Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013

Sống với Pháp trong cuộc đời - Ajahn Chah


Có một số người vẫn chưa hiểu tính chất của sự thực tập Thiền. Họ nghĩ rằng thiền hành, tọa thiền và nghe pháp thoại là thực tập.
Thật là như vậy, nhưng đây chỉ là những thực tập phiến diện, sự thực tập thật ra nằm nơi phần tinh thần, với một đối tượng.  Ðấy mới là sự thực tập thật sự.  Ví dụ khi người ta nói một điều gì đó mà mình không thích thì sự bực dọc, tức tối nổi lên; nếu họ nói gì đó mà ta thích thì ta vui vẻ và đồng lòng.   Và đấy là lúc mà ta cần phải thực tập.  Thực tập như thế nào ?  Ðây mới là vấn đề chính.

Nếu chúng ta chỉ luôn luôn chạy theo sự sung sướng và quay lưng với đau khổ thì suốt đời ta không thấy được pháp.  Thật là vô ích!  Khi sung sướng hay đau khổ xuất hiện, chúng ta hãy thực tập giáo pháp để thoát khỏi sự kềm chế của chúng, và đây mới là sự thực tập tốt, có lợi ích.

Thông thường, khi chúng ta đối diện với một điều bất như ý, chúng ta không chấp nhận nó.  Như người ta thường than van : " Ðừng làm phiền tôi! Tại sao đổ lỗi cho tôi ?" Ðây là một người hoàn toàn bị 'bưng bít' và bị tách rời.

Lúc nầy là lúc mà ta cần phải thực tập.  Khi người ta phê bình, chúng ta nên lắng nghe.

Nếu họ đang nói sự thật ?  Chúng ta nên cởi mở cõi lòng và gắng sửa đổi.  Có thể có một điều nào đó mà họ nói đúng, và vì tự ái ta đã phản ứng lại và chống đối họ.  Nếu người ta chỉ lỗi của mình cho mình thấy thì mình nên cố gắng loại bỏ thói xấu ấy.  Và đây mới là sự thực tập của một người có trí tuệ.

Có những người không chịu được sự phê bình, họ rất là tự cao.  Và như vậy họ quay lại và gây gỗ.  Ðây là một sự thật hiển nhiên khi một người lớn đối xử với một đứa nhỏ.  Ðôi lúc những đứa trẻ nói những điều rất là hay, rất là thông minh, nhưng nếu bạn là bậc cha mẹ, chẳng hạn, thì bạn đâu dễ dàng gì mà chấp nhận.  Nếu bạn là một thầy, cô giáo mà học sinh nói một điều gì đó mà bạn không biết, bạn đâu có chấp nhận dễ vậy. Và nếu nghĩ như thế thì đã sai rồi.

Trong thời Ðức Phật còn tại thế, một đệ tử của Phật rất là thông minh.  Một lần, trong lúc đang giảng pháp, Phật quay sang và hỏi người đệ tử," Sariputta, ông có tin điều nầy không ?" Ngài Sariputta đáp, " Thưa, con chưa tin." Phật liền khen, " Giỏi lắm, Sariputta, ông thật là một người sáng suốt.   Một người sáng suốt không bao giờ tin liền một điều gì, họ phải lắng nghe với một tinh thần cởi mở, và so sánh để thấy được sự thật của việc đó trước khi kết luận là tin hay là không tin."

Nơi đây Ðức Phật đã làm một gương sáng cho những vị thầy.  Những gì Ngài Sariputta nói là sự thật, Ngài chỉ nói như Ngài biết.  Vài người cho rằng khi nói như thế là mình đang đánh giá người thầy, và như vậy là vô phép, cho nên họ rất sợ phải nói lên sự thật.  Họ cứ nghe và đồng ý.  Thường thì thiên hạ thích như thế hơn, nhưng Ðức Phật thì không thấy mếch lòng. Không có gì phải xấu hổ khi mình không biết và nói tôi không biết. Vì thế mà Ngài Sariputta mới nói "Thưa, con chưa tin.".  Ðức Phật đã khen ông.

"Vị tỳ kheo nầy thật thông minh, sáng suốt.  Suy nghĩ rất kỹ trước khi quyết định tin hay không tin." Ðây là một gương sáng cho những người thầy sau nầy đối với học trò của mình.   Ðôi lúc chúng ta học được nhiều điều hay nơi trẻ em, vì thế đừng cứng ngắc tin vào quyền hạn hay địa vị của mình.
Trong khi bạn đứng, ngồi, hay đi đây đó, bạn vẫn có thể học được nhiều điều ở chung quanh mình.  Chúng ta học một cách tự nhiên, mở lòng ra với mọi vật, dù là thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm hay tưởng tượng.  Người sáng suốt thì quan tâm đến tất cả mọi thứ.   Thực tập đúng nhất là khi mà chúng ta không còn phải lưu ý cân nhắc đến mọi thứ trong tư tưởng.

Nếu chúng ta còn chưa nhận biết sự thích hay không thích lúc chúng xuất hiện, thì lúc đó vẫn còn phải lưu tâm đến những ý trong tư tưởng.  Nếu chúng ta biết được sự thật của những thứ nầy, chúng ta sẽ nghĩ : " Ô, đâu có gì trong cái cảm giác thích nầy.  Ðây chỉ là một thứ cảm giác xuất hiện rồi sẽ biến mất.  Không thích cũng thế, chỉ là một cảm giác có rồi mất.  Tại sao chúng ta phải rắc rối với chúng?" Nếu chúng ta nghĩ sung sướng hay đau khổ là những thứ mà ta sở hữu được, thì chúng ta sẽ bị nguy to, chúng ta sẽ không bao giờ thoát khỏi dây xích vô tận của thương và ghét.  Và phần đông nhiều người trong chúng ta đều nằm trong trường hợp nầy.

Hiện nay khi thuyết pháp người ta không chú ý đến tư tưởng, không bàn về sự thật.  Nếu bạn nói về sự thật thì người ta sẽ nói, " Ông đó không biết gì về thời gian và không gian, ông ta không biết nói chuyện cách tử tế". Nhưng mà con người cần phải nghe sự thật.  Người thầy đúng nghĩa sẽ chỉ nói sự thật, họ không nói bằng ký ức.  Phần đông chúng ta khi nói chuyện, chúng ta nói bằng ký ức, và nói để xưng tụng chính mình.  Người thầy thật sự thì không như thế, ông ta chỉ nói sự thật, sự thật như nó là.
Người ta thường hay không hiểu khi vị thầy giảng về sự thật, cho dù ông thầy có cố gắng cách mấy, họ vẫn không hiểu.   Hiểu được pháp (dharma) không phải là một điều dễ.  Nếu bạn hiểu được pháp thì bạn nên thực hành theo sự hiểu biết của mình.  Không cần thiết phải trở thành tu sĩ, mặc dầu hình thức tu sĩ là phương cách tốt nhất để thực hành.  Ðể thực hành đúng nghĩa bạn phải nên quên đi sự hỗn loạn của thế giới, phải từ bỏ của cải cũng như gia đình, phải vào rừng.  Rừng cây là nơi thực tập lý tưởng nhất.
Nhưng nếu chúng ta còn gia đình và bổn phận thì làm sao để thực tập ?
Vài người nói rất là khó mà thực hành khi chúng ta còn là cư sĩ.  Hãy nhìn xem nhóm nào đông người nhất, nhóm tu sĩ hay cư sĩ ?  Dĩ nhiên là cư sĩ nhiều hơn .  Nếu mà chỉ có nhóm tu sĩ thực tập còn cư sĩ thì không, thì tất nhiên sẽ có nhiều vấn đề lộn xộn.  Ðây là hiểu sai.  " Tôi không thể trở thành tu sĩ..." Trở thành tu sĩ không phải là điểm đáng nói!

Trở thành tu sĩ không có nghĩa lý gì cả khi mà bạn không thực tập.

Nếu bạn thật sự hiểu pháp thì địa vị hay nghề nghiệp gì gì đi nữa, làm thầy cô giáo, làm bác sĩ, làm công chức ... bạn vẫn có thể thực tập pháp trong mỗi giây phút trong ngày.

Nghĩ rằng mình không thể thực tập vì mình là cư sĩ thì ta đã đi sai đường rồi.

Tại sao con người có thể tìm ra động lực nào thúc đẩy mình làm nhiều việc ?  Nếu họ cảm thấy họ thiếu vật gì thì họ cố gắng làm để cho có được.   Nếu có đủ lòng ham muốn, con người có thể làm mọi việc, vài người nói, "Tôi không có thời gian để mà thực hành pháp." Tôi nói, " Vậy sao bạn có thời gian để thở ?" Hít thở là việc quan trọng, việc sống còn của đời sống con người.  Nếu họ thấy thực hành pháp cũng quan trọng không kém gì sự hít thở của đời sống thì họ sẽ thực tập liền.
Bạn không phải chạy vòng vòng hoặc phải nhọc nhằn khi thực hành pháp. Chỉ cần chú ý đền những cảm giác đang xuất hiện nơi tư tưởng bạn.  Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, thân thể xúc chạm, ... tất cả đều xuất hiện nơi tư tưởng, " cái mà biết".  Khi mà tư tưởng nhận thấy những điều nầy thì điều gì xảy ra?  Nếu chúng ta thích vật đó thì lập tức chúng ta cảm thấy sung sướng, nếu chúng ta không thích thì chúng ta cảm thấy bực bội.  Tất cả chỉ có như vậy thôi.

Vậy thì bạn đi đâu để tìm hạnh phúc trong cuộc đời nầy ?  Chẳng lẻ bạn chờ đợi mọi người chỉ nói những điều hay,những điều dễ nghe trong suốt cuộc đời bạn?  Có thể như thế được không ?  Thật là hoang tưởng.  Nếu không được, thì bạn sẽ đi đâu ?  Thế gian chỉ có thế, chúng ta cần phải rõ thế gian - Lokavidu-- biết được sự thật của thế gian.  Ðức Phật đã sống nơi thế gian, chứ không ở đâu khác.  Ngài cũng có gia đình, nhưng Ngài thấy được giới hạn của nó và Ngài đã tách mình ra khỏi chúng.  Bây giờ làm thế nào cho người cư sĩ thực tập?  Nếu bạn muốn thực tập thì bạn phải cố gắng đi con đường đã chọn.  Nếu bạn cố gắng thực hành đúng cách thì với sự thực tập bạn sẽ dần dần thấy được giới hạn của đời sống nầy và sẽ có thể buông bỏ một cách dễ dàng.

Người dùng rượu đôi khi nói, " Tôi không thể bỏ được rượu". Tại sao họ không bỏ được?  Bởi vì họ không thấy được nguy cơ của sự nghiện rượu.

Nếu họ thấy rõ sự nguy hiểm của rượu thì họ sẽ tức thời từ bỏ rượu, không cần phải đợi người khuyên răn.  Nếu bạn không thấy được cái nguy cơ của một sự việc thì làm sao bạn có thể thấy được sự lợi lạc khi từ bỏ việc đó.

Như thế sự thực tập của bạn sẽ không có kết quả, bạn chỉ đùa chơi với sự thực tập.  Ví như có người chài lưới nghe thấy có một vật đập đập trong bẫy giăng cá.  Nghĩ rằng đó là một con cá, anh ta thò tay vào trong bẫy. Vì không thấy được bên trong, anh ta có 2 ý nghĩ :  có thể là một con lươn, hoặc có thể là một con rắn.  Nếu anh ta liệng cái bẫy thì có thể anh ta sẽ hối tiếc lắm, nếu đấy là một con lươn.  Ngược lại, nếu là con rắn anh ta có thể bị rắn cắn.  Ngay lúc nầy anh ta đang phân vân lưỡng lự.  Sự ham muốn được con lươn rất mạnh nên anh cố gắng tìm cách để xem bên trong bẫy,anh thấy da có sọc, có vằn lập tức anh liệng nó xuống nước.  Anh không cần đợi ai phải nói cho biết, "Ðó là con rắn, liệng đi!" Hình dạng con rắn cho anh biết nhanh hơn là lời nói.   Tại sao?  Vì khi anh thấy được sự hiểm nguy--rắn có thể cắn!  Cũng thế, trong khi thực hành pháp, chúng ta sẽ thấy được sự vật như nó là và chúng ta sẽ không ngần ngại mà từ bỏ những thứ có tác hại cho mình.
Con người không thực tập bằng cách nầy, họ thực tập cho những thứ khác.

Họ không suy ngẫm mọi sự vật, họ không suy nghĩ về già, bệnh, và chết.

Họ chỉ nói về không già, và không chết, vì thế họ không có lòng để thực hành pháp.  Họ đến để nghe pháp thoại, nhưng thực ra họ chẳng có nghe.

Ðôi lúc tôi được mời đến nói chuyện ở những nơi hội hợp quan trọng, nhưng thật là phiền cho tôi khi phải đi.  Tại vì sao?  Vì khi tôi nhìn những người có mặt ở đó, tôi thấy rõ là họ đến không phải để nghe pháp thoại.  Vài người mang mùi rượu nặc nòng, họ hút thuốc, họ tán gẫu...Nói pháp thoại ở những nơi nầy thật là không có lợi ích.  Người ta phụng phịu, lơ đãng, họ nghĩ, "Chừng nào ông thầy mới hết nói đây?... Làm cái nầy không được, làm cái kia không được..." và cứ như thế tư tưởng họ chạy lung tung.

Ðôi lúc họ mời tôi đến để nói chuyện chỉ vì xã giao thôi. " Thưa Thầy, xin Thầy đến cho chúng con một bài pháp thoại."

Họ không muốn tôi nói nhiều, vì có thể làm họ khó chịu!  Khi mà tôi nghe nói như vậy, thì tôi đã hiểu việc ra sao rồi.  Những người nầy không thích nghe pháp.  Pháp thoại làm họ khó chịu.  Nếu tôi chỉ cho một bài pháp ngắn thì họ sẽ không hiểu.  Cũng như khi bạn chỉ ăn có một ít, có đủ no không ?

Dĩ nhiên là không rồi.

Ðôi lúc tôi đang nói để giới thiệu bài pháp thoại bữa đó, thì có một ông say lớn tiếng, " Ðược rồi, tránh đường, tránh đường, hãy nhường lối cho Thầy ra!"  --  ông ta muốn đuổi tôi ấy mà!  Khi mà gặp những người như thế, tôi hay suy ngẫm về bản chất của con người.   Giống như là một người có chai nước đầy rồi mà còn đi xin thêm nước.  Ðâu còn chỗ nữa mà bỏ thêm vào.

Thật là phí thời gian và công sức mà giảng dạy cho họ, vì tư tưởng họ đã đầy ấp rồi.  Nếu còn bỏ thêm vào thì chỉ làm tràn một cách vô ích.  Nếu chai của họ trống thì còn có chỗ mà bỏ nước vào, và như thế thì lợi ích cho cả 2 người, người xin cũng như người cho.

Cũng như vậy, khi mà người ta thật sự muốn nghe pháp thoại, họ ngồi yên lặng, lắng nghe chăm chú, tôi sẽ thấy hứng thú giảng dạy cho họ hơn.  Nếu họ không chú ý thì cũng như người đã có chai nước đầy...không còn chỗ để bỏ thêm gì khác.  Thật là phí thời gian của tôi khi nói chuyện với những người như thế.  Trong những trường hợp nầy, tôi thật không có sức để mà giảng dạy.  Bạn không thể bỏ nhiều công sức trong lúc cho, khi mà người có mặt không bỏ ra công sức để thâu nhận.
Thời gian gần đây, những cuộc pháp đàm đều như thế, và càng lúc càng tệ.

Con người không kiếm sự thật, họ học chỉ để có được sự hiểu biết cần thiết để mà làm ra tiền,  lo cho gia đình, và nuôi sống bản thân. Học sinh hiện nay biết nhiều hơn học sinh thời trước.  Họ học hỏi được nhiều hơn, và mọi thứ tiện lợi hơn.  Nhưng đồng thời họ cũng lộn xộn hơn và khổ hơn lúc xưa.

Tại sao như vậy?  Bởi vì họ chỉ chú trọng đến cái hiểu biết để sau dùng làm phương tiện sinh sống.

Cả đến giới tu sĩ cũng như thế.  Ðôi lúc tôi nghe họ nói, " Tôi không trở thành tu sĩ để thực hành pháp. Tôi chỉ thọ giới để được học".  Ðây là lời nói của người đã tự tách rời khỏi con đường thực tập.  Không có tương lai, đây là ngõ cụt.  Khi mà những người thầy như vầy giảng dạy thì họ chỉ nói bằng ký ức.  Họ dạy một việc nhưng mà tư tưởng họ lại ở những nơi khác.  Những bài giảng như thế không có ỹ nghĩa gì hết.
Cuộc đời là như vậy đó.  Nếu bạn gắng sống đạm bạc, thực hành pháp và sống yên lành, thì người ta nói bạn kỳ cục và phản xã hội.  Họ nói bạn làm chận đứng sự phát triển của xã hội. Họ còn hăm dọa bạn nữa.  Dần dần bạn bắt đầu tin rằng họ đúng và trở lại nếp sống của thế gian, chìm sâu từ từ trong thế gian và rồi thì không thể nào ra khỏi được.  Vài người nói," Tôi không thể ra được vì tôi đã chìm sâu lắm rồi." Và xã hội là như thế đó.  Xã hội không thấy được giá trị của Phật pháp.

Giá trị của Phật pháp không thể tìm trong sách vở.  Ðấy chỉ là những phiến diện của pháp, pháp thật sự chỉ có nơi kinh nghiệm của người thực tập.

Nếu bạn hiểu rõ được pháp thì bạn sẽ hiểu rõ được tư tưởng mình, bạn sẽ thấy được sự thật nơi đó.  Khi mà sự thật hiện hữu thì mọi vọng tưởng sẽ tự dưng bị chặt đứt.

Dù trong hiện tại hay tương lai, lời dạy của Ðức Phật là một sự thật trường tồn.  Ðức Phật đã phơi bày sự thật nầy 2 500 năm trước và đến nay sự thật ấy vẫn không đổi thay.  Lời dạy của Ðức Phật không thể được thêm vô hay bị cắt bớt.  Ðức Phật đã nói, " Những gì Như Lai đã đề ra không được loại bỏ, và những gì Như Lai không nói đến không được thêm vào." Và như thế, Ðức Phật đã ngăn chận sự thêm bớt có thể xảy ra đối với giáo pháp của Ngài.

Tại sao như thế?  Bởi vì đấy là lời dạy của một người đã không còn ô nhiễm.  Không cần biết xã hội thay đổi ra sao, nhưng những lời dạy của Ðức Phật sẽ luôn luôn là sự thật, không bao giờ thay đổi.  Bao thế hệ đến rồi đi, nhưng những điều Phật dạy không bao giờ thay đổi, bởi vì đó là những sự thật.

Ai đã đặt ra sự thật nầy ?  Sự thật tự nơi nó phát sinh!  Có phải chính Ðức Phật đã đặt ra nó ?  Thưa không.  Ðức Phật chỉ tìm thấy sự thật, sự thật của mọi vật như chúng là, và Ngài đã nói lên những gì Ngài khám phá ra được.

Sự thật luôn là sự thật cho dù có Phật ra đời hay không. Ðức Phật chỉ là người khám phá ra sự thật chứ không phải là người đã 'chế biến' ra sự thật.

Sự thật luôn hiện hữu.  Chỉ có Ðức Phật là người đã đi tìm và khám phá ra sự thật để tìm ra cái 'bất tử' đã được dạy trong giáo pháp của Ngài.   Ngài chỉ khám phá ra cái sự thật hiện hữu muôn đời mà trước Ngài không một ai tìm thấy.

Có một thời gian sự thật nầy sáng tỏ và sự thực tập giáo pháp được tăng trưởng.  Theo thời gian và những thế hệ tiếp nối sự thực tập bị suy thoáí và giáo pháp bị phai tàn.  Sau đó thì giáo pháp được chỉnh đốn lại và một lần nữa lại nở rộ.  Theo thời gian thì những môn đồ của giáo pháp cũng tăng dần, phồn thịnh được một lúc rồi thì một lần nữa giáo pháp lại bắt đầu đi vào bóng tối của thế gian.  Cho đến một lúc giáo pháp không thể còn tồn tại, và lúc nầy thì sự hỗn loạn sẽ ngự trị.  Rồi lại đến một lúc sự thật được phục hồi.  Sự thật thì chẳng mất đi đâu hết.  Khi Ðức Phật nhập diệt thì giáo pháp vẫn tồn tại, hiện hưũ.

Thế giới xoay tròn như thế.  Giống như cây xoài.  Cây trưởng thành, nở hoa, kết trái, trái lớn và chín dần.  Sau đó thì trái hư hoại và hạt cây rớt xuống đất để trở thành một cây xoài mới.  Và cứ thế chu kỳ mới lại bắt đầu lần nữa.  Tuần tự có rất nhiều trái chín tiếp tục sinh, trụ, hoại, diệt.  Thế gian cũng như thế.  Thật ra không có gì thay đổi nhiều, thế gian chỉ xoay quanh chu kỳ của sự vật.

Cuộc sống của chúng ta ngày nay cũng vậy.  Ngày hôm nay chúng ta chỉ làm những việc cũ thường làm.  Con người suy nghĩ nhiều quá.  Có rất nhiều thứ làm họ thích thú, nhưng chẳng có thứ nào đưa họ đến sự đầy đủ.   Có những môn khoa học như toán, vật lý, tâm lý, v...v... Bạn có thể tìm tòi nghiên cứu bất cứ thứ gì nhưng bạn chỉ có thể kết luận mọi thứ với sự thật.

Ví như có một chiếc xe bò.  Bánh xe thì không dài, nhưng vết xe dài.  Khi nào con bò kéo xe thì vết xe đi theo.  Bánh xe tròn, vết xe dài;  vết xe thì dài mà bánh xe thì tròn. Khi con bò kéo xe đi thì bạn thấy vết xe kéo dài ra .  Khi nào mà con bò kéo, thì bánh xe tiếp tục lăn...cho đến một lúc nào đó, con bò mệt mỏi và liệng đi cái xe, cái xe trống nằm đó, bánh xe không lăn nữa. Với thời gian, cái xe sẽ hư hoại, mục nát, và những bộ phận của nó sẽ trở về với đất, nước, gió, lửa.

Tìm sự bình an trong thế gian giống như bạn đang kéo xe vậy, vết xe sẽ kéo dài vô tận.  Khi mà bạn theo thế gian thì không có sự ngừng nghỉ.  Nếu bạn chịu dừng lại không theo nữa, thì chiếc xe sẽ được nghỉ, bánh xe thôi không lăn.  Theo thế gian là bánh xe lăn không bao giờ dừng.  Tạo nghiệp xấu cũng giống như thế.  Nếu bạn theo thói quen cũ thì sẽ không bao giờ có sự ngừng nghỉ.  Nếu bạn dừng lại thì tức khắc có sự ngưng nghỉ.  Và như thế là bạn đang bắt đầu thực hành giáo pháp đấy.

Chuyển ngữ sang tiếng Việt: Mỹ Thanh

Chánh niệm tỉnh giác - Ni sư Ayya Khema

Đó là bốn căn bản chánh niệm: thân thọ tâm và pháp. Chánh niệm là sự thuần chú tâm; không kèm theo phán đoán. Đó chính là sự tỉnh giác hiểu biểt rõ ràng rằng các cảm xúc, tình cảm, tâm hay pháp là thiện hay bất thiện, để giúp chúng ta chuyển hóa.
Trong kinh Sa Môn Quả, Đức Phật còn phải giảng giải cho Potthapàda nhiều điều để tu tập, trước khi chỉ dạy cho ông về phương pháp hành thiền cũng như sự đoạn diệt tăng thượng tưởng. Giờ Đức Phật thuyết về chủ đề chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng (tỉnh giác). Đây là phương cách mà Ngài đã khai triển trong rất nhiều bản kinh: đầu tiên là gìn giữ giới luật, kế đến là kiềm chế các căn, rồi đến chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng (tỉnh giác). Hai điểm sau cùng đi đôi với nhau, thường được nhắc đến cùng lúc. Sati là chánh niệm và Sampajanna là sự hiểu biết rõ ràng.


Và như thế nào... là một vị Tỷ kheo đã thành tựu về chánh niệm tỉnh giác ? Ở đây một vị Tỷ kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y, bình bát đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, đứng lặng đều tỉnh giác. Như thế đó, một vị Tỷ kheo đã thành tựu chánh niệm tỉnh giác. Chánh niệm có bốn lãnh vực: thân thọ tâm và pháp.

Chánh niệm về thân được Đức Phật nói đến đầu tiên. Thực hành chánh niệm trong cuộc sống hàng ngày là rất cần thiết, không chỉ trong lúc hành thiền. Nếu không có chánh niệm ngoài giờ hành thiền, thì cũng không thể có chánh niệm trong lúc hành thiền, vì chúng đi đôi với nhau. Vì thế chúng ta thực hành căn bản chánh niệm đầu tiên này bằng cách quán sát thân. Chúng ta ý thức về những gì mình đang làm, dầu đó là đi, đứng, ngồi, nằm, ươn vai, cúi đầu... hay bất cứ điều gì. Một trong những ích lợi của việc chánh niệm về thân là trong khi thực hành, chúng ta cũng giữ tâm được yên, không cho phép nó lăng xăng.

Lợi ích thứ hai là chánh niệm thanh tịnh hóa tâm. Nếu thực sự quán sát những gì mình đang làm, chúng ta không thể ngay trong giây phút đó bực bội, sân hận hay tham đắm. Đức Phật đã nhiều lần khuyên chúng ta nên sử dụng thân như là một đối tượng của chánh niệm. Trước hết, ta có thể dễ dàng cảm nhận, tiếp xúc được với thân mà không cần phải tìm kiểm sự có mặt của nó. Nếu thực hành được như thế, ta sẽ nhận thức được trong một thời gian ngắn sự có mặt của thanh tịnh, cũng như sự vắng mặt của bao tâm lý não phiền. Vì làm sao chúng ta có thể ở trong trạng thái bực bội, ham muốn hay ghét bỏ khi chúng ta quán sát những gì đang thực sự xảy ra? Lợi ích thứ ba là chánh niệm về thân giúp chúng ta có mặt ngay trong giây phút hiện tại, và dần dần ta nhận ra rằng không có giây phút nào khác hơn. Có mặt trong giây phút hiện tại thực sự là có mặt trong sự vĩnh cửu. Thông thường chúng ta thiết lập ranh giới trong từng giai đoạn: quá khứ, hiện tại và tương lai. Ta nhìn chúng như là ba giai đoạn, nhưng thực sự chúng ta chỉ có thể ở trong một, là hiện tại. Hai thời điểm kia là do tâm tạo; chúng là những ảo tưởng tạo ra bởi ký ức hay tưởng tượng. Phần lớn chúng ta sống trong quá khứ, hoặc hướng về tương lai, hoặc cả hai, nhưng nếu ta sống như thế thì ta khó mà giữ được chánh niệm cũng như hành thiền. Vì cả hai việc này đều xảy ra ngay trong giây phút hiện tại.

Căn bản thứ hai của chánh niệm là sự ý thức về các cảm thọ, chúng ta cảm thấy gì. Căn bản thứ tư (chúng ta sẽ nói đến căn bản thứ ba trong chốc lát) là nội dung tư tưởng (pháp). Cả hai (thọ và pháp) đều có mặt trong lúc ta hành thiền và cần phải được duy trì trong đời sống hàng ngày. Thí dụ, khi một cảm thọ mạnh mẽ phát sinh, trước tiên ta phải nhận ra bản chất của nó và sau đó cố gắng thay thế một cảm thọ bất thiện với thiện. Chúng ta không cần phải tin vào tất cả mọi cảm xúc của mình. Nếu truy tìm nguồn gốc phát sinh của một cảm thọ, ta sẽ thấy rằng đó là do sự tiếp xúc của căn (giác quan) với trần cảnh (đối tượng). Một việc đáng để thể nghiệm. Đối với pháp (nội dung tư tưởng của chúng ta) cũng thế. Khi ta nhận thấy một tư tưởng là thiện, ta chỉ nhận biết như thế, rồi khi nó qua đi ta trở về chánh niệm thân. Nếu tư tưởng là bất thiện, ta cần nhanh chóng chuyển đổi nó. Chúng ta càng ít chứa điều bất thiện trong tâm, thì chúng càng ít có cơ hội để phát triển thành thói quen xấu trong tâm. Chúng ta càng ý thức về tâm tham (nói chung là tất cả những gì ta muốn), và tâm sân (nói chung là tất cả những gì ta không muốn), càng không để cho chúng có thời gian trụ lại trong tâm, thì ta càng để buông bỏ chúng.

Căn bản thứ ba của chánh niệm là tâm thức hay những trạng thái tiềm ẩn. Đây cũng là một đối tượng quán sát quan trọng. Nếu chúng ta có thể nhận biết được tính chất bất thiện trước khi nó phát triển thành tưởng hay thọ, thì việc chuyển hóa nó sẽ dễ dàng hơn. Nhiều người mang những trạng thái tâm tiêu cực nặng nề đến nỗi họ cảm thấy rất khó thay đổi. Nhưng phần đông chúng ta có thể chuyển hóa từ bất thiện sang thiện. Nếu ta nhận ra được tính chất hờn dỗi, ghen tỵ hay sân hận đưa đến những suy nghĩ hay cảm thọ bất thiện, thì ta có thể cố gắng đối phó với chính trạng thái đó, trong nhận thức rằng nó chỉ là một trạng thái, không có gì quan trọng hơn. Đúng vậy không có gì mà chúng ta sở hữu, tư duy, hay thực hiện có một sự quan trọng căn bản hay sâu sắc nào. Đơn giản là chúng chỉ xảy ra. Chúng ta không cần phải duy trì một cảm thọ, một tâm hay một pháp nào, nếu chúng đe dọa hạnh phúc của bản thân. Bản thân chúng ta càng có được nhiều hạnh phúc, thì ta càng có thể ban tặng cho người khác nhiều hơn. Chúng ta không thể cho những gì mình không có.

Đó là bốn căn bản chánh niệm: thân thọ tâm và pháp. Chánh niệm là sự thuần chú tâm; không kèm theo phán đoán. Đó chính là sự tỉnh giác hiểu biểt rõ ràng rằng các cảm xúc, tình cảm, tâm hay pháp là thiện hay bất thiện, để giúp chúng ta chuyển hóa. Mỗi người chúng ta đều có khả năng hiểu biểt rõ ràng; ta có đủ trí tuệ để làm điều đó. Dĩ nhiên, chúng ta cũng có tất cả những yếu điểm của một con người phàm phu, những yếu tố luôn mang đến sự bất hạnh, lo âu sân hận, phiền não, nhưng chúng ta không cần phải bám giữ chúng. Với tâm tỉnh giác, ta có thể nhận ra điều này và bắt đầu hoán chuyển những điều bất thiện thành thiện. Chúng ta thực hành điều này khi hành thiền, rèn luyện để các suy nghĩ lăng xăng qua đi và đem sự chú tâm trở lại với đề mục thiền quán, và chúng ta cũng thực hành như thế trong đời sống hàng ngày.

Theo: Báo Giác ngộ số 455/ thuvienhoasen.org

Vipassana thực tiễn - Bhante Henepola Gunaratana

Có lẽ bạn đã từng được khuyên rằng lúc nào cũng phải nên giữ chánh niệm, cho dù bạn đang ở nhà hay trong văn phòng, hoặc ở  trên xe buýt,  trong xe ô tô của bạn hoặc trong xe ô tô của người khác , v.v…
Bạn có thể hiểu ý của lời khuyên này là muốn lúc nào  bạn cũng  phải giữ sự chú tâm vào hơi thở của mình.

Trong khi lái xe , nếu chỉ đơn thuần  giữ sự chú tâm vào hơi thở,  bạn có thể sẽ gặp phải một  số vấn đề, chẳng hạn như không chú ý đến việc lái xe hoặc  bạn quên mình đang lái xe và có thể gặp tai nạn.


Đôi lúc  bạn có thể nghĩ rằng " lúc nào cũng phải giữ chánh niệm " có nghĩa là chỉ chú  tâm tới những gì mà bạn đang làm tại một thời điểm cụ thể nào đó mà thôi. Điều này,  tất nhiên,  bất cứ ai có đủ sự nghiêm túc trong công việc của mình vẫn thường làm. Một nghệ sĩ, họa sĩ , nhà văn, ca sĩ , nhà soạn nhạc , diễn giả, người bắn súng, đầu bếp  v.v… lúc nào cũng phải chú ý đến bất cứ những  gì họ làm trong lúc họ đang làm việc.

Không phải chỉ mỗi con người mới làm điều này. Bạn có thể nhận thấy con mèo chú tâm đến con mồi như thế nào khi đang rình bắt, con mèo sẽ không để xảy ra bất cứ sơ hở nào có thể đánh động  con mồi. Hổ, sư tử, cá sấu chú tâm hoàn toàn đến con mồi mà chúng đang rình bắt.  Bạn có lẽ đã thấy con sếu đứng yên tại một chỗ  duy nhất trong một thời gian dài để bắt cá. Chó chăn cừu đặt hết  tâm  trí của chúng vào sự di chuyển của những con cừu  vì vậy chúng có thể  chạy rất nhanh để hướng dẫn đàn cừu đi đúng hướng . Thật không may, lũ mèo , sếu, chó chăn  cừu.. . chẳng con nào có thể loại bỏ được sự  tham lam, ham muốn v..v… của mình, hoặc vun bồi  một tí chút  nội quán qua việc đơn thuần chú tâm đến đối tượng của chúng cả.

Chú tâm  đến bất cứ điều gì bạn đang làm trong mọi lúc  sẽ không loại bỏ được tham, sân , và si. Điều này, trên thực tế, giống y hệt như những gì bạn làm trong  khi thực hành thiền an chỉ hay thiền định. Bằng cách tập trung tâm ý trên một đối tượng trong một thời gian, bạn không thể loại trừ những khó chịu về mặt tinh thần . Bạn có thể tập trung tâm của mình trên một đối tượng duy nhất trong năm mươi năm và những khó chịu về mặt tinh thần của bạn vẫn giữ y nguyên trong tâm của bạn.

Một người có thể giữ Giới rất nghiêm . Một người khác có thể học thuộc lòng tất cả Kinh điển.  Một người khác nữa có thể đạt được tâm định. Lại một người khác  nữa  dành trọn cuộc đời của mình sống ở nơi hiu quạnh, tĩnh mịch. Tất cả những người này có lẽ  nghĩ rằng họ có thể trải nghiệm sự giải thoát cao nhất khỏi những  khó chịu về mặt tinh thần  mà không có  một người bình thường nào  có thể đạt được. Trong thực tế,  không một  ai trong số họ có thể đạt được cái kinh nghiệm  đó nếu họ  không diệt trừ được mọi khó chịu về mặt tinh thần.  Do đó,  ngoài những gì họ đã thực hành, những người này còn  phải loại bỏ tất cả những cấu uế trong tâm  của mình thì mới  trải nghiệm được sự hạnh phúc của việc giải thoát khỏi tất cả các cơn đau .

Cái thiếu trong việc lúc nào cũng  tập trung tâm ý trên một đối tượng duy nhất  chính là trí tuệ. Sự chú tâm hoàn toàn của bạn phải gắn liền với sự chú tâm có trí tuệ.  Chú tâm có trí tuệ là gì? Nó là sự chú tâm đi kèm với ba thiện căn. Những thiện căn đó là gì? Chúng  là sự quảng đại , tâm từ và trí tuệ. Điều này có nghĩa rằng khi bạn chú tâm đến một cái gì đó, hãy luôn luôn cố gắng để sự chú tâm của mình  không có tham, sân, hoặc si xen lẫn trong đó , bạn hãy chú tâm với ý tưởng quảng đại , lòng từ và trí tuệ. Đây được gọi là ba thiện căn trong khi tham,  sân, si được gọi là ba bất thiện căn . Đừng để tâm trí của bạn bị ảnh hưởng bởi các bất thiện căn khi bạn chú tâm đến một cái gì đó. Hãy để cho những suy  nghĩ về lòng quảng đại , tâm từ và trí tuệ chiếm lĩnh tâm trí của bạn trong  khi chú tâm đến bất cứ cái gì .

Khi chú tâm đến nồi,  chảo  trong khi đang rửa, bạn có thể không cần chút gì đến tâm từ, sự rộng lượng hay trí tuệ đối với chúng. Bạn đang trau dồi chánh niệm không phải cho nồi,  chảo mà dành cho chúng sinh . Bạn nên chú tâm đến bất kỳ ý nghĩ nào sinh khởi về chính bản thân của mình, hoặc về bất kỳ chúng sanh nào khác . Hãy chánh  niệm trong khi mặc quần áo, ăn, uống, nói chuyện với một ai đó, lắng nghe âm thanh , nhìn thấy một đối tượng, và đi bộ hoặc lái xe .

Khi bạn hoàn toàn chú tâm với  trí tuệ quán sát , tham lam , sân hận và si mê của bạn biến mất , bởi vì trong sự chú tâm của bạn đang có sự quảng đại , tâm từ và trí tuệ  vận hành.  Những ý nghĩ rộng lượng, tâm từ và trí tuệ của bạn có sức mạnh làm giảm thiểu tham, sân, si khi bạn đang làm bất kỳ một công việc gì.

Trong khi chú tâm đến một cái gì mà không có trí tuệ quán sát trong đó, bạn có thể vô tình phát triển tham, sân và si. Bạn có thể thấy một đối tượng , ví dụ, đối tượng đó xem  ra có vẽ hấp dẫn , đẹp hay vui mắt hoặc có thể là không hấp dẫn. Tại thời điểm đó,  do sự chú ý của bạn không có trí tuệ trong đó, bạn cuối cùng có thể trưởng dưỡng tham hay sân đối với đối tượng hoặc bạn có thể có những ý tưởng hoàn toàn sai lầm về đối tượng. Hoặc bạn có thể nghĩ rằng đối tượng là thường hằng thay vì nhận ra rằng nó là vô thường, bạn cảm thấy thỏa mãn với nó thay vì bất toại nguyện , hoặc bạn thấy nó có một cái ngã trong đó thay vì vô ngã.

Bạn có thể hỏi làm thế nào những ý nghĩ rộng lượng của bạn có thể giúp loại bỏ  những ý nghĩ tham lam? Bởi vì những ý nghĩ tham lam khiến cho bạn muốn được dính mắc với đối tượng, bám níu vào nó . Khi bạn cảm nhận đối tượng với tham , tâm của bạn sẽ bám vào nó và không  muốn mở ra cho  bất kỳ  một suy nghĩ  buông bỏ  nào có cơ hội sinh khởi. Bạn có thể không muốn rời mắt khỏi đối tượng. Trong thực tế, tại thời điểm đó tâm trí của bạn tạm thời bị mù trước bất kỳ suy nghĩ nào của lòng quảng đại .

Thậm chí nếu bạn muốn buông bỏ sự dính mắc đối với đối tượng, có lẽ bạn sẽ làm như vậy hết sức miễn cưỡng. Bạn có thể cảm thấy rằng mình  đang hào phóng, rộng lượng (khi buông bỏ) nhưng sự hào phóng, rộng lượng của bạn chỉ là để thỏa mãn cho cái mục đích tham lam của bạn mà thôi, chẳng hạn như đáp lại với sự buông bỏ bạn sẽ được một cái gì đó, hoặc được công nhận hoặc được trở nên nổi tiếng như là một người rộng lượng, hào phóng. Tham có một chất keo siêu mạnh trong ngay trong chính nó.  Chỉ ngay khi tiếp xúc lấn  đầu tiên với một đối tượng mà mình ham muốn,  tâm của chúng ta  nhanh chóng dính mắc vào  nó. Việc buông bỏ  đối tượng  khiến chúng ta cảm thấy  đau đớn như thể bị cắt đứt một chân hoặc  tay hoặc bị lóc  thịt trên thân, và bạn không  thể buông bỏ  đối tượng khỏi  tâm của bạn .

Đây chính là chỗ  mà bạn thực sự cần có sự  chú  tâm có trí tuệ. Đây chính là chỗ  mà bạn phải tìm hiểu để thấy được sự vô thường , bất toại nguyện và vô ngã trong cái đối tượng bạn đang nhìn ngắm. Sự quan sát có trí tuệ sẽ cho bạn thấy rằng thậm chí chỉ trong hai khoảnh khắc kế tiếp nhau, đối tượng mà bạn  đang nhận biết cũng như  cảm xúc  hoặc cảm giác  của bạn về nó cũng không giống nhau. Khoảnh khắc  trước bạn không có cảm giác tương tự như khoảnh khắc sau. Bạn thay đổi , đối tượng mà bạn cảm nhận cũng thay đổi . Với sự chú tâm có trí tuệ,  bạn sẽ thấy rằng tất cả mọi thứ đều vô thường.

Sự hiểu biết về vô thường cho phép bạn buông bỏ sự oán giận của mình. Khi bạn nhìn thấy với trí tuệ rằng tất cả mọi thứ bất toại nguyện đều là vô thường, rồi bạn thấy được mối liên quan giữa bất toại nguyện và tham ái . Khi bạn dính mắc vào một đối tượng vô thường bạn sẽ thất vọng với sự thay đổi của đối tượng mà bạn đang quá dính mắc vào đó. Khi bạn quán chiếu có  trí tuệ bạn sẽ thấy  rằng cái gì mà vô thường và bất toại nguyện thì đều không có tự ngã .

Rồi  bạn có thể nghĩ rằng " À! Vì đối tượng này sẽ thay đổi , mình phải nhanh chóng và khéo léo tận dụng đối tượng này ngay tức thì để mình có thể tận hưởng nó càng sớm càng  tốt trước khi nó biến mất. Ngày mai nó sẽ không còn có ở đó nữa " . Ở đây bạn phải nhớ rằng vội vàng chẳng đi đến đâu. Nếu bạn thực hiện một quyết định vội vàng và làm điều gì đó xuẩn ngốc, bạn sẽ hối tiếc sau này. Đôi khi bạn bị một ai đó  lôi cuốn  và vồ vập lấy  họ mà không suy xét kỹ càng, và sau đó bạn thấy người đó có nhiều  khuyết điểm . Trong bất kỳ một quyết định nào vội vàng như vậy, bạn  không có chánh niệm. Bạn không thể lấy lại quyết định của mình cũng không thể ngăn chặn  được hậu quả của nó bằng  bất kỳ nỗ lực xuẫn ngốc nào.

Khi chánh niệm phát triển tốt, bạn vẫn có thể quyết định đúng ngay cả khi đang vội. Điều duy nhất có ý nghĩa  để làm trong lúc vội vã nhằm  đánh bại vô thường là nên dừng lại và kiểm tra tâm của chính mình để xem mình đã  quyết định với sự suy xét có trí tuệ hay không . Khi bạn có chánh niệm ,  bạn sẽ biết làm thế nào để tận dụng được khoảnh khắc hiện tại  để  không hối tiếc về  sau. Bất kỳ quyết định nào bạn làm có chánh niệm sẽ  làm cho bạn hạnh phúc và an vui  và sẽ không bao giờ làm cho bạn hối tiếc về sau.

Luôn luôn nhớ rằng chánh niệm là một  trạng thái của tâm có sự có mặt của sự rộng lượng tâm từ và trí tuệ cùng với lòng bi mẫn , hỷ và xả . Bất cứ lúc nào bạn chú tâm đến bất cứ điều gì bạn phải hỏi tâm của mình có đầy đủ các yếu tố này hiện diện hay không. Nếu không, có nghĩa là bạn không đang chánh niệm .

Khi bạn có sự quảng đại trong tâm,  bạn sẵn sàng buông bỏ  bất kỳ hình ảnh, âm thanh, mùi  vị, xúc  chạm và suy nghĩ  hấp dẫn mà không chút do dự. Bạn nên nhận biết chúng hấp dẫn theo quy ước đời thường. Hãy biết rằng bởi  vì sự  hấp dẫn của chúng  mà người ta  bị dính mắc với chúng và mắc míu với chúng . Càng mắc míu với chúng nhiều chừng nào, họ càng khổ nhiều chừng ấy. Khi bạn có tâm từ, bạn sẽ không cố gắng xua đuổi bất kỳ hình ảnh, âm thanh, mùi  vị xúc chạm  và ý nghĩ nào  nếu chúng không hấp dẫn. Hãy chánh niệm nhận biết chúng với sự suy niệm về  vô thường. Khi  bất cứ hình ảnh , âm thanh , mùi  vị, xúc chạm hay ý nghĩ  sinh khởi xem ra có vẻ đồng hóa với cái ngã , hãy nhìn nó như một khái niệm không thật  được khắc sâu trong tâm  của bạn qua  nhiều thế hệ bởi quan kiến niệm sai lầm nay do đủ duyên sanh khởi lên,  và quan sát  nó với trí tuệ.

Chánh niệm không phải là sự cẩn thận. Nó cũng không phải là sự khéo léo. Ai cũng có thể cẩn thận và khéo léo . Một người đàn ông đi trên một sợi dây cách mặt đất 300 feet dĩ nhiên rất cẩn thận .  Hãy nhớ rằng những vận động viên  thực hiện đủ loại động tác thăng bằng thật điêu luyện,  những  người  liều lĩnh leo những ngọn  núi rất dốc , nhảy qua những  tảng đá, di chuyển ở những nơi  trơn trượt , bơi qua sông v.v… tất cả bọn họ đều rất cẩn thận . Nhiều tay  trộm rất khéo léo và đánh lừa được cảnh sát.  Những kẻ buôn bán ma túy , cướp ngân hàng , bọn tội phạm đều  rất khéo léo . Nhưng không ai trong số đó  có thể được coi là có chánh niệm.

Chánh niệm là trạng thái của tâm tự quán chiếu lấy chính nó mà không bị trói buộc  với tham , sân và si , những thứ  gây đau khổ cho mình, cho người khác hoặc cho cả hai.

Khi chúng tôi  bảo mọi người đừng  nuôi dưỡng sự oán giận,  một số hỏi  chúng tôi  làm thế nào chúng tôi có thể sống mà không oán giận? Đây là phép lạ của chánh niệm. Khi bạn thực hành chánh niệm, bạn có thể học  để làm những điều khó khăn nhất một cách dễ dàng. Không sân, tham, hoặc si là rất khó. Qua việc rèn luyện giữ  chánh niệm một cách liên tục,  bạn học để  sống mà không sân, tham và si . Hơn nữa, giữ chánh niệm thì khó hơn thất niệm , và bạn học để làm cái việc khó hơn thì dễ hơn làm học để làm cái điều dễ hơn.  Đây là lý do mà  Đức Phật dạy:
Sukaram sadhuna Sadhu - Sadhu papena dukkaram
papam papena sukaram - papam ariyena dukkaram .

Đối với người tốt, làm việc tốt thì  dễ
Đối với người xấu, làm việc xấu  thì dễ.
Để người xấu  làm việc tốt thì khó
Để người cao thượng làm việc xấu thì khó  ( Udana 5.8)

Điều này có nghĩa rằng cái gì khó khăn nhất khi  mới bắt đầu trở sẽ trở nên dễ dàng thông qua  việc thực hành liên tục .

Theo: Practical Vipassana
Chuyển ngữ sang tiếng Việt: Supanna Thiện Trí

Quán sát nội tâm - Upasika Kee Nanayon

Tóm tắt Pháp hành

Phương pháp thực hành này rất dễ học, có ngay kết quả, và thích hợp ở mọi lúc, mọi nơi, và cho mọi lứa tuổi, cả nam lẫn nữ. Đó là sự thực hành ngay nơi thân này –cái thân cao dài hơn một sải– do tâm làm chủ.
Thân này sở hữu rất nhiều thứ, từ thô đến tế, rất đáng cho chúng ta tìm hiểu.
Những ai muốn thực hành Pháp này cần tự tu tập để biết các tiến trình sau đây:
Thứ nhất, phải biết rằng thân được cấu tạo bởi nhiều thành phần, các phần chính là đất, nước, gió, và lửa; các phần phụ là các dáng vẻ bên ngoài dính chặt vào các phần chính như: màu sắc, hình dáng, mùi vị.

Tất cả các thành phần này không bền vững, ô uế và gây phiền não. Nếu quán sát chúng một cách sâu xa hơn, ta sẽ thấy rằng thực chất của chúng không hiện hữu. Chúng chỉ là những duyên hợp, và không có gì đáng để được xem là “tôi” hay “của tôi”. Khi ta nhận thức rõ ràng thân này chẳng có “cái tôi” hay “của tôi”, thì khi ấy ta mới có thể buông bỏ những sự bám víu hoặc tham đắm vào thân như một thực thể, như cái ngã của ta, của người, hay cái này, cái kia.

Thứ hai, xem xét các danh pháp (thọ, tưởng, hành và thức). Chú tâm theo dõi một sự thật là các pháp này đều có đặc tính sinh, trụ, diệt. Nói cách khác, bản chất của chúng là sinh, diệt, sinh diệt không dừng. Khi đã nhận thức được sự thật này, ta có thể buông bỏ sự bám víu vào các danh pháp như những thực thể –như là cái ngã của ta, của người, hay thứ này,thứ kia.

Thứ ba, sự tu tập ở mức độ thực hành không chỉ là học, nghe hay đọc. Chúng ta còn phải thực hành để nhận thấy rõ ràng với chính tâm thức của mình trong các bước sau đây:

Bắt đầu bằng cách bỏ qua một bên tất cả những mối quan tâm ở bên ngoài, và quay vào quán sát nội tâm cho đến khi ta biết tâm trong sáng hay ô nhiễm, yên tĩnh hay tán loạn như thế nào. Muốn được như thế, hãy để chánh niệm, tỉnh giác làm chủ trong khi chúng ta quán niệm về thân và tâm cho đến khi tâm trụ vững chắc trong trạng thái an tịnh hoặc trung tính.

Một khi tâm có thể trụ trong trạng thái bình lặng, ta sẽ thấy các hoạt động của tâm trong trạng thái tự nhiên của chúng là sinh và diệt. Tâm sẽ trở nên trống rỗng, xả và tĩnh lặng –không ưa không ghét– và tâm sẽ nhận biết các hiện tượng tâm sinh lý khi chúng sinh diệt một cách tự nhiên, theo nhịp độ riêng của chúng.

Khi sự hiểu biết rằng, tất cả mọi thứ đều không có bản ngã riêng biệt trở nên thật rõ ràng, ta sẽ nắm bắt được một điều sâu xa hơn, vượt lên trên tất cả khổ đau, phiền não, thoát khỏi các vòng luân hồi –bất tử- thoát khỏi sinh tử, bởi vì tất cả những gì được sinh ra thì tự nhiên phải già, bịnh và chết.

Khi nhận thấy rõ sự thật này, tâm ta sẽ trở nên rỗng không, không còn bám víu vào bất cứ gì. Nó cũng không cho rằng bản thân nó là tâm thức hoặc thứ gì khác. Nói cách khác, tâm sẽ không bám víu vào việc tự cho mình là cái gì cả. Còn lại tất cả chỉ là trạng thái thuần khiết của Pháp.

Những ai nhận thấy rõ ràng trạng thái thuần khiết của Pháp chắc chắn sẽ trở nên nhàm chán đối với những khổ đau không dừng dứt trong cuộc đời. Khi họ biết một cách thấu đáo về chân lý cuộc đời và Pháp, họ sẽ thấy rõ ràng, ngay trong hiện tại, rằng có một cái gì đó vượt trội lên tất cả mọi khổ đau. Họ sẽ biết điều này mà không cần hỏi hay tin theo ai, vì Pháp là paccattam –điều mà bản thân mỗi người tự biết. Những người đã tự mình chứng nghiệm được chân lý này đều luôn chứng nhận điều đó.

Một giờ hành thiền


Đối với những ai chưa từng ngồi thiền, thì đây là phương cách: Xếp bằng hai chân, chân này đặt lên chân kia, nhưng đừng chặn các dây thần kinh hay mạch máu, nếu không năng lượng chuyển động trong đôi chân sẽ bị ứ đọng, khiến ta đau. Ngồi thẳng và hai tay xếp chồng lên nhau, để trên đùi. Giữ đầu cao và lưng phải thật thẳng –như là có một cây thước dựng đứng ngay sau sống lưng. Chúng ta phải cố giữ thân thật thẳng. Đừng phí thì giờ để lưng khòm xuống rồi sửa thẳng trở lại, vì làm như thế tâm sẽ không thể nào lắng đọng và trở nên yên tịnh được.

Giữ thân thật thẳng và chánh niệm vững chắc –vững chắc với từng hơi thở. Dầu hơi thở chúng ta có thô hay tế, cứ thở tự nhiên. Không cần phải cố gắng hít thở hoặc làm cho thân thể bị căng thẳng. Chỉ cần hít vào và thở ra một cách thoải mái. Chỉ có như vậy, tâm mới bắt đầu lắng đọng. Khi hơi thở trở nên vi tế một cách tự nhiên, tâm bắt đầu lắng đọng, thì hãy trụ nơi tâm. Nếu nó đi lang thang, hoặc vọng tưởng phát khởi, thì hãy giữ chánh niệm nơi tâm. Niệm tâm trên tâm trong từng hơi thở vào-ra trong suốt giờ hành thiền.

Khi sử dụng hơi thở như sợi dây cột tâm vào một chỗ, để nó không đi lang thang nữa, thì chúng ta cần nhiều nhẫn nại. Nghĩa là, chúng ta phải chịu đựng đau đớn. Thí dụ, khi ngồi lâu tất nhiên ta sẽ thấy đau, vì trước đây ta chưa từng ngồi lâu như vậy. Vì thế trước tiên phải giữ tâm bình lặng, an nhiên. Khi cái đau phát khởi, đừng quan tâm tới nó. Hãy cố gắng buông bỏ nó càng nhiều càng tốt. Buông bỏ cái đau và trụ vào tâm. Đối với những ai chưa từng hành thiền, muốn làm được điều này cần nhiều thời gian. Bất cứ khi nào cái đau hay điều gì đó phát khởi, nếu tâm bị tham ái hay uế nhiễm chế ngự, thì nó sẽ phản kháng vì nó không thích bị đau. Nó chỉ muốn hưởng dục lạc mà thôi.

Đó là lúc chúng ta phải thật kiên nhẫn, chịu đựng sự đau đớn vì đau là điều bắt buộc phải xảy ra. Nếu cảm giác dễ chịu, xin đừng mê đắm nó. Nếu cảm giác đau đớn, xin đừng xua đuổi nó. Hãy bắt đầu bằng cách giữ cho tâm được an nhiên. Đó là điều cơ bản. Rồi thì bất cứ khi nào cảm giác lạc hay khổ phát sinh, xin đừng thích thú hay bực dọc. Hãy giữ cho tâm luôn an nhiên và tìm cách buông xả. Nếu cảm thấy rất đau, trước tiên bạn phải cố gắng chịu đựng, rồi buông bỏ tâm chấp thủ. Đừng nghĩ cái đau đó là của bạn. Hãy xem đó là cái đau của thân, cái đau tự nhiên.

Nếu tâm bám chặt vào bất cứ điều gì, chắn chắn nó sẽ khổ. Nó sẽ phản kháng. Vì thế ở đây, chúng ta cần chịu đựng một cách kiên nhẫn và rồi buông xả. Chúng ta cần phải thực tập để có thể thực sự đối phó với cái đau. Nếu ta có thể buông bỏ cái đau của thân, thì ta cũng sẽ có thể buông bỏ được các loại khổ đau khác. Hãy quan sát cái đau, nhận biết nó, rồi buông bỏ nó. Một khi ta đã có thể buông bỏ nó, ta không cần phải chịu đựng nhiều. Dĩ nhiên, lúc đầu chúng ta cần nhiều chịu đựng. Khi cái đau xuất hiện, hãy tách tâm khỏi cái đau. Hãy xem đó là cái đau của thân. Đừng để tâm cũng bị đau đớn theo.

Đây là lúc mà ta cần đến tâm xả. Nếu chúng ta có thể giữ được sự bình thản khi vui cũng như lúc khổ, thì nó sẽ giúp cho tâm bình lặng –dầu cái đau vẫn còn đó. Tâm luôn nhận biết, chịu đựng cơn đau để rồi buông bỏ nó.

Sau khi tu tập như vậy một thời gian, ta sẽ nhận thức được rằng các trạng thái của tâm quan trọng đến dường nào. Việc luyện tâm có thể rất khó, nhưng hãy cố gắng. Nếu có thời gian, chúng ta có thể hành thiền ở nhà, vào buổi tối hay sáng sớm. Hãy luôn quán sát tâm, ta sẽ đạt được tri kiến từ chánh niệm tỉnh giác. Những ai không tu tập như thế sẽ trải qua –sinh, lão, bệnh, tử- mà không hiểu biết chút gì về tâm.
Nếu ta biết rõ tâm mình, thì khi có bất cứ căn bệnh ngặt nghèo nào xảy đến, tâm chánh niệm sẽ giúp làm giảm sự đau đớn. Nhưng đó là điều ta phải thực hành. Không dễ, nhưng một khi tâm đã được rèn luyện tốt, thì không có gì thắng nổi nó. Tâm sẽ giúp ta thoát khỏi những đau đớn, khổ sở, và nó không còn lăng xăng, bứt rứt. Nó sẽ yên tịnh và mát mẻ -tươi mát và rạng rỡ ngay bên trong nó. Vì thế, hãy cố gắng trải nghiệm tâm yên tịnh, lắng đọng này.
Đây là một khả năng quan trọng cần được phát triển, vì nó sẽ làm yếu đi các ham muốn, ô nhiễm và mê đắm. Tất cả chúng ta đều bị nhiễm ô. Tham ái, sân hận và si mê luôn che mờ tâm trí ta. Nếu không hành thiền tâm ta sẽ luôn bị nung đốt bởi khổ đau, phiền não. Các dục lạc từ vật chất bên ngoài cũng chỉ là niềm vui nửa vời, vì vẫn có khổ đau, phiền não trong sự si mê khi cho rằng các thứ này có thể mang đến niềm vui. Còn niềm vui trong thiền định, là niềm vui nhẹ nhàng, buông thư mọi thứ, thật sự thoát khỏi bất cứ khái niệm gì về tôi hoặc của tôi. Mong rằng chúng ta đạt được Pháp, đó mới là điều cốt lõi của tâm tỉnh thức không bị uế nhiễm, khổ đau hay bất cứ thứ gì quấy nhiễu.
Dầu thân có đau, chúng ta cũng phải tìm cách buông bỏ. Thân chỉ là tập hợp của bốn yếu tố -đất, nước, gió và lửa. Nó luôn biểu hiện sự vô thường và khổ, vì thế hãy giữ tâm chánh niệm an nhiên, buông xả. Hãy để tâm vượt lên trên mọi cảm thọ –vượt trên lạc, trên khổ, trên tất cả mọi thứ.

Tất cả chỉ cần sự nhẫn nại –chịu đựng và buông xả mọi thứ, biết rằng chúng không phải là ta, không phải của ta. Đây là điều mà chúng ta cần phải thực tập bền bỉ. Khi nói rằng chúng ta phải chịu đựng, có nghĩa là chúng ta phải thật sự chịu đựng. Đừng tự ý bỏ cuộc. Tâm tham ái sẽ luôn có mặt để thì thầm – bảo ta phải thay đổi mọi thứ, phải chạy theo thú vui này, thú vui kia- nhưng đừng nghe theo nó. Mà hãy lắng nghe lời Đức Phật khuyên ta phải buông bỏ tâm tham ái. Nếu không, tham ái sẽ tự trau chuốt, tô vẽ mọi thứ; khiến tâm phản ứng, và không thể nào lắng đọng. Vì thế, chúng ta phải cố hết sức mình. Hãy xem một giờ hành thiền này là một tiếng đồng hồ đặc biệt – đặc biệt vì ta phải sử dụng sự chịu đựng đặc biệt để quan sát tâm trí mình.

Nếp sống cơ bản


Điều quan trọng nhất trong cuộc sống hằng ngày của người thực hành Pháp (Dhamma) là gìn giữ giới luật và quan tâm đến chúng còn hơn cả mạng sống của mình –gìn giữ chúng để các vị Thánh Thiện ngợi khen. Nếu ta không có sự kính trọng như vậy đối với giới luật, thì các thói hư tật xấu đối nghịch với các giới luật, sẽ trở thành những thói quen hằng ngày của ta.

Những thiền sinh nào coi sự phạm giới là việc nhỏ, không đáng kể, sẽ hoàn toàn làm hỏng sự tu tập của mình. Nếu ta không thể thực hành những điều căn bản này trong bước đầu thực hành Pháp, thì nó sẽ làm hư hoại tất cả những phẩm chất mà ta đang cố gắng phát triển trong các bước kế tiếp. Đó là lý do tại sao ta phải gìn giữ giới luật như một nền tảng căn bản và luôn tự kiểm soát bản thân xem có hành động nào phạm giới. Chỉ có như vậy, thì ta mới được lợi ích từ việc tu tập, nhắm loại trừ khổ đau ngày càng chính xác hơn.

Nếu ta chỉ hành động theo sự ham muốn và tham đắm của bản ngã mà không sợ lửa uế nhiễm, thì chúng ta sẽ phải chịu đau khổ không chỉ ở kiếp sống này mà cả ở những kiếp sống tương lai. Nếu chúng ta không có lương tâm – cảm giác xấu hổ khi nghĩ tới việc thực hiện các hành động xấu và sợ hãi các hậu quả- thì sự tu tập của ta sẽ ngày càng thối lui.

Khi người ta sống không lề lối -không có cả những đạo đức cơ bản do giới luật đề ra- thì không có cách gì họ có thể đạt được thanh tịnh. Chúng ta cần phải quán sát bản thân: Hiện tại chúng ta đang phạm giới trong tư tưởng, lời nói và hành động bằng cách nào? Nếu ta chỉ để mọi thứ trôi qua, mà không hề có ý định quán sát bản thân để xem xét các tai hại đến từ việc vi phạm giới, chạy theo uế nhiễm, thì công phu tu tập của ta ngày càng thoái hóa. Thay vì hủy diệt nhiễm ô, đau khổ, nó lại cúi đầu trước uy lực của chúng. Nếu đó là sự thật, thì tai hại sẽ như thế nào? Tâm đã bị lệ thuộc đến mức độ nào? Đây là những điều mà chúng ta phải tự khám phá. Làm được như thế, thì công phu tu hành tự quán chiếu đối với những vấn đề phức tạp hơn sẽ có kết quả mỹ mãn, và chúng ta sẽ không bị lạc đường, sai lối. Vì lý do này, bất cứ khi nào tham ái hay nhiễm ô xuất hiện trong hành động của mình, chúng ta phải chận bắt được nó và quán sát xem điều gì đang diễn ra trong tâm.

Khi chúng ta có thể nhận thức với tâm thực sự chánh niệm tỉnh giác, ta sẽ thấy được nọc độc và sức mạnh của uế nhiễm. Ta sẽ cảm thấy chán ngán chúng, muốn hủy diệt chúng càng nhiều càng tốt. Nhưng nếu ta dùng tâm uế nhiễm để quán sát sự vật, thì chúng cho là mọi việc đều tốt đẹp. Cũng như khi chúng ta có định kiến ưa thích một ai đó. Dầu người đó làm điều sai quấy, ta vẫn cho là họ đúng. Đó là tính cách của các uế nhiễm. Chúng cho rằng mọi việc ta làm đều đúng và đổ tất cả lỗi lầm lên người khác hoặc vật khác. Vì vậy chúng ta không thể tin tưởng nó – cảm giác của một cái “ngã” đầy ham muốn và uế nhiễm đang làm chủ trái tim. Chúng ta hoàn toàn không thể tin cậy nó.

Tính hung hãn của nhiễm ô, hay cái “ngã” này, giống như ngọn lửa bạo cuồng đang đốt cháy một khu rừng hay một căn nhà. Nó sẽ chẳng nghe ai hết, mà chỉ tiếp tục cháy, tiếp tục thiêu hủy nội tâm ta. Và không chỉ có thế. Nó còn luôn tìm cách thiêu đốt người khác nữa.

Lửa của khổ đau, của uế nhiễm, thiêu hủy tất cả những ai không biết quán chiếu bản thân hoặc không biết cách dập tắt lửa. Những người như thế sẽ không chống đỡ nổi uy lực của uế nhiễm, không thể làm gì khác ngoại trừ việc đi theo sự dẫn dắt của tâm tham ái. Ngay khi bị kích hoạt, họ liền đi theo sự sai khiến của ham muốn. Vì thế, những cảm xúc nơi tâm do các uế nhiễm kích hoạt được xem là rất quan trọng, vì chúng có thể dẫn dắt ta làm những điều xằng bậy mà không biết xấu hổ, không biết sợ hậu quả –nghĩa là chắc chắn ta sẽ phạm giới luật.

Một khi chúng ta chạy theo uế nhiễm, chúng sẽ rất hài lòng – giống như những kẻ phóng hỏa cảm thấy vui sướng khi nhà cửa người khác bị đốt sạch. Ngay khi ta thóa mạ người khác, hoặc rỉ tai những chuyện tầm phào với ác tâm, thì các uế nhiễm rất thích thú việc đó. Cái “ngã” của ta rất thích điều đó, vì khi ta làm theo sự sai khiến của nhiễm ô như thế, nó rất hài lòng. Kết quả là nó sẽ tiếp tục vun bồi các thói hư tật xấu đối nghịch lại với các giới luật, nó đang sa vào địa ngục ngay trong cuộc sống này mà không ý thức được điều đó. Vì vậy, hãy nhìn cho tường tận những tai hại mà uế nhiễm có thể mang đến cho ta, để xem ta có nên tiếp cận với chúng, nên xem chúng là bạn hay thù.
Ngay khi một quan điểm hay ý nghĩ sai lầm nào phát khởi trong tâm, chúng ta cần phân tích chúng và quay vào bên trong để nhận biết các yếu tố ấy nơi nội tâm ta.
Dầu các uế nhiễm liên quan đến vấn đề gì, chúng luôn chú tâm tìm lỗi của người, vì thế ta phải quay lại, quán sát nội tâm của mình. Khi chúng ta nhận ra lỗi của mình, và tỉnh thức –đó chính là nơi mà việc học Pháp (Dhamma), việc hành Pháp của chúng ta đã hiển lộ những phần thưởng thực sự của nó.

Theo: Đơn giản và thuần khiết

Chuyển ngữ sang tiếng Việt: Diệu Liên Lý Thu Linh,  Giác Nghiêm Nguyễn Tấn Nam, Diệu Ngộ Mỹ Thanh

Minh Sát Thiền do Ngài Mahasi Sayadaw truyền dạy - Viên Giác dịch

Minh Sát Thiền do Ngài Mahasi Sayadaw truyền dạy

  Pháp hành Minh Sát Thiền là nỗ lực để hiểu một cách đúng đắn bản chất hiện tượng tinh thần và thể lý trong thân thể người tu tập. Hiện tượng thể lý là những việc hay vật mà người tu nhận thức một cách rõ ràng quanh mình và bên trong mình. Toàn thể thân xác người tu gồm một nhóm các phẩm chất thể lý. Hiện tượng tinh thần là họat động của ý thức hay cái biết. Những điều này được nhận thức một cách rõ ràng bất cứ khi nào các pháp được nhìn thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, hay được nghĩ tới. Chúng ta phải tỉnh thức về các hiện tượng tinh thần này bằng cách quan sát chúng và ghi nhận [niệm về] chúng như: "[đang] thấy, thấy", "nghe, nghe", "ngửi, ngửi", "nếm, nếm", "sờ, sờ", hay "nghĩ, nghĩ".

Sau đây là bài giảng pháp của Đại Sư Mahasi Sayadaw (1904-1982) trước các thiền gia trong buổi lễ khai thị ở trung tâm thiền tập Mahasi Meditation Center, Rangoon, Miến Điện. Bài này được dịch từ tiếng Miến sang Anh ngữ bởi Unyi Nyi, và sửa chữa lại năm 1997 bởi Đại Sư Pesala.
Đại Sư Mahasi Sayadaw sinh năm 1904 ở Shwebo, Miến Điện, vào chùa học từ năm 6 tuổi, thọ giới sa di 6 năm sau, thọ giới Tỳ Kheo năm 1923, thi xong hết ba cấp Kinh Tạng Pali do chính phủ khảo thí vào 4 năm sau. Đại Sư tu học với nhiều thầy ở nhiều nơi, sau cùng học pháp Minh Sát Thiền (Vipassana) với vị thầy nổi tiếng Migun Jetavan Sayadaw, và sau đó tận lực truyền bá pháp môn này. Những trung tâm thiền tập do Đại Sư Mahasi Sayadaw thiết lập không chỉ ở Miến Điện, mà còn cả ở Thái Lan, Sri Lanka, Cam Bốt, Ấn Độ, Nhật Bản, Indonesia, Anh Quốc, và nhiều nước khác. Theo một bản thống kê năm 1972, tổng số thiền gia được huấn luyện ở tất cả các trung tâm thiền này (cả ở Miến Điện và hải ngoại) đã vượt quá con số 700,000 người.

Trong các môn đệ nổi tiếng của Đại Sư có ngài Anagarika Shri Munindra, sau nhiều năm tu học với Đại Sư về kinh luật luận và thiền tập Minh Sát đã về An, trụ trì một thiền viện quốc tế ở thánh địa Buddha Gaya, nơi nhiều người Au-Mỹ sang tu tập thiền định. Trong những người đó có một thanh niên Mỹ, Joseph Goldstein, người sau này mở nhiều thiền đường ở Mỹ và viết nhiều sách về Minh Sát Thiền.

Đại Sư Mahasi Sayadaw còn là người chú giải kinh luận nổi tiếng. Tính chung, Đại Sư đã in 67 cuốn sách về Phật Học và về thiền tập. Đại Sư Mahasi Sayadaw viên tịch ngày 14-8-1982.

*****
Pháp hành Minh Sát Thiền là nỗ lực để hiểu một cách đúng đắn bản chất hiện tượng tinh thần và thể lý trong thân thể người tu tập. Hiện tượng thể lý là những việc hay vật mà người tu nhận thức một cách rõ ràng quanh mình và bên trong mình. Toàn thể thân xác người tu gồm một nhóm các phẩm chất thể lý. Hiện tượng tinh thần là họat động của ý thức hay cái biết. Những điều này được nhận thức một cách rõ ràng bất cứ khi nào các pháp được nhìn thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, hay được nghĩ tới. Chúng ta phải tỉnh thức về các hiện tượng tinh thần này bằng cách quan sát chúng và ghi nhận [niệm về] chúng như: "[đang] thấy, thấy", "nghe, nghe", "ngửi, ngửi", "nếm, nếm", "sờ, sờ", hay "nghĩ, nghĩ".

Mỗi lần bạn thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ, hay suy nghĩ, bạn hãy niệm [ghi nhận] về việc đó. Tuy nhiên, khi mới tập, bạn không có thể niệm tất cả các việc đó. Do đó, bạn nên bắt đầu bằng cách niệm những việc dễ dàng nhận thấy và dễ dàng nhận thức.

Với từng hơi thở, bụng của bạn phồng lên và xẹp xuống -- chuyển động này luôn luôn là hiển nhiên. Đây là phẩm chất thể lý được biết như phần tử của chuyển động. Bạn nên bắt đầu bằng cách niệm [về] chuyển động này, điều có thể làm được bằng cách để tâm quan sát vùng bụng. Bạn sẽ thấy bụng phồng lên khi bạn hít vào, và xẹp xuống khi bạn thở ra. Việc phồng lên nên được niệm trong tâm là "phồng", và việc xẹp xuống thì niệm là "xẹp." Nếu chuyển động không được nhận ra rõ ràng, bạn cứ đặt lòng bàn tay lên bụng để nhận ra. Đừng đổi cách bạn thở. Cũng đừng thở chậm lại hay thở mau hơn. Cũng đừng thở quá mạnh bạo gấp gáp. Bạn sẽ mệt mỏi nếu bạn đổi cách bạn thở. Hãy thở đều đặn như bình thường, và hãy niệm nơi bụng đang phồng và xẹp. Hãy niệm trong tâm, đừng nói thành lời.

Trong Thiền Minh Sát, điều bạn gọi tên hay nói thì không quan trọng. Điều thực sự quan trọng chính là biết, hay nhận thức. Trong khi niệm bụng phồng lên, hãy làm như thế từ lúc khởi đầu cho tới khi hết chuyển động [phồng] này, y hệt như bạn đang nhìn nó bằng mắt. Hãy làm tương tự với chuyển động xẹp. Sự chuyển động [phồng, xẹp] và nhận biết về nó nên xảy ra cùng lúc, hệt như một viên đá được ném trúng mục tiêu. Tương tự, với chuyển động xẹp.

Tâm của bạn có thể lang thang chạy lạc nơi khác, trong khi bạn niệm về chuyển động của bụng. Điều này cũng phải được tâm ghi nhận rằng, "[niệm] lạc, lạc [rồi]." Khi điều này đã được niệm một lần hay hai lần, thì tâm ngưng lang thang chạy lạc, rồi bạn trở lại niệm về chuyển động phồng, xẹp của bụng. Nếu tâm chạy tới nơi khác, hãy ghi nhận là "[niệm] tới, tới". Rồi thì hãy quay về phồng, xẹp của bụng. Nếu bạn chợt nghĩ tới việc gặp một người nào, thì hãy niệm là "gặp, gặp". Rồi hãy trở về phồng, xẹp. Nếu bạn chợt nghĩ tới chuyện gặp và nói chuyện với ai đó, thì hãy niệm "nói, nói".

Ngắn gọn, bất cứ những gì mà ý nghĩ và trí nhớ xảy ra, đều hãy được niệm [ghi nhận]. Nếu bạn tưởng tượng, hãy niệm là "tưởng, tưởng". Nếu bạn suy nghĩ, hãy niệm "nghĩ, nghĩ". Nếu bạn họach định kế họach, hãy niệm "họach, họach". Nếu bạn nhận thức, hãy niệm "thức, thức". Nếu bạn đang nhớ, hãy niệm "nhớ, nhớ". Nếu bạn thấy hạnh phúc vui vẻ, hãy niệm "vui, vui". Nếu bạn thấy chán nản, hãy niệm "chán, chán". Nếu bạn cảm thấy hài lòng ưa thích, hãy niệm "thích, thích". Nếu bạn cảm thấy phiền lòng, hãy niệm "phiền, phiền". Ghi nhận tất cả các họat động của ý thức được gọi là cittanupassana (quán tâm).

Bởi vì chúng ta không ghi nhận được về các sinh họat này của ý thức, chúng ta có khuynh hướng nhận diện chúng với một người hay một cá thể. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng đó là "tôi" đang hình dung, nghĩ tưởng, họach định, biết về hay nhận thức. Chúng ta nghĩ rằng có một người, mà người này từ thời thơ ấu trở đi, đã đang sống và nghĩ ngợi. Thực sự, không có ai như vậy hiện hữu. Thay vậy, chỉ có những sinh họat ý thức nối tiếp liền nhau. Đó là tại sao chúng ta phải niệm về các sinh họat ý thức này, và biết chúng như chúng là. Cho nên, chúng ta phải nhận biết từng và tất cả các sinh họat ý thức khi nó dấy khởi. Khi niệm như thế, nó có khuynh hướng biến mất đi. Rồi chúng ta trở lại niệm phồng, xẹp nơi bụng.

Khi bạn phải ngồi thiền tập trong một thời gian lâu, cảm giác tê cứng và hơi nóng sẽ khởi lên trong cơ thể bạn. Những điều này cũng phải được [niệm] ghi nhận kỹ càng. Tương tự với cảm thọ về đau đớn và mỏi mệt. Tất cả những cảm thọ này là khổ (cảm giác không thỏa mãn), và niệm [ghi nhận] về chúng là niệm khổ thọ. Bỏ qua hay không ghi nhận được các cảm thọ đó sẽ làm bạn nghĩ, "Tôi tê cứng rồi, tôi đang cảm thấy nóng, tôi đau đớn này. Tôi mới hồi nảy còn thỏai mái. Bây giờ tôi chịu khổ với các cảm thọ khó chịu này." Việc căn cước hóa các cảm thọ này với tự ngã là nhầm lẫn rồi. Thực sự không có cái "tôi" nào liên hệ tới, mà chỉ là một chuỗi liên tục các cảm thọ khó chịu nối tiếp nhau.

Nó y hệt như một chuỗi nối tiếp các [chu kỳ] dao động điện khí nối nhau và làm bật sáng ngọn đèn điện. Mỗi lần các chạm xúc khó chịu tới với cơ thể, các cảm thọ khó chịu khởi lên cái này sau cái kia. Những cảm thọ này nên được niệm [nhận ra] kỹ càng và chú tâm, cho dù chúng là cảm thọ về sự tê cứng, về hơi nóng, hay về đau đớn. Lúc mới đầu tập thiền, các cảm thọ này có thể có khuynh hướng tăng thêm và dẫn tới ước muốn thay đổi tư thế ngồi của người tu. Ước muốn đó nên được [niệm] ghi nhận, sau đó học nhân nên trở về việc niệm các cảm thọ về sự tê cứng, về hơi nóng, vân vân.

Có một câu nói, "Kiên nhẫn dẫn tới Niết Bàn." Câu nói này đặc biệt liên hệ tới tu tập thiền định. Bạn phải kiên nhẫn thiền tập. Nếu bạn chuyển hay đổi tư thế quá thường xuyên bởi vì bạn không thể chịu nổi cảm thọ về sự tê cứng hay hơi nóng phát khởi, thì đại định không thể hình thành. Nếu không có định, thì sẽ không có huệ, và không thể có thành đạo, mà quả chính là niết bàn. Đó là lý do vì sao cần kiên nhẫn trong thiền tập. Đó hầu như là kiên nhẫn với các cảm thọ khó chịu trong cơ thể như sự tê cứng, hơi nóng, sự đau đớn và các cảm thọ khó chịu khác. Khi xuất hiện các cảm thọ như thế, bạn đừng ngay lập tức đổi thế ngồi. Bạn nên tiếp tục một cách kiên nhẫn, chỉ niệm nó như là "tê, tê" hay "nóng, nóng". Các cảm thọ khó chịu trung bình cũng sẽ biến mất nếu bạn niệm [ghi nhận] chúng một cách kiên nhẫn. Khi định lực vững vàng, thì ngay cả các cảm thọ căng hơn cũng có khuynh hướng biến mất. Rồi thì bạn trở lại niệm về bụng phồng, xẹp.

Dĩ nhiên, bạn sẽ phải đổi thế ngồi nếu cảm thọ không tan biến ngay cả sau khi niệm chúng một thời gian lâu, hay là khi chúng trở thành hết chịu nổi. Rồi thì bạn nên bắt đầu bằng cách niệm "muốn thay đổi, muốn thay đổi." Nếu bạn đưa cánh tay lên, hãy niệm rằng "lên, lên". Nếu bạn cử động, hãy niệm rằng "động, động". Thay đổi này nên làm cho dịu dàng, và niệm như là "lên, lên", "động, động" và "chạm, chạm".

Nếu thân bạn nghiêng ngả, hãy niệm rằng "nghiêng, nghiêng". Nếu bạn nhấc chân lên, hãy niệm rằng "lên, lên". Nếu bạn cử động nó, hãy niệm rằng "động, động". Nếu bạn thả nó xuống, hãy niệm rằng "thả, thả". Khi không còn động chuyển nữa, hãy trở lại niệm về phồng, xẹp nơi bụng. Đừng để cho có khoảng cách nào, mà cứ để có liên tục giữa niệm trước và niệm kế liền đó, giữa trạng thái định trứơc và trạng thái định kế liền đó, giữa một tuệ trước và một tuệ kế tiếp liền đó. Chỉ khi đó mới có các bước tiến liên tục trong hiểu biết của người tu. Kiến thức về đạo và quả chỉ thành đạt được khi nào có các đà tiến liên tục này. Tiến trình thiền tập thì y hệt như tiến trình làm ra lửa bằng cách tận lực và liên tục chà sát hai thanh gỗ vào nhau để tạo ra đủ hơi nóng mà bật ra lửa.

Trong cùng cách đó, hành vi niệm [ghi nhận] trong Thiền Minh Sát phải được liên tục và không ngừng nghỉ, không có bất kỳ khoảng cách nào giữa việc niệm, bất kể có hiện tượng nào sinh khởi. Thí dụ, nếu cảm thọ về ngứa khởi lên và bạn muốn gãi bởi vì nó rất khó chịu đựng, thì cả cảm thọ và ước muốn gãi cũng phải được niệm tới, mà không tức khắc xóa bỏ cảm thọ bằng cách gãi.

Nếu bạn kiên trì chống lại, cảm thọ ngứa một cách tổng quát sẽ biến mất, trường hợp này thì bạn lại trở về niệm phồng, xẹp nơi bụng. Nếu ngứa không biến mất, bạn có thể gãi cho hết, nhưng trứơc tiên là ước muốn làm thế phải được niệm ghi nhận. Tất cả các chuyển động trong tiến trình gãi ngứa phải được niệm ghi nhận, đặc biệt là các chuyển động sờ, kéo và đẩy, và gãi, rồi lại trở về niệm phồng, xẹp nơi bụng.

Bất cứ khi nào bạn đổi thế ngồi, hãy bắt đầu bằng cách niệm về ý định hay ước muốn thay đổi, và hãy niệm từng chuyển động, thí dụ như việc nhấc lên từ tư thế ngồi, nâng cánh tay, cử động và duỗi cánh tay. Bạn nên niệm các chuyển động cùng lúc với khi đang làm các chuyển động đó. Khi cơ thể bạn nghiêng về phía trứơc, hãy niệm ghi nhận nó. Khi bạn nhấc lên, cơ thể trở thành nhẹ và nhấc lên. Hãy tập trung tâm bạn vào điều này, bạn nên nhẹ nhàng niệm như là "lên, lên".

Một thiền gia sẽ cư xử hệt như một người yếu đuối vô tích sự. Những người sức khỏe bình thường nhấc lên một cách dễ dàng và mau chóng, hay đột ngột. Người yếu bệnh thì không như thế; họ làm điều đó một cách chậm chạp và dịu dàng. Cũng tương tự như thế với người đau lưng; họ nhấc lên dịu dàng, nếu không thì lưng lại thương tổn và làm đau đớn. Những thiền gia cũng như thế. Họ sẽ đổi thế ngồi một cách dịu dàng và từ từ; chỉ lúc đó thì sự tỉnh thức, định và huệ hiển lộ rõ ràng. Do vậy, hãy khởi đầu với các cử động dịu dàng và từ từ. Khi nhấc [người] lên, hãy làm như thế một cách dịu dàng như người yếu bệnh, trong cùng lúc niệm "lên, lên". Không chỉ như thế, xuyên qua mắt nhìn, bạn phải làm y hệt như đang bị mù. Tương tự, với khi tai nghe. Trong khi thiền tập, quan tâm của bạn chỉ là niệm ghi nhận thôi. Cái gì bạn thấy và nghe không phải là quan tâm của bạn. Cho nên, bất cứ thứ gì kỳ lạ hay bất ngờ mà bạn có thể thấy hay nghe, bạn phải xem như bạn không thấy hay không nghe chúng, mà chỉ đơn giản niệm một cách cẩn trọng.

Khi làm các chuyển động cơ thể, bạn hãy làm thế một cách chậm rãi, nhẹ nhàng cử động tay và chân, co lại hay duỗi chúng ra, nghiêng đầu xuống hay nhấc đầu lên. Khi nhấc lên từ tư thế ngồi, bạn hãy làm thế từ từ, niệm rằng "lên, lên". Khi thẳng người và đứng dậy, hãy niệm "đứng, đứng". Khi nhìn qua đây và kia, hãy niệm rằng "nhìn, thấy". Khi đi bộ, hãy niệm các bước, cho dù chúng ở bàn chân phải hay trái. Bạn phải ý thức về tất cả các cử động nối tiếp nhau liên hệ, từ việc nhấc bàn chân cho tới đặt bàn chân xuống. Hãy niệm ghi nhận từng bước chân, dù với bàn chân phải hay trái. Đó là cách niệm, khi bạn đi bộ mau.

Thế là đủ, nếu bạn niệm như thế khi đi bộ mau và đi bộ khoảng cách xa. Khi đi bộ chậm, hay bước lên và xuống, có ba giai đoạn nên được niệm từng bước: khi bàn chân nhấc lên, khi bàn chân đưa tới trứơc, và khi bàn chân đặt xuống. Hãy bắt đầu với niệm về các chuyển động nhấc lên và đặt xuống. Bạn phải tỉnh thức trọn vẹn với việc nhấc bàn chân lên. Tương tự, khi bàn chân đặt xuống, bạn phải tỉnh thức trọn vẹn về việc bàn chân đặt xuống "nặng nề".

Bạn phải đi bộ trong khi niệm "lên, xuống" với từng bước chân. Việc niệm này sẽ dễ dàng hơn, sau khoảng hai ngày [tập]. Rồi, hãy tiếp tục niệm ba chuyển động như mô tả trên, như là "lên, tới [trứơc], xuống". Lúc mới tập, có thể niệm ghi nhận một hay hai chuyển động là đu, do vậy niệm "[bước] phải, trái" khi đi bộ nhanh, và "[chân] lên, xuống" khi đi bộ chậm rãi. Nếu khi đi bộ như thế, bạn muốn ngồi xuống, hãy niệm rằng "muốn [ngồi], muốn". Khi ngồi xuống, bạn hãy niệm một cách chú tăm việc hạ xuống "nặng nề" của cơ thể bạn.

Khi bạn đã ngồi, hãy niệm các chuyển động liên hệ khi sắp xếp cánh tay và chân. Khi không có chuyển động như thế của cơ thể, hãy niệm về sự phồng và xẹp nơi bụng. Nếu, trong khi niệm như thế, sự tê cứng hay cảm giác về hơi nóng khởi lên từ bất kỳ nơi nào trong cơ thể, hãy niệm ghi nhận chúng. Rồi trở về lại niệm "phồng, xẹp". Nếu chợt ước muốn nằm xuống, hãy niệm về nó [ước muốn] và niệm các chuyển động của chân và tay trong khi bạn nằm xuống. Việc nhấc tay lên, cử động tay, đặt cùi chõ lên sàn, nghiêng cơ thể, duỗi chân ra, ngả người xuống trong khi bạn chậm rãi sửa soạn nằm -- tất cả các chuyển động đều phải được niệm.

Niệm như thế trong khi nằm xuống thì rất quan trọng. Trong khi làm chuyển động này (tức là, nằm xuống), bạn có thể đạt được trí tuệ biện biệt (tức là, tuệ hiểu rõ về đạo và quả). Khi định và huệ mạnh mẽ, trí tuệ này có thể tới bất kỳ lúc nào. Nó có thể khởi lên trong một cái "co lại" của cánh tay, hay trong một cái "duỗi ra" của cánh tay. Đó là cách Ngài Ananda đã trở thành A La Hán.

Ngài Ananda lúc đó đang ráo riết tìm cách thành tựu thánh quả A La Hán trong đêm trước ngày họp Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ nhất. Ngài đang tu tập cả đêm một hình thức thiền minh sát có tên là kayagatasati, niệm các bước chân của ngài, phải và trái, nâng lên, đưa tới trứơc và đặt bàn chân xuống; niệm ghi nhận, từng sự kiện, ước muốn đi bộ và chuyển động thể lý liên hệ tới việc đi bộ. Mặc dù cứ tu tập như thế cho tới khi trời gần sáng, ngài vẫn chưa chứng quả A La Hán. Nhận thấy rằng ngài đã thiền hành (thiền đi bộ) quá nhiều và rằng, để làm quân bình sức định và nỗ lực, ngài nên tập thiền nằm một chút, ngài mới bước vào phòng. Ngài ngồi trên giường và rồi nằm xuống. Trong khi làm như thế và niệm, "nằm, nằm", ngài chứng thánh quả A La Hán trong chớp nhóang.

Trước khi nằm xuống, ngài Ananda chỉ là một vị nhập lưu (Tu Đà Hoàn). Từ giai đoạn của vị nhập lưu, ngài đạt tới giai đoạn nhất lai (Tư Đà Hàm), rồi quả bất lai (A Na Hàm) và rồi A La Hán (giai đoạn cúôi của thánh đạo). Đạt liền ba giai đoạn thánh quả liên tiếp như thế chỉ trong một khoảnh khắc. Hãy nhớ tới trường hợp ngài Ananda chứng quả A La Hán như thế. Thành đạo như thế có thể tới bất kỳ lúc nào và không cần thời gian lâu dài nào.

Đó là lý do vì sao các thiền gia nên luôn luôn giữ niệm ghi nhận miên mật. Bạn không nên lười biếng, nghĩ rằng, "chút thời gian [lười] này cũng không hề gì bao nhiêu." Tất cả các chuyển động liên hệ trong việc nằm xuống và sắp xếp tay và chân nên được niệm cẩn trọng và liên tục. Nếu không có chuyển động, hãy trở về niệm phồng, xẹp nơi bụng. Ngay cả khi đã trễ và tới giờ ngủ, thiền gia không nên ngừng niệm. Một thiền gia thực sự nghiêm túc và nhiệt tâm nên tu tập tỉnh thức ngay cả khi vào giấc ngủ. Bạn nên thiền tập cho tới khi bạn buồn ngủ. Khi bạn cảm thấy buồn ngủ, bạn nên niệm là "buồn ngủ, buồn ngủ", nếu các mi mắt sụp xuống, hãy niệm "[sụp] xuống, xuống"; nếu mi mắt nặng nề trì xuống, hãy niệm "nặng, nặng"; nếu hai mắt tỉnh ra, hãy niệm "tỉnh, tỉnh". Niệm như thế, cơn buồn ngủ có thể trôi qua, và mắt trở lại sáng tỏ ra. Rồi thì bạn hãy niệm "[thấy] rõ, rõ" và tiếp tục niệm phồng, xẹp nơi bụng.

Tuy nhiên, cho dù có thể quyết tâm thế nào, nếu cơn buồn ngủ thực đã tới, thì bạn sẽ ngủ gục. Không khó khăn gì để ngủ gục; thực sự, nó dễ lắm. Nếu bạn thiền tập trong tư thế nằm, bạn sẽ mau buồn ngủ và dễ dàng ngủ gục. Đó là lý do vì sao người mới tập không nên thiền tập quá nhiều ở tư thế nằm; họ nên thiền tập nhiều hơn ở các tư thế ngồi và đi bộ. Tuy nhiên, khi đã trễ và tới giờ ngủ, bạn nên thiền tập trong tư thế nằm, niệm chuyển động phồng và xẹp của bụng. Rồi bạn sẽ tự nhiên vào giấc ngủ.

Thời gian bạn ngủ là thời gian nghỉ ngơi, nhưng thiền gia nghiêm túc thực sự thì nên hạn chế giấc ngủ khoảng 4 giờ đồng hồ. Đây là "thời khoảng nửa đêm" mà Phật cho phép. Giấc ngủ bốn giờ thì đủ rồi. Nếu người mới tu nghĩ rằng bốn giờ ngủ không đủ cho sức khỏe, bạn có thể nới ra năm hay sáu giờ đồng hồ. Giấc ngủ dài sáu giờ rõ ràng là đủ.

Khi bạn thức dậy, bạn nên tức khắc tiếp tục niệm ghi nhận. Thiền gia nào thực sự muốn thành đạo quả thì chỉ rời thiền tập trong khi ngủ. Vào những lúc khác, trong mọi thời đều phải niệm liên tục và không dễ ngươi. Đó là lý do vì sao, ngay khi bạn thức dậy, bạn nên niệm liền trạng thái thức dậy của tâm là "thức, thức". Nếu bạn chưa thể tỉnh lúc đó, bạn nên bắt đầu với niệm về phồng, xẹp nơi bụng.

Nếu bạn dự tính dậy ra khỏi giường, bạn nên niệm "tính thức dậy, tính thức dậy". Rồi bạn lúc đó nên niệm chuyển động khi bạn cử động tay và chân. Khi bạn ngẩng đầu dậy, bạn hãy niệm là "dậy, dậy". Khi bạn ngồi, hãy niệm "ngồi, ngồi". Khi bạn làm bất kỳ chuyển động nào với tay và chân, tất cả chuyển động đó cũng nên được niệm. Nếu không có gì thay đổi như thế, bạn nên trở về niệm phồng, xẹp nơi bụng.

Bạn nên niệm khi bạn rửa mặt, và khi bạn tắm. Vì các chuyển động liên hệ trong các việc này khá nhanh, niệm được càng nhiều chuyển động càng tốt. Rồi thì các việc như mặc áo, sắp xếp giường, mở và đóng cửa; tất cả việc này cũng nên niệm càng chính xác càng tốt.

Khi bạn vào bữa ăn và nhìn vào bàn, bạn nên niệm "nhìn, thấy, nhìn, thấy". Khi bạn duỗi tay về hướng thực phẩm, sờ nó, lấy về, đón lên và đưa vào miệng, nghiêng đầu xuống và đưa vào miệng, thả tay xuống và ngâng đầu lên lại, tất cả các chuyển động này nên được niệm đúng lúc. (Cách niệm này là theo kiểu ăn của người Miến Điện. Những người sử dụng nĩa, muỗng hay đũa nên niệm các chuyển động theo cách thích nghi.)

Khi bạn nhai thức ăn, bạn nên niệm là "nhai, nhai". Khi bạn nhận biết vị của thức ăn, hãy niệm là "biết, biết". Khi bạn nuốt thức ăn, khi thức ăn trôi vào cổ, bạn nên niệm tất cả các việc này. Đó là cách thiền gia nên niệm khi ăn từng miếng thức ăn. Khi bạn dùng canh (soup), tất cả chuyển động liên hệ như duỗi tay, cầm muỗng, múc lên và vân vân, tất cả đều nên được niệm. Người mới tu nhiều phần quên niệm nhiều việc, nhưng bạn phải quyết tâm niệm hết các chuyển động đó. Dĩ nhiên, bạn không thể làm hết được, nhưng khi định lực của bạn sâu thêm, bạn sẽ có thể niệm tất cả các việc này một cách chính xác.

Tôi đã nói quá nhiều việc mà thiền gia cần phải niệm, nhưng nói ngắn gọn, chỉ có vài điều để nhớ. Khi đi bộ nhanh, hãy niệm là "[bước] phải, trái", và "[nhấc chân] lên, [hạ] xuống" khi đi bộ chậm rãi. Khi ngồi một cách lặng lẽ, hãy niệm phồng và xẹp nơi bụng. Hãy niệm y hệt như thế khi bạn nằm xuống, nếu không có gì đặc biệt để niệm. Trong khi niệm như thế, và nếu tâm thức lang thang, hãy niệm về các niệm sinh khởi trong tâm. Rồi hãy trở về niệm phồng và xẹp nơi bụng. Rồi cũng niệm về cảm thọ tê cứng, đau đớn, nhức mỏi và ngứa nếu chúng khởi lên. Rồi trở về niệm phồng, xẹp nơi bụng. Cũng hãy niệm, khi chúng khởi lên, về các chuyển động co lại, duỗi ra và di động tứ chi, việc nghiêng và ngẩng đầu, việc nghiêng và thẳng người ra. Rồi hãy trở về niệm phồng, xẹp nơi bụng.

Khi bạn tiếp tục niệm như thế, bạn sẽ có thể niệm nhiều hơn các chuyển động này. Vào lúc đầu, khi tâm lang thang nơi này nơi kia, bạn có thể bỏ sót nhiều thứ, nhưng bạn không nên nản lòng. Ai mới tập cũng gặp khó khăn như thế, nhưng khi bạn trở thành khéo léo hơn, bạn sẽ [nhận] biết tất cả các niệm lang thang cho tới khi, thực vậy, tâm không còn lang thang nữa. Rồi thì tâm được hướng vào đối tượng quan sát, niệm tỉnh thức trở thành gần như đồng thời với đối tượng quan sát. Nói cách khác, chuyển động phồng lên của bụng xảy ra đồng thời với niệm về phồng lên, và tương tự với chuyển động xẹp xuống của bụng.

Đối tượng vật lý, và hành vi niệm [ghi nhận về đối tựơng đó] xảy ra như một cặp. Trong khi xảy ra như thế, không có ai hay cá nhân nào liên hệ, chỉ có đối tượng vật lý và hành vi niệm về nó, xảy ra đồng thời. Thiền giả sẽ, đúng lúc, kinh nghiệm những việc xảy ra đó -- chính tự mình thực chứng. Trong khi niệm phồng và xẹp nơi bụng, bạn sẽ phân biệt sự phồng bụng như hiện tượng vật lý, và hành vi niệm về nó như hiện tượng tinh thần; tương tự, đối với sự xẹp bụng xuống. Do vậy, thiền giả sẽ nhận ra rõ ràng sự xảy ra đồng thời theo cặp song song của các hiện tượng tâm-vật lý này.

Với từng hành vi niệm ghi nhận, thiền giả sẽ biết rõ ràng rằng chỉ có phẩm chất vật thể (đang là đối tượng của ý thức chú tâm) và phẩm chất tinh thần đang niệm ghi nhận về nó (đối tựơng vật thể đó). Sự hiểu biết phân biệt này được gọi là tuệ phân biệt về tâm và vật, cũng là tuệ khởi đầu của tuệ minh sát (insight knowledge, vipassana-nana). Điều quan trọng là phải có tuệ này một cách đúng đắn. Khi thiền gia tiếp tục, tuệ này sẽ được theo sau bởi tuệ phân biệt nhân duyên.

Trong khi bạn tiếp tục niệm [ghi nhận], bạn sẽ tự thấy rằng cái gì khởi lên đều biến đi liền chút xíu sau đó. Người bình thường vẫn tin rằng cả hai hiện tượng vật lý và tinh thần cứ hiện hữu hòai như thế, tức là, [có] từ lúc trẻ thơ cho tới khi trưởng thành. Thực sự, không phải như thế. Không có hiện tượng nào tồn tại mãi mãi. Tất cả các hiện tượng đều sinh [khởi] và diệt [mất] quá mau chóng, tới nổi chúng không thể tồn tại ngay cả trong một cái chớp mắt. Bạn sẽ biết bằng thực chứng như thế, khi bạn tiếp tục niệm [ghi nhận]. Rồi bạn sẽ thấy đặc tính vô thường của tất cả các hiện tượng như thế. Điều này gọi là tuệ giác về tính vô thường (aniccanupassana-nana).

Kế tiếp sau tuệ giác này là tuệ giác về khổ (dukkhanupassana-nana), nhận thực rằng tất cả các pháp vô thường đều là đau khổ. Thiền gia cũng nhiều phần sẽ gặp tất cả các loại trở ngại [bất như ý] trong cơ thể, mà cơ thể chỉ là kết hợp các phần tử của đau khổ. Đây cũng gọi là tuệ giác về khổ. Kế tiếp, thiền gia sẽ nhận ra rằng tất cả các hiện tượng tâm-vật đang xảy ra theo sự hòa hợp riêng của chúng, không theo ý chí của bất kỳ ai và cũng không trong quyền kiểm soát của ai. Đó chính là hiện tượng vô ngã, tức là không có một tự ngã [cái tôi] nào. Nhận thức này gọi là tuệ giác về vô ngã (anattanupassana-nana).

Trong khi bạn tiếp tục thiền tập, bạn sẽ chứng ngộ chắc thật rằng tất cả các hiện tượng này là vô thường, khổ và vô ngã, bạn sẽ thành tựu Niết bàn. Từ xưa tới giờ tất cả các vị Phật, A La Hán và Thánh Nhân đã chứng nhập Niết bàn bằng con đường này. Tất cả các thiền gia nên nhận thức rằng chính các bạn bây giờ đang trên con đường quán niệm (satipattana), để hoàn tất ước nguyện của các bạn nhằm thành tựu tuệ giác về đạo, về quả và về niết bàn, theo sau sự trưởng dưỡng chín mùi các ba la mật. Các bạn sẽ hạnh phúc với viễn ảnh thực chứng sự vắng lặng cao quý, mà sự vắng lặng này có được là nhờ định lực và nhờ tuệ giác siêu việt -- trước giờ đã trải qua bởi chư Phật, A La Hán và Thánh Nhân -- mà chính các bạn trước giờ chưa từng trải qua. Sẽ không có lâu xa gì trước khi các bạn tự kinh nghiệm về tuệ giác này. Thực sự, nó có thể lâu chỉ trong một tháng hay hai mươi ngày thiền tập. Những bạn nào đã thực hiện xuất sắc các pháp ba la mật, thì có thể chứng đạo chỉ trong vòng 7 ngày.

Do vậy, bạn hãy an vui trong niềm tin rằng bạn sẽ thành tựu các tuệ giác này trong thời gian nói trên, và rằng bạn sẽ được giải thoát khỏi các nghi ngờ và ngã chấp (personality-belief), và do vậy được thoát khỏi hiểm nguy tái sinh vào các cõi thấp. Bạn hãy tiếp tục thiền tập một cách lạc quan với niềm tin này.
Xin chúc lành cho tất cả các bạn tu tập thiền định tốt đẹp và mau chóng thành đạt niết bàn mà chư Phật, A La Hán và Thánh Nhân đã thành đạt!

Hướng dẫn hành thiền - Ajahn Chah

Có một số đọc giả gửi email thắc mắc về việc hành thiền (định và quán), hoặc có thể tu quán mà không nhập thiền được không?  v.v và v.v…
Sau tìm đọc một số tài liệu, Supanna Thiện Trí nhận thấy bài giảng của ngài Ajahn Chah có thể đáp ứng được thắc mắc chung của qúy đọc giả nên đã dịch ra để gửi đến bạn đọc. Với lối giảng dạy giản dị nhưng sinh động cùng với kinh nghiệm thực chứng, bài giảng của ngài có thể như là một bản phác thảo rõ ràng về Con Đường. Hy vọng qúy đọc giả quan tâm đến Pháp hành sau khi đọc xong bài này có thể hình dung được  con đường  đi đến Giải thoát – Níp – bàn như thế nào và vững tin với Pháp hành mà mình đã chọn.

***

Làm cho  tâm an tịnh có nghĩa là tìm một sự quân bình đúng mực.  Nếu bạn cố gắng ép tâm quá mức nó sẽ đi quá đà, nếu bạn không cố gắng đủ, bạn sẽ không đến được điểm đến, nó đi trượt điểm quân bình.

Thường thì tâm không yên, nó phóng đi suốt, nó thiếu sức mạnh. Luyện tập cho thân khỏe mạnh và luyện tập cho tâm khỏe mạnh thì chẳng giống nhau.  Để làm cho tâm mạnh khỏe, các bạn phải tập thể dục, các bạn phải thúc nó, để làm cho nó mạnh lên, nhưng để làm cho tâm mạnh lên,  có nghĩa là làm cho nó an tịnh, đừng để nó lăng xăng nghĩ chuyện này chuyện nọ.  Với hầu hết mọi người chúng ta, tâm chẳng bao giờ an tịnh vì nó chẳng bao giờ có năng lực định (Samadhi), vì vậy chúng ta phải đặt tâm vào  trong vòng kim tỏa.  Chúng ta ngồi thiền, giữ chánh niệm.

Nếu chúng ta ép hơi thở quá dài hay quá ngắn, chúng ta không có sự quân bình, tâm  sẽ không trở nên an tịnh.  Điều này cũng giống như chúng ta mới tập sử dụng máy may đạp bằng chân.  Đầu tiên chúng ta tập đạp máy may để tập cho có sự phối hợp thích hợp trước khi chúng ta thực sự may cái gì.  Theo dõi hơi thở cũng tương tự như vậy.  Chúng ta đừng bận tâm đến việc hơi thở phải dài hay ngắn, mạnh hay yếu ra sao.  Chúng ta chỉ ghi nhận nó.  Nó như thế nào chúng ta cứ việc để nó như thế ấy, theo dõi cái hơi  thở tự nhiên.

Khi hơi thở quân bình, chúng ta mới dùng nó như là đề mục thiền của chúng ta. Khi chúng ta thở vào,  điểm đầu của hơi thở sẽ ở tại chóp mũi, điểm giữa hơi thở tại ngực và điểm cuối của hơi thở là ở bụng.  Đây là con đường của hơi thở. Khi chúng ta thở ra, điểm đầu của hơi thở là bụng, điểm giữa tại ngực và điểm cuối tại chóp mũi. Chúng ta chỉ đơn giản ghi nhận con đường của hơi thở này tại  ba điểm chóp mũi, ngực và bụng.  Chúng ta lưu ý ba điểm này để làm cho tâm vững chắc, hạn chế  tâm lặng xăng để chánh niệm và tỉnh giác có thể dễ dàng sinh khởi.

Khi  đã thuần thục  trong việc  ghi nhận tại ba điểm này, chúng ta có thể bỏ qua chúng và chỉ ghi nhận hơi thở vào và hơi thở ra, tập trung tại một nơi duy nhất là chóp mũi hay là vùng môi trên nơi mà luồng hơi vào, ra xúc chạm.  Chúng ta không phải theo dõi hơi thở, chỉ thiết  lập chánh niệm trước mặt chúng ta tại chóp mũi, và ghi nhận hơi thở vào, ra tại một điểm này – vào, ra, vào, ra. Chẳng cần phải nghĩ  đến một  cái gì đó đặc biệt, chỉ tập trung vào nhiệm vụ đơn giản này ngay trong hiện tại, hãy giữ cho tâm có sự hay biết liên tục. Chẳng có gì khác hơn để làm, chỉ thở vào và thở  ra.

Chẳng bao lâu, tâm trở nên an tịnh và hơi thở trở nên tế. Thân và tâm trở nên nhẹ nhàng.  Nếu việc thực hành đúng thì chúng ta sẽ đạt được trạng thái như vậy.

Khi đang ngồi thiền, tâm trở nên lắng trong nhưng cho dẫu chúng ta đang ở trong bất kỳ trạng thái nào chúng ta phải ý thức rõ việc đó, phải  hay biết nó.  Ở đó là sự hiện diện của các sinh hoạt  của tâm  cùng với sự an tịnh. Có tầm (vitakka). Vitakka là hành động đưa  tâm đến đề mục quán chiếu.  Nếu không có nhiều chánh niệm,  sẽ không có nhiều vitakka.  Rồi theo sau đó là  tứ (vicara), sự quán chiếu quanh đề mục đó.  Có một số cảm giác về trạng thái  tâm còn “yếu” thỉnh thoảng sanh khởi nhưng sự tỉnh giác của chúng ta là điều quan trọng – bất cứ điều gì cũng có thể sinh khởi nhưng chúng ta phải hay biết, ghi nhận nó một cách liên tục.  Khi chúng ta  vào sâu hơn trong định, chúng ta phải luôn luôn biết về trạng thái thiền của chúng ta,  phải biết tâm chúng ta có đứng yên trên đề mục một cách vững chắc hay không.  Vì vậy định và sự tỉnh giác, cả hai, đều có mặt.

Có một cái tâm an tịnh không có nghĩa rằng chẳng có điều gì sanh khởi, những cảm xúc sẽ sinh khởi. Thí dụ khi chúng ta nói về tầng  thiền thứ nhất, chúng ta nói nó có năm thiền chi. Cùng với vitakka và vicara, hỷ (piti) sẽ sanh khởi cùng với đề mục thiền và rồi sau đó là lạc (sukha).  Tất cả bốn chi thiền này cùng nằm với nhau trong môt cái tâm đã đạt được sự  tĩnh lặng. Tất cả chúng cùng là một trạng thái.

Thiền chi thứ năm là ekaggata hay nhất tâm.  Các  bạn sẽ thắc mắc làm sao có thể có sự nhất tâm khi còn có bốn chi thiền khác này.  Đây  là do tất cả chúng đều trở nên hợp nhất trên nền tảng của sự an tịnh đó.  Tất cả các chi thiền đó cùng được gọi chung là  định (Samadhi).  Chúng không phải mà những trạng thái hàng ngày của tâm, chúng là những thiền chi.   Định có năm đặc điểm này, nhưng chúng không làm nhiễu loạn sự an tịnh căn bản.  Tâm, vì vậy, đồng nhất với năm chi thiền này như là một.  Tầng thiền đầu tiên là như vậy.

Chúng ta không cần gọi nó là tầng thiền thứ nhất,  tầng thiền thứ hai, tầng thiền thứ ba và v.v… hãy chỉ đơn giản gọi là “một cái tâm tĩnh lặng”. Khi tâm dần dần trở nên an tịnh hơn, nó sẽ từ bỏ  vitakka và vicara để có được hỷ và lạc.  Tại sao tâm từ bỏ vitakka và vicara? Đây là do tâm càng ngày càng trở nên  vi tế  hơn, tầm và tứ quá thô không thể giữ lại.

Tại giai đoạn này,  khi tâm từ bỏ vitakka và vicara, cảm giác hỷ mạnh mẽ có thể sinh khởi, nước mắt có thể trào ra.  Nhưng khi Samadhi (định ) sâu hơn, hỷ cũng sẽ bị loại bỏ, chỉ còn chừa lại lạc và sự nhất tâm cho đến khi cuối cùng ngay cả lạc cũng phải ra đi và tâm đạt đến trạng thái vi tế nhất.  Chỉ còn sự quân bình (xả) và sự nhất tâm, tất cả những thứ khác đều bị bỏ lại.  Tâm đứng yên, bất động.

Một khi tâm an tịnh thì việc này có thể xảy ra. Các bạn không phải suy nghĩ nhiều về nó, tự nó sẽ sinh khởi.  Đây được gọi là năng lực của một cái tâm an tịnh.  Trong trạng thái này, tâm không buồn ngủ (hôn trầm); năm triền cái, tham, sân, hôn trầm và thụy miên, trạo hối, hoài nghi tất cả đều biến mất.

Nhưng nếu năng lực  tâm vẫn không mạnh và chánh niệm yếu, thỉnh thoảng sẽ có  những cảm xúc  không mời mà đến sinh khởi.  Tâm an tịnh nhưng dường như có “sự vẫn đục” trong sự tĩnh lặng đó. Tuy vậy nó không phải là một dạng hôn trầm thông thường,  một số cảm xúc sẽ thể hiện – có thể chúng ta sẽ nghe một âm thanh, hay thấy hình ảnh một con chó hay một cái gì đó.  Nó không thực sự rõ ràng nhưng nó cũng không phải là một giấc mơ.  Đây là do năm thiền chi bị mất cân bằng và yếu.

Tâm thường chơi khăm trong những  mức độ tĩnh lặng này.  “Tưởng tượng”  thỉnh thoảng sẽ xuất hiện khi tâm ở trong trạng thái này  qua bất kỳ một cửa giác quan nào, và hành giả không thể nói chính xác là chuyện gì đang xảy ra “ Mình đang ngủ à? Không. Nó có phải là giấc mơ không? Không, nó không phải là một giấc mơ…” Những cảm  giác này sinh khởi từ một trạng thái tâm khá tĩnh lặng, nhưng nếu tâm thực sự định tĩnh và trong sáng, chúng ta sẽ không hoài nghi về những cảm giác hoặc tưởng tượng sinh khởi.  Những câu hỏi như “ Mình đã bị cuốn đi à?  Mình đang ngủ sao? Mình bị lạc đường à?” sẽ không sinh khởi  vì chúng  là đặc điểm của một cái tâm vẫn còn hoài nghi.  “ Mình đang ngủ hay thức vậy? “ …Xem nào,  tâm bị lu mờ! Đây là một cái tâm bị lạc lối  trong những trạng thái của nó.  Nó giống như mặt trăng bị đám mây đi ngang qua.  Bạn vẫn có thể thấy mặt trăng, nhưng những đám mây bao phủ nó làm cho nó bị lu mờ. Nó không giống trường hợp mặt trăng nhô lên từ sau những đám mây – trong sáng và rõ ràng.

Khi tâm an tĩnh và thiết lập vững chắc trong chánh niệm và sự tự tỉnh giác, chúng ta sẽ không có hoài nghi về những hiện tượng khác nhau mà chúng ta gặp phải.  Tâm sẽ thực sự vượt lên trên mọi chướng ngại.  Chúng ta sẽ biết một cách rõ ràng bất cứ điều gì khi nó sinh khởi trong tâm.  Chúng ta không hoài nghi về nó vì tâm chúng ta trong sáng.  Tâm đạt đến trạng thái định là  như vậy đấy.

Tuy nhiên một số người thấy khó nhập định bởi vì nó không phù hợp với căn tánh của họ. Họ có định, nhưng định của họ không mạnh hay vững chắc. Nhưng người ta có thể đạt được sự an vui  thông qua việc sử dụng trí tuệ, thông qua sự quán chiếu và nhìn thấy sự thật (chân lý) của sự vật,  họ giải quyết vấn đề theo cách đó. Đây là  sử dụng trí tuệ chứ không phải là sức mạnh của thiền định.  Để đạt được sự định tĩnh trong thực hành không nhất thiết phải ngồi thiền, ví dụ, chỉ cần tự hỏi: "Ê, kia là cái gì?..." và giải quyết vấn đề của bạn ngay tại đó! Một người có trí tuệ là như vậy đấy. Có lẽ vị ấy  không thể thực sự đạt được những  mức độ cao của định, mặc dù vị ấy phát triển định một mức độ nào đó, đủ để trau dồi trí tuệ. Nó giống như sự khác biệt giữa trồng lúa và trồng bắp. Người ta có thể phụ thuộc vào gạo nhiều hơn bắp để kiếm sống.  Việc thực hành của chúng ta có thể giống như vậy,  chúng ta dựa vào trí tuệ nhiều hơn để giải quyết vấn đề. Khi chúng ta nhìn thấy chân lý, sự an bình sẽ  sinh khởi.

Hai cách không giống nhau.  Một số người có năng lực nội quán mạnh mẽ nhưng họ không có định mạnh. Khi họ ngồi thiền họ không được an tịnh lắm.  Họ  thường suy nghĩ nhiều, quán chiếu điều này điều nọ, cho đến khi cuối cùng họ quán chiếu về hạnh phúc và khổ và thấy được chân lý.  Một số người có năng khiếu về việc này hơn là thực hành để huân tập định. Bất cứ khi nào họ đứng, đi, ngồi, nằm, sự chứng  ngộ Pháp có thể xảy ra. Qua  sự thấy, qua sự buông bỏ, họ đạt được sự an vui.  Họ đạt được sự an vui qua sự hiểu biết chân lý không một chút hoài nghi bởi vì họ tự đã tự chứng nhiệm cho chính mình.

Những người khác, có ít trí tuệ nhưng  tâm định lại rất mạnh. Họ có thể nhập định sâu một cách nhanh chóng , nhưng không có nhiều trí tuệ. Họ không thể nhận ra được phiền não của họ, không hay biết chúng.  Họ không thể giải quyết vấn đề của mình.

Nhưng, bất luận phương pháp tu tập nào mà chúng ta sử dụng,  chúng ta phải loại bỏ tà kiến,  chỉ giữ lại chánh kiến mà thôi. Chúng ta phải loại bỏ sự rối loạn, chỉ giữ lại an bình mà thôi. Con đường nào cuối cùng rồi cũng kết thúc tại cùng một chỗ.  Có  hai mặt của sự thực hành, nhưng hai mặt này, sự định tĩnh và nội quán, đi cùng với nhau. Chúng ta không thể bỏ một trong hai. Chúng phải đi cùng với nhau.

Cái gì "nhìn bao quát " những yếu tố khác nhau sinh khởi trong  lúc hành thiền chính là “sati”  chánh niệm. Chánh niệm là điều kiện - qua việc thực hành-  có thể  có thể giúp  cho các yếu tố khác sinh khởi. Chánh niệm là sự sống. Bất cứ lúc nào chúng ta  không có chánh niệm,  khi chúng ta phóng dật, thì chúng ta coi như chết. Nếu không có chánh niệm, lời nói và hành động của chúng ta không có ý nghĩa gì cả. Chánh niệm ở đây đơn giản chỉ  là sự  nhớ lại (recollections). Nó là nhân cho sự tự tỉnh giác và trí tuệ sinh khởi. Bất cứ phẩm hạnh nào mà chúng ta trau dồi  sẽ không hoàn hảo nếu thiếu chánh niệm.  Chánh niệm là cái canh chừng chúng ta trong khi đi, đứng, nằm, ngồi. Ngay cả khi chúng ta không còn ở trong định, chánh niệm luôn luôn lúc nào cũng phải hiện diện.

Bất luận gì ta làm, chúng ta phải thận trọng. Một ý thức hổ thẹn  sẽ sinh khởi . Ta sẽ cảm thấy hổ thẹn về những việc không đúng mà chúng ta sẽ làm. Khi hổ thẹn tăng trưởng, sự tự chủ cũng tăng trưởng. Khi sự tự chủ tăng trưởng, phóng dật sẽ tan biến. Ngay cả khi chúng ta không ngồi thiền những yếu tố này  vẫn hiện diện trong tâm.

Và điều này sinh khởi là do chúng ta trau dồi chánh niệm. Hãy vun bồi chánh niệm!  Đây là pháp (dhamma) giám sát công việc chúng ta đang làm hoặc đã làm trong quá khứ. Nó có sự hữu ích.  Chúng ta lúc nào cũng phải tự hay biết chính mình. Nếu chúng ta tự biết mình như thế này, cái đúng sẽ tự nhận ra  nó từ cái sai, con đường sẽ trở nên rõ ràng, và nhân của tất cả mọi sự hỗ thẹn sẽ tan biến. Trí tuệ sẽ sinh khởi.

Chúng ta có thể gom sự thực hành này lại như giới, định và tuệ. Hãy tự chủ, hãy tự kiểm soát, đây là Giới. Sự kiên định của tâm nằm trong sự kiểm soát đó là Định.  Có sự hiểu biết hoàn hảo,  toàn diện trong cái công việc  mà chúng ta  tham gia, đang làm  là Tuệ.  Việc thực hành nói tóm gọn chỉ là giới, định và tuệ hay nói cách khác,  đó chính là con đường. Không có con đường nào khác.
Theo: A Taste of Freedom
Chuyển ngữ: Supanna Thiện Trí