khó giải thích nhất.

Theo cuốn "Bí ẩn nhân loại", NXB Từ điển Bách khoa

Hiện tượng mộng du

Người bị mộng du có thể mở mắt nhưng đôi mắt hoàn toàn vô hồn và biểu hiện trên khuôn mặt cũng trống rỗng. Nhìn họ giống như đã thức giấc nhưng những hành động lại vụng về kì quặc.
Mộng du là một hiện tượng khá kì bí và kích thích trí tò mò của nhân loại từ bấy lâu nay. Trong trạng thái không có ý thức, người bị mộng du vẫn có thể nói chuyện, điều khiển tay chân của mình để thực hiện một số hành động kỳ quặc hoặc thậm chí phức tạp mà trong lúc tỉnh táo chưa chắc họ có thể làm được. Một số trường hợp người bị mộng du còn lái cả xe.

Mộng du được coi là một biểu hiện của chứng rối loạn giấc ngủ (parasomnias), là những hành vi bất thường xảy ra trong lúc ngủ. Một số rối loạn phổ biến liên quan đến giấc ngủ là đái dầm, nói mớ và nghiến răng.

Bộ não là cơ quan phức tạp nhất trong cơ thể. Nó điều khiển mọi hoạt động từ hít thở, đến điều hòa nhịp tim, nó ghi lại tất cả ký ức trong cuộc đời; nhờ có bộ não bạn mới có thể cười, khóc, giao tiếp và yêu ai đó. Ngay cả trong lúc ngủ, não cũng không nghỉ ngơi, nó tạo ra những giấc mơ, nó giúp bạn mò tìm chăn đắp, nó khiến bạn lăn khắp giường hay cũng chính nó “đứng đằng sau” tiếng ngáy. Nó là nguyên nhân khiến cho có những ngày bạn thức dậy với tâm trạng thoải mái thanh thản, hay có lúc bực bội khó chịu. Với chừng đó việc phải quản lý, bộ não, dù có tài giỏi đến đâu, cũng không tránh khỏi sơ sót.


Một số đặc điểm của tật mộng du

Có thể bạn đã thấy (qua phim ảnh) hình ảnh người bị mộng du đi lang thang khi mắt vẫn nhắm và 2 cánh tay vươn ra đằng trước. Tuy nhiên, các đặc điểm điển hình của mộng du bao gồm:
  • Ra khỏi giường trong lúc vẫn đang ngủ
  • Rất khó để đánh thức người bị mộng du
  • Sau khi tỉnh dậy, người vừa mộng du sẽ không thể nhớ mình đã làm gì lúc bị mộng du
  • Khi đã thực sự tỉnh khỏi cơn mộng du, người bị mộng du sẽ cảm thấy không thể hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra với họ
  • Người bị mộng du không mắc chứng mất trí hay các chứng rối loạn thần kinh khác
  • Mộng du gây ảnh hưởng xấu đến công việc và đời sống xã hội của bạn


Có nên đánh thức người bị mộng du không?

Ý kiến cho rằng không nên đánh thức người bị mộng du là chưa có cơ sở. Tuy nhiên, bạn cũng không nên làm người đang mộng du bị giật mình. Mộng du có thể gây nguy hiểm, như một đứa trẻ có thể ngã cầu thang, hoặc 1 người lớn có thể lái xe trong tình trạng không có nhận thức. Tốt nhất là nên nhẹ nhàng dẫn họ trở lại giường. Thường thì người ta chỉ mộng du một lần trong đêm.
Có giả thiết cho rằng người bị mộng du đang diễn tả lại giấc mơ của họ. Tuy nhiên, mộng du diễn ra ở giai đoạn ngủ sâu, các giấc mơ không xuất hiện trong giai đoạn này. Vì thế có thể loại bỏ giả thiết này.Trong giai đoạn ngủ sâu, rất khó để đánh thức bộ não. Điều này cũng giải thích lý do vì sao rất khó đánh thức người bị mộng du.


Một cơn mộng du thường kéo dài từ vài giây cho đến nửa giờ. Người bị mộng du có thể mở mắt nhưng đôi mắt hoàn toàn vô hồn và biểu hiện trên khuôn mặt cũng trống rỗng. Nhìn họ giống như đã thức giấc nhưng những hành động lại vụng về kì quặc. Hành động của họ cũng khá đa dạng, có thể chỉ đơn giản như ra khỏi giường và đi loanh quanh trong nhà, đến phức tạp hơn như lái xe hoặc chơi một nhạc cụ.


Vì sao người ta bị mộng du?

Một số lý giải cho rằng tật mộng du có liên quan đến chứng động kinh, chứng loạn thần kinh, hoặc do cáước muốn thầm kín của người mắc chứng này.


Nhưng thật ra chưa ai thật sự biết chính xác vì sao 1 người lại mắc chứng mộng du. Khoa học đưa ra một vài khả năng như sau:


Như đã nói ở trên, hiện tượng mộng du xảy ra ở giai đoạn ngủ sâu. Có thể hình dung, ở giai đoạn này, tuy bộ não không hoạt động tích cực nhưng ngược lại cơ thể vẫn có thể di chuyển.
Các giai đoạn của giấc ngủ.


Các nhà khoa học chia giấc ngủ làm 5 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: giai đoạn giấc ngủ nông. Các hoạt động cơ bắp dần chậm lại. Thỉnh thoảng có hiện tượng cơ bắp co giật.
  • Giai đoạn 2: nhịp thở và nhịp tim dần chậm lại. Nhiệt độ cơ thể giảm nhẹ.
  • Giai đoạn 3: bắt đầu giai đoạn ngủ sâu. Não bắt đầu phát ra sóng chậm delta.
  • Giai đoạn 4: giai đoạn ngủ rất sâu. Nhịp thở đều; hoạt động cơ bắp rất hạn chế. Não sinh sóng delta.
  • Giai đoạn 5: mắt chuyển động nhanh, sóng não nhanh và các giấc mơ bắt đầu xuất hiện. Các cơ được thả lỏng, nhịp tim bắt đầu chậm lại, nhịp thở nhanh và nông.

Các chuyên gia sức khỏe tâm thần gọi hiện tượng mộng du là “rối loạn kích thích”, nghĩa là có một tác nhân nào đó kích thích bộ não thức dậy khi đang trong giai đoạn ngủ sâu, đưa người mộng du vào trạng thái chuyển tiếp giữa ngủ và thức.


Phạm tội ác trong lúc mộng
 du

Nhiều trường hợp người bị mộng du không chỉ đi loanh quanh trong nhà. Một người đàn ông ở Manchester (Anh) tên Jules Lowe đã giết cha mình trong lúc mộng du, và anh ta được tha bổng. Một trường hợp khác, Scott Falater, một người đàn ông ở bang Arizona (Mỹ) bị cáo buộc đã đâm vợ mình 44 nhát, ông kháng cáo với lý do mình làm việc đó trong lúc mộng du, tuy nhiên tòa vẫn tuyên án có tội.
Một điều đáng chú ý là đa số các trường hợp mộng du là trẻ em, và khi chúng lớn lên thì tật mộng du sẽ biến mất. Bộ não của trẻ em phát triển rất nhanh và là môi trường thuận lợi hấp thụ mọi loại kích thích. Từ một đứa trẻ sơ sinh chưa biết tí gì về cuộc sống bên phát triển thành một đứa trẻ mẫu giáo thành thạo không ít kỹ năng sống chỉ trong vòng 5 năm. Liệu một người trưởng thành có thể học nhanh như vậy không?


Giai đoạn ngủ sâu cũng là lúc cơ thể sản xuất ra các loại hormone, trong đó có các loại hormone tăng trưởng. Rất có thể việc sản xuất các hormone này có liên quan đến việc kích thích và gây ra một số rối loạn trong giấc ngủ.


Những người lớn mắc tật mộng du đa số đều đã từng bị mộng du khi còn nhỏ. Mộng du rất hiếm khi đột ngột xuất hiện ở tuổi trưởng thành, nếu có, đó là biểu hiện của những rối loạn khác. Trẻ em có khuynh hướng mộng du cao khi chúng bị mệt mỏi hay căng thẳng. Tác nhân gây mộng du ở người lớn cũng tương tự như vậy, ngoài ra còn do tác dụng phụ của một số loại thuốc, do rượu bia, hoặc do chứng sốt.


Tuy nhiên, hiện tượng mộng du ở một số người không hoàn toàn là vô hại, mà đó có thể là biểu hiện của các rối loạn hữu cơ khác như Parkinson hoặc Alzheimer. Nếu một đứa trẻ bị mộng du, có thể lúc lớn lên nó sẽ tự khỏi.Bạn cần cho trẻ ngủ theo giờ giấc cố định, kèm theo các biện pháp giúp trẻ tránh mệt mỏi và căng thẳng. Nếu hiện tượng mộng du bỗng xuất hiện ở một người trưởng thành thì cần các chẩn đoán y khoa để xác định nguyên nhân.

Một số hiện tượng rối loạn liên quan đến giấc ngủ khác

Ngoài mộng du, còn một hiện tượng rối loạn giấc ngủ khác các hành vi tình dục trong lúc ngủ (sleepsex hay sexsomnia). Người mắc chứng này thường tự sờ soạng mình hoặc thực hiện các hành vi tình dục khác với người nằm cạnh trong lúc vẫn đang ngủ. Tuy nhiên, họ hoàn toàn không biết hoặc không nhớ gì về việc đó sau khi tỉnh dậy. Một người đàn ông đã thoát tội cưỡng hiếp khi anh ta biện hộ rằng mình thực hiện tội lỗi trong trạng thái không có ý thức. Người mắc chứng này thường kèm luôn tật mộng du hoặc một vài chứng rối loạn giấc ngủ khác.


Ăn trong lúc ngủ cũng là một chứng rối loạn liên quan đến giấc ngủ khá nguy hiểm, vì người mắc không ý thức được họ đang ăn gì. Họ có thể đưa vào miệng bất cứ thứ gì, ví dụ như thực phẩm chưa chế biến, thuốc lá hay những thứ linh tinh khác. Vì ăn trong trạng thái vô thức nên họ bị tăng cân mà không hiểu lí do vì sao. Nhiều chuyên gia cho rằng chứng rối loạn này là do tác dụng phụ của một số loại thuốc an thần như Ambien. Nhiều người cho biết chứng này tự hết sau khi họ chuyển sang dùng thuốc khác.


Một số người bị chứng nghiến răng lúc ngủ. Âm thanh nghiến răng rất khó chịu giống như họ đang nhai đá vậy, âm lượng có khi khá to có thể đánh thức người nằm cạnh. Chứng này có một số tác hại như làm hư răng, gây đau đầu và khiến hàm bị đau. Tình trạng lo âu căng thẳng sẽ càng làm chứng này tệ hơn. Một vài trường hợp nặng cần được bác sĩ tư vấn.


Nói mớ và đái dầm cũng là 2 triệu chứng rối loạn giấc ngủ thường gặp, tuy nhiên chúng chỉ gây ra một số rắc rối nhỏ chứ không có hại gì đến sức khỏe.
Cao Nguyên (Tổng hợp)/nguồn link: Vietnamnet.vn

Chiêm ngưỡng hình ảnh cuộc đời đức Phật qua tranh



1. Trước khi giáng trần, thái tử Tất-đạt-đa (Siddhattha) đã trải qua nhiều kiếp tu hành chứng quả vị Bồ-tát, hiệu là Hộ Minh, an trú tại cung trời Đâu-suất. Theo lời thỉnh cầu của Phạm Thiên và Tứ Đại Thiên Vương, Bồ-tát giáng trần
2. Hoàng hậu Ma-da (Sirimahāmāyā) nằm mộng thấy một con voi trắng 6 ngà từ núi vàng, núi bạc đến và mang cho bà một cành hoa sen, từ đó bà mang thai.
3. Trên đường về quê mẹ, Hoàng hậu Ma-da ghé qua vườn Lâm-tì-ni và hạ sanh Thái tử ở đó, nhằm vào ngày trăng tròn tháng 4 âm lịch, năm 624 trước Tây lịch. Vừa sanh ra thái tử liền đi 7 bước, dưới mỗi bước đi là 7 đóa sen nâng gót chân Ngài , rồi Thái Tử dừng lại tuyên bố rằng: “Ta là bậc chí tôn cao quý nhất trên đời”.
4. Đạo sĩ A-tư-đà nghe tin Thái tử ra đời nên xuống núi viếng thăm. Diện kiến thánh nhan của thái tử, đạo sĩ vừa vui mừng rồi lại khóc than. Vui vì bậc Đại Thánh xuất hiện, nhưng khóc vì bản thân đạo sĩ đã quá già không được nghe chánh pháp của bậc Đại Thánh.
5. Tại buổi lễ Hạ điền, trong lúc mọi người mải mê tham dự lễ và vui chơi, Thái Tử an nhiên thiền định dưới gốc một đại thụ. Trước cảnh tượng uy nghiêm ấy, vua cha và mọi người đã đảnh lễ Thái Tử.
5. Tại buổi lễ Hạ điền, trong lúc mọi người mải mê tham dự lễ và vui chơi, Thái Tử an nhiên thiền định dưới gốc một đại thụ. Trước cảnh tượng uy nghiêm ấy, vua cha và mọi người đã đảnh lễ Thái Tử.
6. Lớn lên Thái Tử văn võ toàn tài. Trong cuộc thi võ nghệ của Hoàng Gia, Ngài sử dụng chiếc cung thần mà từ trước đến giờ chưa ai có thể giương nổi và đoạt giải quán quân.
7. Lên 16 tuổi, vâng lệnh phụ vương, Thái tử kết hôn với Công chúa Da-du-đà-la. Đôi vợ chồng sống hạnh phúc 13 năm trong 3 lâu đài lộng lẫy do vua cha xây cho và sanh được một con trai tên là La-hầu-la.
8. Một dịp, Thái Tử và Xa-nặc dạo chơi nơi 4 cửa thành và tận mắt chứng kiến 4 cảnh tượng: người già, người bệnh, người chết và một đạo sĩ tướng mạo đoan nghiêm.

9. Vào một đêm khuya, sau buổi dạ tiệc linh đình của hoàng cung, Thái Tử cảm thấy nhàm chán cuộc sống hưởng thụ và vượt thành xuất gia, bỏ lại vợ con đang chìm sâu trong giấc ngủ.
10. Thái tử cỡi con ngựa Kiền-trắc dẫn theo người hầu cận Xa-nặc vượt dòng sông Anoma trong đêm tối.
11. Qua khỏi dòng sông, Thái Tử cởi bỏ hoàng bào, dùng kiếm cắt tóc và bảo Xa-nặc cỡi ngựa về báo lại phụ vương, một thân một mình hướng về Hy-mã-lạp sơn quyết chí tìm đạo cứu khổ chúng sanh.

12. Sáu năm khổ hạnh rừng già, thân thể chỉ còn da bọc xương mà ý đạo vẫn chưa sáng. Đến khi nghe Trời Đế-thích hát về cách lên dây đàn, Thái Tử tỉnh ngộ ra và từ bỏ con đường khổ hạnh ép xác để thực hành Trung đạo.
13. Mục nữ Sujātā dâng sửa cúng dường, Thái Tử uống xong thấy tinh thần minh mẫn. Ngài ném bát xuống sông Ni-liên-thiền và nguyện rằng: “Nếu ta có thể chứng đắc Phật quả thì khi ta ném cái bát này xuống sông, nó trôi ngược dòng nước”. Nói xong Ngài ném cái bát xuống dòng sông, cái bát nổi lên mặt nước và trôi ngược dòng.
14. Ma vương cùng với ma binh vây quanh quấy phá dụ dỗ, nhưng Thái Tử vẫn không nao núng, một lòng an trú trong thiền định. Ma vương cảm phục và cúi đầu đảnh lễ.
15. Vào một ngày trăng tròn tháng 12 Âm lịch, khi sao mai vừa mọc, Thái Tử giác ngộ bốn chân lý: khổ, tập, diệt, đạo và chứng quả Vô Thượng Bồ đề, thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.
16. Ba nàng công chúa của Ma vương dùng sắc đẹp và những điệu múa lả lơi để quyến rũ đức Phật, nhưng bọn chúng đều thất bại.
17. Hai nhà thương buôn tên Tapussa và Bhalluka gặp Phật và xin cúng dường Ngài một bữa cơm. Tứ Đại Thiên Vương xin cúng dường Ngài bốn bình bát, nhưng Ngài chỉ nhận một bình bát.
18. Vì lợi ích cho chư thiên và nhân loại, đức Phật đã nhận lời thỉnh cầu của Phạm Thiên quyết định rời cội Bồ-đề lên đường hóa độ.
19. Trước tiên, Ngài đến Lộc Uyển tìm 5 anh em Kiều Trần Như là những bạn đồng tu khổ hạnh trước kia để chuyển Bánh Xe Pháp và thuyết bài pháp đầu tiên: Tứ Diệu Đế.
20. Yasa được Phật thuyết pháp và sau đó cùng với 54 người bạn xin Phật xuất gia. Cha mẹ và vợ con của Yasa là những người quy y Tam bảo đầu tiên.
21. Một đêm Đức Phật đến ngụ trong đền thờ thần lửa của Ba anh em nhà Ca-diếp và dùng thần thông thu phục rồng lửa canh giữ đền. Ba anh em Ca-diếp và 1000 đệ tử đều qui y Ngài. Tất cả sau đó đều đắc quả A-la-hán.
22. Vào ngày rằm tháng sáu, đức Phật giáo giới cho 1.250 vị Thiện lai Tỳ Kheo: “Không làm các điều ác, hãy làm các điều lành, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời chư Phật dạy”.
23. Ngày em trai của Ngài là Nan-đà thành hôn, đức Phật đến thọ trai, rồi trao bình bát cho Nan-đà và đứng dậy ra về. Nan-đà ôm bình bát theo Phật về Tinh xá. Về đến nơi, Phật khuyên chàng xuất gia, Nan-đà miễn cưỡng nhận lời, nhưng rất buồn khổ. Đức Phật đã dùng thần thông đưa Nan-đà lên các cõi trời rồi xuống các cảnh giới địa ngục. Nan-đà thấy thế mới nỗ lực tu tập, sau đó chứng đắc quả A La Hán.
24. Vua Tịnh Phạn và công chúa Da-du-đà-la gợi ý La-hầu-la xin đức Phật tài sản, nhưng Ngài chỉ cho La-hầu-la xuất gia, nên vua rất buồn khổ. Sau đó vua đề nghị đức Phật không nên nhận người xuất gia khi chưa có sự đồng ý của cha mẹ họ. Đức Phật nhận lời.
25. Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) trong nhiều kiếp đã là kẻ đối nghịch với đức Phật, khi xuất gia ông tiếp tục là kẻ chống phá, luôn âm mưu hại Phật. Nghiệp nhân nặng nề như thế nên ông bị quả báo đất rút vào địa ngục.
26. Di mẫu Kiều Đàm, mẹ kế của đức Phật, tự tay may bộ y dâng lên cúng dường, nhưng đức Phật từ chối và khuyên bà nên cúng dường cho vị tì-kheo nào chưa đủ, như thế phước báo sẽ nhiều hơn.
27. Khi vua Tịnh Phạn băng hà, đức Phật trở về kinh thành tự tay châm lửa hỏa táng để nhắc nhở hàng đệ tử về tấm gương hiếu hạnh.
28. Đức Phật dùng thần thông lên cung trời Đao Lợi (Tāvatiṃsa) để thuyết pháp cho thân mẫu.
29. Từ cung trời Đao Lợi trở về, chư Thiên đưa tiễn Ngài rất đông; hàng đệ tử xuất gia và tại gia cũng mừng đón.
30. Chàng Vô Não đang trên đường tìm kiếm sát hại người thứ 1000, khi gặp đức Phậtchàng ra lệnh Ngài dừng lại. Đức Phật nói rằng: “Ta đã dừng lại từ lâu rồi, nghĩa là đã dừng sự sát hại, còn người thì chưa”. Vô Não giật mình tỉnh ngộ và xin xuất gia, sau đó chàng chứng quả vị A La Hán.
31. Sau 49 năm thuyết pháp độ sanh, năm 544 trước Tây lịch, đức Phật nhập Niết Bàn giữa hai cây Sa-la tại rừng Câu-thi-na (Kuśinagara), thọ 80 tuổi.
32. Vì muốn có xá lợi của Phật, vua các nước đem quân vây thành. Dona khuyên can các vị vua không nên đánh nhau và hãy thực hành giáo huấn của Phật, đồng thời chia xá lợi một cách công bình.



Theo: Con Đường Chuyển Hóa Tâm Thức http://phapuyen.net
Nguồn link: http://chuadinhquan.vicongdong.vn/37330404/LICH-SU-DUC-PHAT-THICH-CA-BANG-TRANH

Giáo dục thánh thiện và Vipassana --Giáo sư P. L. Dhar; Mỹ Thanh dịch

Photo: flickr  Nhìn về phương diện giáo dục thánh thiện , Thiền Vipassana được diễn tả như là một phương thức để thanh lọc tâm trí, loại bỏ những bản năng thấp hèn để một người có thể thể hiện những ưu điểm của mình : như tình thương đại đồng, lòng tử tế, sự cảm thông, khoan dung, khiêm nhường, thanh thản,...


Albert Eisntein đã nói như sau, kiến thức là những gì còn lại khi tất cả những gì học được đều bị quên hết. Nếu chúng ta ước lượng cách giáo dục hiện tại với định nghĩa trên, thì chúng ta thấy, kết quả chỉ là những tranh chấp táo tợn, và tánh tự cao, đố kỵ hiện diện. Sự giáo dục ít nhất cũng đem lại cho chúng ta những hiểu biết, những kỹ năng chuyên môn, nhưng nó không mang lại cho ta sự phát triển về mặt nội tâm.

Kết quả là sự giáo dục chỉ đào tạo những học sinh tự cao, thiên về vật chất. Vì vậy trẻ em ở tuổi niên thiếu, thay vì mơ về vẻ đẹp, tình cao thượng và sự hoàn mỹ, thì chúng hiện nay mơ giàu sang để hưởng thụ, và bỏ thời gian để nghĩ cách làm cho có nhiều tiền. Bởi thế cho nên xã hội chúng ta hiện nay đang bị dằng xé bởi hai điều kinh khủng nhất, là sự tích trữ và sự tiêu thụ, cộng với những vấn đề về xã hội như tham nhũng, xung đột và bạo động. Vấn đề về môi trường như ô nhiễm không khí, và sự kiệt quệ về tài nguyên thiên nhiên, có thể đưa đến sự hiểm nguy cho cuộc sống con người trên quả địa cầu nầy. Những tư tưởng gia và những triết gia đủ mọi thành phần dù ở ngoại quốc hay ở Ấn độ, đều đồng ý là cần có một sửa đổi toàn diện về hệ thống giáo dục như một điều kiện tiên quyết để tìm ra giải pháp cho những cơn bệnh ngặt nghèo đang hoành hành chúng ta. Chỉ khi nào có sự thay đổi thiết yếu nơi bản năng thú tính, con người mới có thể sống hòa bình với chính bản thân họ -- đây là điểm quan trọng cần được giáo dục - vì những thay đổi phiến diện không sớm thì muộn sẽ bị đàn áp bởi những bản năng thú tính.

Quan điểm về giáo dục thánh thiện

Sự giáo dục cần được xem như là một sự tổng hợp của cuộc sống hơn là đơn thuần chỉ những câu trả lời cấp bách cho những thách thức trực tiếp.

Nói rộng ra, có bốn khía cạnh có liên hệ lẫn nhau, về đời sống của con người, được nhận diện như sau : khía cạnh thân thể, khía cạnh cảm giác, khía cạnh trí thức, và khía cạnh tâm linh.

Sự giáo dục về thánh thiện cần phải được phát triển mạnh mẻ nơi bốn khía cạnh nầy. Thí dụ, sự giáo dục về thân thể cần được hợp nhất với sự luyện tập các giác quan, để có được sự đồng nhất.

Đồng thời, sự giáo dục về những xúc cảm cần được nhấn mạnh với sự luyện tập tâm trí--để phát triển những tình cảm lợi ích như tình thương đại đồng, lòng từ bi, sự nhẫn nại, khiêm nhường, bình thản, v...v... và loại bỏ những bản năng thấp hèn như tham lam, ganh tỵ, tự kiêu, nóng nảy, v...v... Trong trường hợp những bản năng tốt đẹp được phát triển, thì một người có thể tạo được một liên hệ lành mạnh với xã hội.

Sự giáo dục về mặt trí thức không phải chỉ là sự phát triển khả năng suy luận, mà là khả năng để đáp ứng một cách độc lập, hợp lý, có lý trí dựa trên căn bản của sự hiểu biết về những hiện tượng khác nhau của thiên nhiên.

Cuối cùng là sự giáo dục về tâm linh cần được phát triển với sự hoàn hảo tâm trí, với sự hiểu biết bằng trực giác sự hiện hữu của chính mình và biết rõ mình cần phải làm gì trong cuộc sống nầy.

Hiện tại hệ thống giáo dục tân thời đã bỏ quên khía cạnh xúc cảm và tâm linh của bản tánh con người, và họ chỉ chú tâm đến khía cạnh thân thể và trí thức một cách nông cạn, hời hợt. Không phải là những nhà giáo dục và những nhà đặt kế hoạch học đường không biết đến sự thiếu xót nầy. Bởi vì trong những năm đầu 1966, uỷ ban Kothari đã công nhận sự cần thiết về dạy dỗ những giá trị xã hội, đạo đức, và tâm linh nơi học đường.

Xã hội Ấn độ vì những giai cấp, tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau đã ngăn bước cho một giải pháp hoàn hảo. Đã có những cố gắng để phổ biến sự giáo dục đạo đức một cách gián tiếp bằng những buổi cầu nguyện, tham khảo và những hội nghị tịnh tâm,... Những cố gắng bằng cách thực tập thiền định, giảng đạo, nói pháp trong những trường học Công giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, nào là trường của Maharishi Mahesh Yogi, hội đoàn Krishnamurti, Saibaba Trust,... Tuy nhiên, những việc nầy đã không được số đông hưởng ứng.

Hiện tại ở Ấn độ và những nước khác, gần đây đã có một phương cách rất khoa học để làm chủ và thanh tịnh hóa tâm trí, nếu phối hợp được với hệ thống giáo dục thì sẽ trở nên một phương thức được đại đa số chấp nhận, để nuôi dưỡng những khía cạnh tình cảm và tâm linh của con người. Phương thức nầy là một môn khoa học lâu đời nói về vật chất và tinh thần, được gọi là Thiền Vipassana. Sau đây là sự diễn tả ngắn gọn về phương thức của Thiền Vipassana, và làm thế nào để phối hợp được Thiền Vipassana với cách giáo dục tân tiến.

Thiền Vipassana

Nhìn về phương diện giáo dục thánh thiện , Thiền Vipassana được diễn tả như là một phương thức để thanh lọc tâm trí, loại bỏ những bản năng thấp hèn để một người có thể thể hiện những ưu điểm của mình : như tình thương đại đồng, lòng tử tế, sự cảm thông, khoan dung, khiêm nhường, thanh thản,..., và đồng thời sẽ cảm nhận được một sự thấu hiểu sâu sắc về sự thật của thiên nhiên và mục đích hiện hữu của

con người. Điều nầy có thể thực hiện được với sự phát triển của Chánh Kiến. Chánh kiến là phát triển sự chú tâm, sự nhận biết, trong mọi lúc, mọi trường hợp; chú tâm để ý đến tất cả những gì xảy ra cho thân cũng như tâm. Với sự hiểu biết chính xác về tính cách vô thường của mọi sự vật, bằng sự thanh tịnh hóa tâm trí -- dần dà tâm trí ta sẽ được thanh thản, bình an.

Để sự thực tập Vipassana được có kết quả tốt, quan trọng nhất là việc giữ năm giới như : không giết hại, không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, và không dùng những chất thuốc kích thích, có hại. Một vi phạm trong năm điều kể trên sẽ làm cho tâm trí bị bất an, giao động, và chắc chắn sẽ làm trở ngại cho việc thực tập Thiền Vipassana. Điều hiển nhiên là sự thực tập Vipassana sẽ cũng cố tinh thần chúng ta và cho chúng ta một sức mạnh để giữ giới được hiệu quả hơn. Những điều chỉ dẫn đầy đủ về việc thực tập Vipassana được hướng dẫn bởi một vị thầy nơi các thiền viện; nhưng những lý luận căn bản và những đặc điểm của phương thức nầy sẽ được giải thích nơi đây.

Bước đầu thực tập là sự chú tâm, hoặc chánh niệm, bao gồm sự chú tâm nơi cơ thể. Phương thức thực tập ban đầu là chú tâm đến hơi thở, sự thở ra, thở vào của cơ thể. Phương thức nầy gọi là Anapana - sự phát triển chánh niệm, cái nầy không phải là 'sự nắm giữ' hơi thở giống như một số thực tập khác ( praa.naayaama ). Đây chỉ là sự quan sát, sự theo dõi chu trình tự nhiên của hơi thở. Chỉ quan sát để biết hơi thở nào ngắn, và hơi thở nào dài. Để giúp thiền sinh thực tập một cách có hiệu quả hơn, thiền sinh được chỉ dẫn để quan sát, chú tâm vào những điểm vi tế hơn, như nơi cánh mũi nào mà hơi thở đi ra hoặc đi vào, hơi thở có chạm vào nơi nào chung quanh lỗ mũi không.

Sự thực tập nầy là quan sát sự thật như nó là, không chút ham muốn cũng không chút ghét bỏ. Hiển nhiên là lúc ban đầu ta không thể nào thực tập chú tâm một cách liên tục, chỉ cho dù trong một hay hai phút ngắn ngủi. Tâm trí theo thói quen sẽ chạy lung tung, nhưng thiền sinh chỉ cần theo dõi và quan sát sự việc nầy một cách sáng suốt, chỉ quan sát sự lăng xăng của tâm trí, và rồi chuyển sự chú tâm sang hơi thở.

Với sự thực tập quan sát hơi thở (Anapana) đều đặn trong vòng vài ngày, sự chú tâm sẽ được gia tăng, hơi thở sẽ trở nên nhẹ và điều hòa. Vì hơi thở có liên hệ mật thiết với tâm trí, cho nên một khi hơi thở trở nên điều hòa thì tâm trí sẽ được yên bình, không còn giao động.

Tâm trí sẽ trở nên bén nhạy hơn và có thể quan sát đến những hiện tượng vi tế hơn nơi thân và tâm, thí dụ, thấy và cảm nhận được những cảm giác đang xuất hiện chung quanh lỗ mũi, trong lúc thực tập theo dõi hơi thở.

Điều kế tiếp trong việc thực tập Chánh Niệm là sự chú tâm nơi những cảm thọ của thân thể. Và đây là một đề mục thiền quán về những cảm giác nơi thân, nhưng lại cảm nhận được bởi tâm trí.

Trong lúc mà ta đang giám sát kinh nghiệm về những cảm thọ, thì thật ra ta đang quan sát sự phản ứng liên kết giữa thân và tâm. ( vedana a-samosara.naa sabbe dhamma: Tất cả những gì xuất hiện nơi tâm trí thường được kèm theo bởi những cảm giác). Thêm vào đó, cảm giác (Vedana) cung cấp sự liên hệ mật thiết giữa ảnh hưởng (phassa) của sáu cửa giác quan và kết quả là phản ứng thương hay ghét (ta"nhaa), cái nầy là gốc rễ của tất cả sự đau khổ. Sự khám phá sâu sắc nầy là một trong những quan điểm căn bản trong giáo lý của Bụt Gotama, một vị khoa học gia xuất chúng nói về tương quan giữa tinh thần và vật chất.

Sự thực tập Vipassana bao gồm "cảm nhận" những cảm giác của cơ thể một cách thấu đáo, không phản ứng hay đánh giá bất cứ một cái gì, cho đến lúc chúng ta phát triển được sự thanh thản, bình an ở mức độ sâu nhất. Thường thì nói rất dễ nhưng làm rất khó, bởi vì vô thức "cảm nhận" được những cảm giác của cơ thể; và vì vô thức rất là cứng đầu, hay chống đối, và thường có thói quen phản ứng theo cách riêng của nó.

Nó hay phản ứng với những gì dễ chịu bằng cách ham muốn và những gì khó chịu bằng chán ghét, và vì vậy đã cũng cố và khuyến khích khuynh hướng của tâm trí chạy theo những cảm giác dễ chịu và chạy trốn những cảm giác đau đớn.

Thực tập về chánh niệm và sự thanh thản bằng cách chú ý đến những cảm giác là để cắt đứt thói quen nầy một cách từ tốn. Ta lập đi lập lại sự quan sát về những cảm giác như chúng thật là : luôn luôn thay đổi-luôn luôn xuất hiện, có một lúc, rồi biến mất, và rồi tạo cơ hội cho những cảm giác mới xuất hiện. Với sự thực tập đều đặn, thói quen phản ứng theo cảm giác sẽ được thay thế bằng một kinh nghiệm về sự thật của vô thường hay anicca. Thiền sinh được huấn luyện để tập trung vào một điểm và gom tất cả sự chú ý vào những đổi thay của cảm giác, chỉ nhận thức chúng như chúng là, không ham thích cũng không chán ghét -- đấy

là ý nghĩa của Vipassana. Vipassana, là một chữ Pali, dịch sát nghĩa là "thấy sự vật như nó là" - trong thể tự nhiên của nó, và tính chất của nó là vô thường (anicca).

Một người có thể dần dà tập cho tâm trí quan sát những cảm giác của thân thể-không có nghĩ đây là những cảm giác của tôi- cũng cách đó mà một người có thể quan sát một cách bàng quan những ngọn sóng xuất hiện và biến mất nơi đại dương. Với sự thực tập một cách bàng quan, thái độ về "hưởng thụ" - một trong những hiện tượng chánh của cái Tôi- sẽ bị yếu đi.

Trong lúc có sự phản ứng của thân và tâm, thiền sinh chỉ cần quan sát tính chất phù du (anicca) của những phản ứng nầy, nhận ra được tiến trình tự nhiên của thân và tâm. Nhìn được như thế thì thái độ thanh thản, bình an sẽ hiện diện và dần dần sự thanh thản sẽ được cũng cố mạnh thêm theo chu trình thực tập của thiền sinh.

Sau một thời gian huân tập, thiền sinh sẽ có được sự tập trung cao độ, và lúc nầy thiền sinh sẽ dễ dàng nhận thức được những phản ứng của tâm trí. Sự chú tâm cao độ sẽ giúp thiền sinh nhận rõ những cảm thọ của thân và tâm; thiền sinh không tự đính chính hay tự kết tội, mà chỉ nhận xét một cách khách quan những gì xuất hiện và biến mất. Và như thế, thiền sinh sẽ cảm nhận được một cách thấu suốt sự vô thường (anicca ) của thân & tâm .

Kết quả quan trọng của Vipassana là, sự thực tập nầy giúp cho tâm trí nghiêng về mục đích giải thoát để đạt giác ngộ. Đồng thời, nó cũng giúp cho một người trở nên chắc chắn, tự tin hơn, và như thế họ có thể dễ dàng vượt qua những chướng ngại gặp phải trên bước đường tu tập.

Vai trò của Vipassana trong vấn đề giáo dục

Bây giờ chúng ta hiểu bằng cách nào Vipassana có thể bổ khuyết cho sự giáo dục tân tiến hiện nay - chẳng hạn, sự tập luyện về tâm trí, dẫn đến một đời sống huân bình, hạnh phúc, và có ý nghĩa. Thiền Vipassana, có nhận xét rất khách quan về những hiện tượng có mặt nơi thế giới sắc dục nầy, dưới sự quan sát của một tâm trí bình an, thanh thản. Những lợi ích của Vipassana được nói đến rất nhiều trong những buổi hội thảo và đã mở màn cho một cuộc nghiên cứu được hướng dẫn bởi Hội Nghiên Cưú Vipassana (Igatpuri, India) trong nhiều phạm vi về đời sống con người.

Nơi đây, chúng ta chỉ nói đến những khiá cạnh có liên quan đến sự giáo dục mà thôi.

Thái độ " chỉ chú ý" ( chỉ nhận biết mà không phản ứng ) làm chậm lại sự chuyển tiếp từ ý nghĩ đến hành động, để cho người thực tập có thêm thời gian - thời gian nầy cốt yếu cần thiết để đi đến một quyết định sáng suốt. Nhờ đó, khuynh hướng nghiêng về bản năng thú tính cũng bị kềm chế một cách có hiệu quả, và sự suy nghĩ của chúng ta không bị lệch lạc. Nhờ vậy, ngăn ngừa được những điểm tiêu cực như sự hấp tấp, tính không khoan dung, không điều độ, và tính hung hăng nơi giới thanh thiếu niên. Gần đây với ảnh hưởng thế giới vật chất, giới trẻ thường có những tính tiêu cực kể trên. Nhưngvới sự giáo dục như trên, sự liên hệ thầy trò cũng sẽ trở nên tốt đẹp hơn.

Về mặt tích cực, sự thực tập Vipassana với cái nhìn khách quan về mọi vật, cộng thêm sự thấu hiểu sâu sắc về vô thường (anicca), khả năng của chúng ta sẽ được nâng cao khi phải đối diện với những thăng trầm của cuộc đời . Chúng ta sẽ không tìm lối thoát bằng cách dùng thuốc lá, rượu hay thuốc, mà trong thế giới hiện đại ngày nay, đây là những lối thoát ta thường thấy. Thái độ thanh thản nầy làm giảm bớt sự ham muốn vật chất, như vậy những " cần thiết cao cả" sẽ có chỗ để xuất hiện - như tính công bình, thành thật, hay giúp đỡ, tình thương, lòng từ, v...v... Đây là những điểm quan trọng căn bản cho nhu cầu của con người mà khoa tâm lý học cũng công nhận. Cuộc nghiên cứu vừa qua cho thấy rằng những người có được những "cần thiết cao cả" thường có nhiều sáng kiến hơn và họ chịu đựng giỏi hơn những người mà nhu cầu thiết yếu chỉ là dục vọng.

Sự quan sát tâm trí là một dụng cụ mạnh mẻ để ta tự học tập, nhìn nhận ra những ưu và khuyết điểm của chính mình mà không làm tổn thương đến lòng tự trọng. Thái độ bỏ xót khuyết điểm và phóng đại ưu điểm được kiểm soát . Một người dần dần có được sức mạnh nội tâm, và thắng được những yếu điểm của mình, mà không cần phải đè nén, hoặc phải sử dụng toàn lực ý chí của mình. Đè nén hay dốc sức đều có hại về sau. Sự tự khảo sát sáng suốt nầy tăng cường sự thành thật đối với bản thân, gia tăng sự khoan dung đối với người khác, giúp tăng trưởng sự khiêm cung, từ bi, và làm giảm tính kiêu căng.

Sự nhận thức đúng kèm theo sự thanh thản rất cần thiết cho người trí thức cũng như nhà khoa học chân chính. Sự nhận thức khách quan đối với mọi vật, sẽ giúp làm gia tăng khả năng phân tách và khả năng phán đoán.

Thiền Vipassana tăng cường về phương diện quan sát một cách rất khoa học. Mỗi thiền sinh, sau một thời gian dài luyện tập quan sát các cảm giác- họ cảm nhận được cả thân thể chỉ là một khối rung động. Kinh nghiệm nầy tương ứng với sự diễn tả về lượng tử của vật chất. Kinh nghiệm trực tiếp nầy cung ứng sự hiểu biết về hiện tượng vật chất, còn rõ ràng hơn cả những giải thích phương trình toán học được dạy trong lớp.

Một điều quan trọng khác nữa là sau một thời gian thực tập theo dõi hơi thở, người thực tập sẽ có khả năng tập trung cao hơn khi làm một việc nào đó, và điều nầy rất có ích lợi trong vấn đề học vấn. Như đã trình bày ở trên, tính chất của sự thực tập nầy là luyện cho tinh thần sự chú tâm liên tục vào một đối tượng (thí dụ - hơi thở), và làm giảm thiểu sự phân tán tâm trí, như mơ mộng, nghĩ ngợi lung tung, những điều nầy là những chướng ngại bậc nhất cho việc tập trung tư tưởng. Một khi tâm trí bị phân tán, vọng tưởng xuất hiện (cho dù lúc ta đang tọa thiền hay làm việc trong ngày), nếu ta dùng những vọng tưởng nầy làm đề mục cho sự quan sát, thì sau đó ta sẽ thấy rằng 'chúng' dần dần biến mất. Kết quả là ta lấy lại được sự tập trung của ban đầu.

Quan sát mọi vật với một cách khách quan không phản ứng, là giải thoát chính mình khỏi những ràng buộc, và đây là mục đích chánh của việc giáo dục về tâm linh. Theo lời của Ngài Nyanponika Thera :

" Với sự thực tập, ta dần dần nhận thấy được ai ai cũng đều có thể đạt được hạnh phúc bằng cách không bám viú vào vật chất. Điều nầy giúp cho chúng ta một bước đầu tự tin hơn và một ngày nào đó, chúng ta tin mình có thể bước ra khỏi thế giới khổ đau nầy. Thực tập giúp chúng ta hiểu được là có gì đó cao hơn, một sự giải thoát hoàn toàn, mà hiện tại chúng ta chỉ nghe thấy bằng câu ám thị ' sống trong cuộc đời mà không dính nơi cuộc đời."

Để đạt được mục đích, điều kiện quan trọng nhất là phải làm sao thấu hiểu sâu sắc về những tính chất căn bản của cuộc đời. Vô thường (anicca) là một tính chất chủ yếu mà Thiền sinh Vipassana thường phải đối đầu. Một khi mà kinh nghiệm nầy được thấm nhuần, thì những tính chất khác-thí dụ như Khổ (dukkha) và Vô Ngã (anattaa)- sẽ tự động phát triển, dẫn dắt ta đến sự hiểu biết rõ ràng về ý nghĩa của cuộc đời và cách để đạt mục đích nầy nằm ngay nơi sự giáo dục về tâm linh.

Kết luận

Rất rõ ràng, với những giải thích như trên, là Thiền Vipassana là một phương pháp rất khoa học, một tư tưởng văn hóa toàn cầu, không bị lệ thuộc bởi tông phái, giáo điều hay tục lệ. Vipassana cần được mọi giới chấp nhận, ở đây, được chấp nhận như một phần của sự học vấn. Những lợi ích thiết thực của Vipassana đã được chứng thực bởi hàng ngàn người thực tập- từ già đến trẻ, mọi giới, mọi thành phần xã hội, mọi miền đất nước, và mọi tôn giáo. Giấc mơ của Vivekananda về sự giáo dục 'mới' có thể trở thành sự thật, khi Vipassana được hội nhập vào sự giáo dục hiện đại. Đây là lúc mà ta phải hành động một cách thiết thực ít nhất trên phương diện thử thách, để đánh gía một cách rất khoa học về những lợi ích của Vipassana trong một thời gian hạn định.

Những điểm quan trọng cần được nhắc đến bao gồm:

1. Làm sao để thúc đẩy học sinh, thầy giáo, và bộ giáo dục nơi các trường học để giới thiệu anapana và Vipassana, và giảm thiểu sự chống đối nơi học sinh và thầy giáo.

2. Một thời gian thực tập cần phải có trước khi các thầy, cô bắt đầu dạy thực tập thiền cho các học sinh nơi trường tiểu,trung,và đại học.

3. Chương trình và thời gian thực tập nơi những trại hè được thành lập để dạy về thiền Anapana cho giới trẻ, bị ngăn trở, hạn chế bởi sự ngủ lại đêm.

4. Làm sao để giữ sự thực tập được liên tục với thời khóa biểu bận rộn của chương trình học đường.

5. Có cần phải có một môn học chuyên về Thiền lồng trong chương trình học của trường tiểu, trung và đại học không ?

6. Làm sao để đánh giá ảnh hưởng lợi ích của Vipassana nơi thầy cô giáo, cũng như học sinh và sự truyền đạt kiến thức nơi học đường.

7. Làm sao để hội nhập Vipassana với chương trình tham vấn ý kiến nơi các trường tiểu, trung và đại học.

Một chương trình thích hợp có thể mở đường cho một giáo dục thánh thiện đúng nghĩa nếu chương trình được áp dụng một cách thành khẩn. Những trường học có được chương trình như trên sẽ góp phần đào tạo những con người hoàn chỉnh và như vậy một xã hội tốt đẹp hài hòa sẽ không còn xa nữa.

=========

Lời cảm tạ
Cảm ơn Bác sĩ Kishore Chandiramani đã đọc và sửa chữa bản thao và cho những ý kiến đáng giá cho bài viết này.
Sách tham khảo:
(1). Krishnamurti on Education, Krishnamurti Foundation, 1992.
(2). Swami Vivekananda on Education, compiled by T.S. Avnashilingam, Sri Ramakrishna Mission Vidyalaya, Coimbatore, 1993.
(3). "A New Education", all India Magazine, Sri Aurobindo Society, Oct. 1990; and On Education, All India Magazine, Sri Aurobindo Society, Nov. 1990.
(4). P.L. Dhar and R.R. Gaur : "Appropriate Enginêring Education", paper presented at National Workshop on Technology Assessment, a Futuristic Viewpoint, 1IT, Delhi, 1988.
(5). Report of Education Commission (1964-66) : Education and National Development, Ministry of Education, Govt. of India, 1966.
(6). Venerable Nyanaponika Thera., The Heart of Buddhist Meditation, Rider, London 1962.
(7). Amadeo Sole-Leris., Tranquility and Insight, Shambala, Boston 1986.
(8). Sayagyi U Ba Khin Journal, Vipassana Research Institute, Igatpuri, India, 1991.
(9). Mahaavatipa.t.tha ana Suttam", Vipassana Research Publications, Igatpuri, India, 1993.
(10). A. Maslow. Motivation and Personality, New York; Harper Press 1954.
(11). Pradeep N. Khandwala, "Four Eye: Excellence Through Creativity;" A.H. Wheeler an 0.1 Allahabad, 1984.
(12). P.L. Dhar and R.R. Gaur., Science and Humanism


Giáo sư P. L. Dhar; Mỹ Thanh dịch
Nguồn link: http://www.phapvan.ca/pv/Default.asp?15659=5&596=20&759=3594&59615=4