Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Vượt bốn điều chẳng thể tránh - Thiện Nhựt

Thế gian nầy có đầy hiểm hoạ gây ra biết bao tổn hại. Ai ai cũng đều kinh sợ các hiểm họa và mong muốn vượt thoát khỏi, để sống trong sự an toàn. Có những hiểm hoạ dầu nguy cấp, sức tàn phá thật mãnh liệt, nhưng cũng có cách để vượt thoát. Lại có những hiểm hoạ, tuy chẳng đe doạ khốc liệt nhưng âm thầm công phá và hủy hoại, khiến chẳng một ai tránh thoát được.

1. Thế gian đầy hiểm hoạ.
1.1. Các thiên tai về thời tiết, cuồng phong, lũ lụt, điạ chấn, hoả hoạn, với các tiến bộ khoa học hiện nay tiên đoán được sự xuất hiện, có thể giúp con người biết tránh xa kịp thời, trước khi có hiểm họa xảy đến, hoặc phòng ngừa, ngăn chặn lại.
1.2. Chiến tranh, nạn đói, bịnh dịch, do lòng ngườì quá thù hận, tham lam, si mê gây ra, dầu tạo nên biết bao tang tóc, đau thương, vẫn có thể tránh, hoặc làm giảm bớt sự khốc hại được.
1.3. Các loại độc trùng, các loài ác thú nơi vùng biên điạ, tuy nguy hiểm cho tánh mạng con người, nhưng vẫn có những phương tiện để tiêu diệt chúng, hoặc để tự bảo vệ mình.
1.4. Nhưng có bốn hiểm hoạ mà con người, bất cứ là ai, cũng chẳng thể nào tránh được: (1) già nua, (2) bịnh tật, (3) chết chóc, và (4) hậu quả của việc ác đã làm.
Trong bản Kinh An Toàn, thuộc Tăng Chi Bộ Kinh, Thiên 4, Phẩm 19, Kinh số 182 (Anguttara, Catukka Nipàta, V19, 182) Đức Phật có dạy: "Không một Sa môn, Bà la môn, Thiên, Nhơn, Màra (= ma), Phạm Thiên hay bất cứ ai ở đời, có được sự an toàn đối với bốn pháp nầy: già, bịnh, chết và khổ quả của ác nghiệp." Bốn hiểm hoạ đó, ta chẳng thể ngăn ngừa được, mà cũng chẳng ai có thể giúp ta tránh thoát được.
1.5. Trong cuộc sống, từ lúc sanh ra, con người đi lần lần đến tuổI già, xuyên qua bịnh hoạn, để sau cùng tới cõi chết. Con đường độc đạo đó, Kinh sách thường ví như con người đang đi từ từ vào vùng có rắn độc. Lẽ đương nhiên, khi đi vào vùng có rắn độc, người bộ hành cần trang bị gậy gộc, võ khí, để lâm thời có thể tự vệ được.
Cùng thế ấy, con người cũng phải có võ khí để đối đầu với bốn hiểm hoạ chẳng thể tránh. Võ khí ấy chính là Chánh Pháp, và mọi người nên thực hành, trau dồi và phát triển, để làm hành trang lên đường, phòng bị và đối phó với các hiểm nguy chắc chắn đang chực sẵn.
Có kệ rằng:
Tuổi già, bịnh hoạn và chết chóc,
Hậu quả các hành vi chẳng lành,
Đó là bốn điều chẳng thể tránh.
*
2. Hiểm hoạ của già nua.
Sự già nua đến với con người dưới hai hình thái: (1) già nua về thể chất; (2) già nua về tinh thần.
2.1. Già nua về thể chất có nghiã là các cử động của thân thể vì thiếu phần nhanh nhẹn mà trở nên nặng nề, chậm chạp. Những động tác như ngồi xuống, đứng dậy, đi từ nơi nầy sang nơi khác đều trở thành gánh nặng. Cơ thể cảm thấy mau mệt mỏi khi hoạt động, như lúc ngồi xuống cần người đỡ, đứng lên cần có chỗ vịn. Thân thể đã bắt đầu thay đổi từ từ, da nhăn lại, lưng còng xuống, nhức mỏi, mắt mờ, tai lảng, răng rụng, ... đó là các dấu hiệu của sự già nua về thể chất.
2.2. Già nua về tinh thần có nghiã là tâm trí chẳng còn hoạt động bén nhạy như xưa. Trí nhớ trở nên lu mờ. Trước bắt đầu quên tên của láng diềng, bè bạn. Khi đến tuổi tám, chín mươi, lại quên mất cả danh tánh của những người thân. Và về sau nữa, chẳng còn nhớ lại được cả đến tên tuổi của con cháu trong nhà.
Lại nữa, tuổi tác lớn thường hay quên trước quên sau. Tính đi vào phòng, định lấy một vật gì, bước vào trong lại quên mất vì sao lại vào đây. Trở ra ngoài tính làm một việc chi, ra khỏi phòng rồi lại chẳng nhớ ra đây để làm gì. Chuyện cũ ba bốn mươi năm về trước thì nhớ thật kỹ, thuật lại vanh vách, rành mạch, còn việc mới vừa qua lại chóng quên: vừa uống thuốc cách đây mười phút, lại hỏi thuốc đâu chẳng đem lại cho mình.
2.3. Cùng với thời gian âm thầm trôi qua, các năng khiếu tinh thần càng ngày càng lu mờ, cũng như các bộ phận của chiếc xe quá cũ bị hao mòn, rỉ sét, khiến cho chẳng bao lâu phải lâm vào cảnh "phản lão hoàn đồng", nói năng và hành động như đứa trẻ con non nớt mà các nhà tâm lý học hiện đại gọi là thời kỳ ấu thơ lần thứ hai. Hơn nữa, sự suy hoại các năng khiếu tinh thần đi lần lần đến sự lú lẫn mà danh từ y khoa ngày nay gọi là bịnh Alzheimer (tên Bác sĩ tâm thần người Đức 1864 1917) tức là sự tê liệt ở não bộ từ từ đưa đến sự thác loạn tinh thần như kẻ mất trí, nói phều phào, bập bẹ chẳng ra tiếng, run rẩy, hoàn toàn mất sự tự chủ. Điều nầy khiến cho những kẻ có nhiệm vụ săn sóc cư xử với bực già lão như là đối với lũ trẻ con, lắm khi thiếu lễ độ trong lời ăn tiếng nói và có những hành động thiếu tế nhị, chẳng được nể nang cho lắm. Hoá ra, cả người được săn sóc và kẻ chăm nom đều chẳng hài lòng.
Lẩn thẩn, lẩm cẩm, hay quên, lú lẫn, đó là những dấu hiệu của sự già nua về tinh thần.
Có kệ rằng:
Hiểm hoạ của già nua,
Mặc dầu còn chưa thấy,
Nhưng ta phải nhìn xa,
Suy tư về cảnh ấy.
2.4. Lúc còn trẻ, ta chưa thấy sự già nua nơi ta, nhưng tiến trình già lão đã bắt đầu ngay cả khi con người mới sanh ra, các tế bào không ngừng sanh rồi già, già rồi diệt, nhường chỗ cho các tế bào mới, để rồi lại già, lại diệt. Chính vì những năng lực về vật chất và tinh thần của tuổi trẻ còn đang hùng mạnh nên tiến trình già lão dễ bị che khuất. Thế cho nên, cứ tưởng ta trẻ trung và mạnh khoẻ mãi chẳng già, mà sanh ra lòng kiêu mạn về tuổi trẻ, có thái độ và hành động chẳng thích đáng. Lao đầu vào các thú vui vật chất, trác táng suốt đêm thâu, sao chẳng nghĩ đến sự suy yếu, già lão, chắc chắn sẽ từ từ đến với mọi người, đâu có phân biệt riêng một ai.
2.5. Trong bản Kinh Được nuôi dưỡng tế nhị, Tăng Chi Bộ Kinh, Thiên 3, Phẩm Sứ giả của Trời, bản Kinh số 38 (Anguttara, Tika Nipàta, V4, 38) Thế Tôn nhắc lại thời niên thiếu của Ngài trong cung vàng điện ngọc, ăn sung mặc sướng, kẻ hầu người hạ, "đêm và ngày, một lọng trắng được che cho Ta, để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, .... Ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ, một cái cho mùa mưa ... Trong bốn tháng mưa, được những nữ nhạc đoanh vây, Ta không xuống dưới lầu... Với Ta, được nuôi dưỡng tế nhị như vậy, trong sự giàu sang như vậy,Ta suy nghĩ rằng: "Kẻ phàm phu tự mình bị già, không vượt qua khỏi già, khi thấy người khác bị già, lại bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm, quên rằng mình cũng sẽ như vậy. Ta cũng bị già, không vượt khỏi già, sau khi thấy người khác già, Ta có thể bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm sao? Như vậy, thật không xứng đáng cho Ta." Sau khi quán sát về Ta như vậy, nầy các Tỳ kheo, sự kiêu mạn của tuổi trẻ trong tuổi trẻ được đoạn trừ hoàn toàn."
Lời dạy của Đức Phật thật rõ ràng: Nay ta còn trẻ trung, sức khoẻ dồi dào, thân thể cường tráng, ta chớ nên quá hãnh diện về tuổi trẻ của mình, sanh lòng ngạo mạn đối với với kẻ già nua, ốm yếu, mà phải luôn luôn quán tưởng rằng cái già rồi sẽ đến với ta, chẳng thể tránh được. Vậy ngay từ bây giờ, ta phải nên tuân theo lời dạy của Đức Phật: "... Khi quán sát hiểm hoạ của sự già nua, ... liền tìm vào nơi vắng vẻ... với tâm thanh tịnh và bằng an, thực hành và phát triển Thiền Minh Sát (Vipassana) theo đúng phương pháp, nhận thấy rõ bản chất sanh khởi và tiêu diệt của Danh pháp (Nama dhamma) và Sắc pháp (Rupa dhamma), sẽ thọ hưởng được Phỉ (Piti) và Lạc (Sukha) của Thiền Minh Sát mà chẳng có hạng thông thường nào ở cõi người hay cõi Trời có thể cảm thọ hay chứng nghiệm được."
*
3. Hiểm hoạ của bịnh tật.
3.1. Bịnh tật là mối đe doạ thường xuyên đang bao vây mọi người. Môi trường sanh sống chứa đầy hiểm hoạ. Vi trùng trong không khí, dưới nước, trên bờ, đâu đâu cũng sẵn đó, chỉ chờ dịp thuận tiện để đột nhập vào cơ thể công phá, gây nên các chứng bịnh hiểm nghèo.Thời tiết thay đổi đột ngột cũng góp phần tạo nên sự bất an, nóng lạnh, hắt hơi, ho hen tuy sơ sài, nhưng nếu chẳng lướt qua được, cũng có thể đưa đến sưng màng phổi, nguy đến tánh mạng.
3.2. Cơ thể con người được phú sẵn hai phòng tuyến bảo vệ để chống lại bịnh tật. Bên ngoài, bao bọc toàn thân, có lớp da mỏng che chở, ngăn chận được sự xâm nhập của các loại vi trùng ; còn bên trong có hệ thống miễn nhiễm đề kháng lại các loại độc tố; nhưng nếu sơ hở thiếu vệ sanh, vô ý để gây ra thương tích, vi trùng thừa dịp lan vào phổi, vào máu, có thể tạo nên những chứng bịnh trầm trọng khác.
3.3. Bịnh tật gây ra đau khổ trên thân tâm con người. Thân thể bị cơn bịnh hành hạ, gây ra đau nhức, khiến cho tâm thần bất an sanh ra bực bội, khó chịu. Đau là thân đau, tức là thân bịnh; còn khổ là tâm khổ, tức là tâm bịnh. Sự phân biệt rõ rệt giữa thân bịnh và tâm bịnh khiến cho ta có thể đối đầu với hiểm hoạ bịnh tật một cách hữu hiệu được. Xin hãy đọc qua và tìm hiểu bài tóm tắt bản Kinh Nakulapità, Tương Ưng Bộ Kinh, Tập III, Chương Một, Phần A, Kinh số 1 (Samyutta, III, 1) như sau:
1/- Nhân duyên. Vào một thời kia, đức Phật sống giữa dân chúng Bhayga, tại vườn Nai, núi Cá sấu, rừng Bhesaka. Có gia chủ Nakulapità đến yết kiến đức Phật và được Thế Tôn giảng cho nghe Kinh nakulapità, chỉ rõ dẫu thân già có bịnh, nhưng tâm vẫn không bịnh. Sau đó gia chủ đến gặp Tôn giả Xá lợi phất (Sàriputta) và được nghe giảng rộng thêm về ý nghiã vắn tắt: thân bịnh và tâm bịnh.
2/- Nội dung. Kinh, tóm tắt lại, gồm có ba điểm chánh:
a) Thân bịnh nhưng tâm không bịnh:
Gia chủ Nakulapità: Bạch Thế Tôn, con nay tuổi già, thân bịnh hoạn, chẳng được thường thấy Thế Tôn và các Tỳ kheo, xin Thế Tôn dạy cho con một pháp ngắn, để con được sống hạnh phước lâu dài.
Thế Tôn: Nầy Gia chủ, ai mang thân nầy lại tự cho là chẳng bịnh, dầu chỉ trong giây lát, thì đó là người ngu. Do vậy, Gia chủ cần nên học tập: "Dầu cho thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh."
Gia chủ Nakulapità rất hoan hỷ tin nhận lời Phật dạy, rồi đi đến gặp Tôn giả Xá lợi phất.
Tôn giả Xá lợi phất: Nầy Gia chủ, sắc diện của Ông rất thanh tịnh, hoan hỷ, có phải Ông vừa đến nghe Thế Tôn nói pháp?
Nakulapità: Tôi vừa được nghe Thế Tôn dạy: "Dầu thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh." Mong Tôn giả giải thích rộng thêm cho.
b) Thế nào là thân bịnh và tâm bịnh?
Tôn giả Xá lợi phất: Nầy Gia chủ, kẻ phàm phu vì chẳng thấy và hiểu rõ các pháp của bực Thánh để tu tập, nên quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc. Kẻ đó bị ám ảnh: "Sắc là Ta, sắc là của Ta", do đó, khi nào sắc thân nầy bị đau đớn, đổi khác, hay biến hoại, tâm kẻ ấy khởi lên sầu bi, khổ, ưu não!.Như vậy là thân có bịnh và tâm cũng có bịnh.
c) Thế nào là thân bịnh nhưng tâm không bịnh?
Tôn giả Xá lợi phất: Nầy Gia chủ, vị Thánh đệ tử đa văn hiểu rõ các pháp của bực Thánh, tu tập thuần thục các pháp của bực Thánh, nên vị ấy chẳng quán sắc như là tự ngã; do đó, vị ấy chẳng bị ám ảnh: "Sắc là Ta, sắc là của Ta"; khi nào sắc thân nầy bị đau đớn, đổi khác, hay biến hoại, tâm kẻ ấy chẳng khởi lên sầu bi, khổ, ưu não.
Nầy Gia chủ, như vậy là thân có bịnh, nhưng tâm chẳng bịnh.
3.4. Quán sát và ghi nhận tiến trình của cơn đau.
Khi cơn đau nổi lên và trở nên dữ dội, thì thân thể và đầu óc cũng trở nên căng thẳng; trong lúc đó, ta nên cố gắng giữ sao cho tâm được thanh thản phần nào, quan sát thật kỹ lưỡng và thật tích cực để xem xét đau đớn ở chỗ nào. Có phải đau ở da, hay ở bắp thịt, hoặc trong gân, trong xương, và cố gắng ghi nhận cho thật đúng, thật đích xác vị trí chỗ đau. Trong khi ghi nhận như thế, ta sẽ nhận ra cơn đau đớn lại gia tăng, và sau ba bốn lần ghi nhận, cơn đau lên đến tột đỉnh, rồi lại giảm dần, giảm dần, theo chiều hướng tự nhiên của nó. Đến đây, ta đừng ngưng việc quan sát mà phải tiếp tục theo dõi nữa. Rồi ta sẽ thấy cơn đau dường như dời sang chỗ khác, hay từ từ lặn dần. Như thế, cơn đau mà ta ghi nhận chính là một khổ thọ, nó chẳng phải xảy ra liên tục, chẳng phải bất di bất dịch, mà nó thay đổi cường độ, lúc dữ dội, lúc dìu dịu, lúc ở chỗ nầy, lúc chạy sang chỗ khác. Đó là ta đã nhận thức được bản chất của khổ thọ: lúc nào nó khởi lên, nó kéo dài ra sao, rồi lúc nào nó diệt đi mất. Thấy và biết rõ sự sanh khởi và sự tiêu diệt của khổ thọ, đó là ta đang chứng nghiệm được tánh cách vô thường của thọ uẩn. Cơn đau, ý thức được cơn đau, và tâm quán sát cơn đau, cả ba hiện tượng nầy đều hoại diệt dưới con mắt tâm của người quán sát. Cơn đau là vô thường. Ý thức về cơn đau cũng vô thường. Tâm quán sát cơn đau lại cũng vô thường nốt.
Trong cơn đau, mà biết quán sát tỉ mỉ tánh cách vô thường, chẳng liên tục của cơn đau như thế, thì cũng chẳng quá khó mà nhận ra: "à, thì ra đau chỉ có thế mà thôi, đâu đã đến nỗi nào!"’ Như vậy, sự phân biệt rõ ràng giữa thân bịnh và tâm bịnh, cùng cộng thêm các phương pháp trị liệu bằng thuốc men, thì còn cách đối đầu nào với cơn đau, với bịnh tật, có hiệu quả hơn nữa?
3.5. Khi y tá chích thuốc.
Khi người y tá sắp chích một mũi thuốc vào thịt, người ấy thường nói: "Xin hãy thở một hơi dài", rồi sau đó mới lụi mũi kim vào thịt. đó là viên y tá muốn ta bận lo thở dài hơi, để quên đi được cái đau trên da thịt trong chốc lát. Tập theo dõi hơi thở, cách ấy chính là sự ứng dụng của Pháp Giác niệm 16 Hơi thở đó.
Cái đau khác rất xa với cái khổ. Ta đang đau trên thân, mặt ta nhăn nhó, miệng ta lại cau có, "úi cha! đau khổ quá!", đó là ta đang nhập hai việc lại làm một, mà thành ra đau khổ. Tập sao cho đến mức xem thân tâm nầy chẳng phải là Ta, chẳng phải là của Ta thì rất khó, chớ biết tách biệt được cái đau trên thân ra khỏi cái khổ ở tâm, đâu phải là việc chẳng làm nổi, mà ích lợI thiết thực của nó sẽ cùng tăng gia với thời gian, có khi trọn cả một đời mình nữa!
3.6. Kiêu mạn về sức khoẻ.
Trong Kinh Kiêu mạn, Tăng Chi Bộ Kinh, Tập I, Phẩm Sứ giả của Trời, bản Kinh số 39 (Anguttara, Tika Nipàta, V4, 39) Thế Tôn dạy: "Say sưa trong kiêu mạn của không bịnh, nầy các Tỳ kheo, kẻ phàm phu làm các ác hành về thân, về lời nói, về ý. Do làm các ác hành về thân, về lời nói, về ý, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, đoạ xứ, điạ ngục."
Do đó, dầu sức khoẻ còn được dồi dào, ta cũng nên suy gẫm về hiểm hoạ của bịnh tật, nghĩ rằng ngày nào đó, ta cũng sẽ bị đau ốm phải nằm liệt giường và cần được kẻ khác nâng đỡ mới ngồi dậy được. Khi suy gẫm như thế, sự ỷ lại, kiêu căng về sức khoẻ mới bị loại trừ ra khỏi tâm trí ta. Nếu một ai luôn nghĩ rằng: "Tôi luôn luôn khoẻ mạnh mãi mà!", đó là người ngu (như Đức Phật đã nói trong Kinh Nakulapità ở trên) và sẽ có khuynh hướng muốn làm những hành vi bất thiện nhiều hơn là chăm lo làm lành, nói chi là khéo biết lợi dụng tình trạng sức khoẻ tốt để tu tập theo Chánh Pháp.
*
4. Hiểm hoạ của cái chết.
4.1. "Con người vừa mới sanh ra đã mang lấy án tử hình", lời nói nầy tuy đượm vẻ bi quan của một nhà hiền triết, nhưng chứa đựng một sự thật đúng muôn đời: chẳng một ai thoát khỏi cái chết cả. Sự chết luôn luôn đang rình rập, chẳng biết đúng vào lúc nào sẽ xảy ra cho con người. Hiểm hoạ tử vong luôn luôn đang chực sẵn: bịnh tật hiểm nghèo, tai nạn lưu thông, chiến tranh tàn khốc, thiên tai bất ngờ.
Chẳng ai có thể khất hẹn với Tử Thần xin hoãn lại ngày ra đi, chẳng ai có thể đem tiền của để hối lộ với Thần Chết, hay dùng quyền lực, hoặc thần thông, để ngăn trở đạo binh của Diêm vương đến bắt.
Có bài kệ rằng:
Người chăn bò tay cầm cây gậy,
Luà đàn bò ra bãi cỏ non.
Cảnh già, bịnh hoạn, cũng như vậy,
Luà mọi người đến chỗ tử vong.
(Kinh Pháp Cú, Kệ số 135)
4.2. Hiểm họa của cái chết được báo trước cho con người, nhưng vì lòng Kiêu mạn về sự sống, nên ít kẻ chịu nghĩ đến, hay đôi khi có nghĩ đến, thì lại tặc lưỡi tự nhũ thầm: "Ôi! Ta còn lâu mới chết kia mà!"Xin trích bản Kinh diêm vương, Tăng Chi Bộ Kinh, Chương III, Phẩm IV, số 35 (Anguttara, Tika Nipàta, V4, 35), trong đó Thế Tôn giảng về ba Thiên sứ đến cảnh cáo về ba hiểm hoạ: già, bịnh, chết.
Diêm vương hỏi tội nhơn về ba thiên sứ:
Thế Tôn: Nầy các Tỳ kheo, có ba Thiên sứ, được vua Diêm vương nơi điạ ngục, hỏi tội nhơn lúc sống đã làm ác nghiệp, có thấy xuất hiện ra giữa loài Người hay không. Đó là: già, bịnh, chết.
a) Thiên sứ thứ nhứt: sự già yếu.
Diêm Vương: Nầy kẻ kia, Ngươi có bao giờ thấy giữa loài Người, một người đàn bà hay đàn ông, già yếu, răng rụng, tóc bạc, vừa đi vừa run rẩy hay không?
Tội nhơn: Thưa Ngài, con có thấy.
Diêm Vương: Ngươi là người có trí, lớn tuổi, sao lại chẳng nghĩ: "Ta rồi cũng bị già yếu như thế; vậy ta hãy sớm làm điều lành."?
Tội nhơn: Thưa Ngài, con chẳng nghĩ như thế, vì con trót sống phóng dật.
Diêm Vương: Chính vì phóng dật, Ngươi đã làm điều ác; ác nghiệp của ngươi do chính Ngươi làm chớ chẳng phải ai khác đã làm; bây giờ, Ngươi phải gánh chịu hậu quả của ác nghiệp đó.
b) Thiên sứ thứ hai: sự bịnh hoạn.
Diêm Vương: Nầy kẻ kia, Ngươi có bao giờ thấy vị Thiên sứ thứ hai hiện ra giữa loài Người không?
Tội nhơn: Thưa Ngài, con không thấy.
Diêm Vương: Vị thiên sứ thứ hai, chính là bịnh hoạn; Ngươi chẳng thấy ở loài Người, một kẻ bịnh hoạn, đàn ông hay đàn bà, nằm lăn ra, oằn oại, rên xiết giữa tiểu tiện, đại tiện của mình hay sao?
Tội nhơn: Thưa Ngài, con có thấy.
Diêm Vương: Ngươi có thấy, sao Ngươi chẳng nghĩ, rồi có lúc ta sẽ bị bịnh hoạn như thế, vậy ta nên sớm làm lành?
Tội nhơn: Thưa Ngài, tại sống phóng dật, nên con chẳng nghĩ đến
c) Thiên sứ thứ ba: sự chết chóc.
Diêm Vương: Nầy kẻ kia, Ngươi không thấy vị Thiên sứ thứ ba xuất hiện giữa loài Người: đó là một người đàn bà hay đàn ông nằm chết, bất động, da xanh xám, mình sưng phù lên, hay sao?
Tội nhơn: Thưa Ngài, con có thấy.
Diêm Vương: Ngươi đã thấy ba vị Thiên sứ đến nhắc nhở Ngươi nên sớm làm lành, mà Ngươi vẫn sống phóng dật. Nay Ngươi phải gánh chịu các hình phạt dành cho các tội ác do chính Ngươi đã phạm.
4.3. Sự sợ hãi về cái chết. Con ngườI ai ai cũng đều sợ hãi về cái chết, vì khi ra đi vĩnh viễn phải bỏ lại vợ con, nhà cửa, tài sản, và sự nghiệp. Trong Kinh Không Sợ Hãi, Tăng Chi Bộ Kinh, Tập II, Phẩm 19: Chiến sĩ, Kinh số 184, (Anguttara, Catukka Nipàta, V19, 184), Thế Tôn đã chỉ cho Bà la môn Janussoni thấy, kẻ phàm phu khi lâm trọng bịnh, rơi vào run sợ khi nghĩ đến cái chết: "Tấm thân khả ái nầy sẽ từ bỏ ta, còn đâu nữa các thú vui hấp dẫn đầy hoan lạc! Ta lại còn trót làm các điều hung bạo, phạm pháp, chẳng có chút thiện căn nào, còn do dự, nghi ngờ về Chánh Pháp nên chưa tu tập, rồi đây chắc chắn sẽ phải thác sanh vào cõi dữ ..." Trái lại, hạng ngườI biết lià xa các dục vọng, biết quán chiếu thân thể bất tịnh nầy vốn là một gánh nặng, các thú vui phù lãng nào có đáng kể chi so với niềm an lạc trong nội tâm vững lòng tin nơi ngôi Tam Bảo, tu tập cho Chánh Pháp, siêng làm lành, tránh xa điều dữ, thì chẳng hề sợ hãi khi đối đầu cái chết.
*
5. Hiểm hoạ về nghiệp ác.
Hiểm hoạ thứ tư mà tất cả mọi người chẳng ai tránh khỏi được cả, đó là hậu quả của nghiệp ác. Nghiệp ác chính là những hành động cố ý đã qua, gây nên sự tổn hại cho mình và cho kẻ khác. Chiếu theo luật Nhơn Quả, một hành động ác cố ý làm sẽ đưa đến hậu quả xấu, hoặc ngay trong đời nầy, hoặc về các đời sau. Vì chẳng thấy rõ lúc nào quả trỗ sanh, nên con ngườI thường chẳng biết tin vào luật Nhơn Quả. Mà luật nầy lúc nào cũng đúng: Ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ, chẳng khác chi các định luật về khoa học. Do đó, để tránh những hậu quả chẳng lành, con ngườI phải siêng làm việc thiện.
Xin kể lại đây hai thí dụ về quả báo, rút trong Kinh sách:
5.1. Tích chuyện vị Tăng mù.
Vào một thời kia, đức Phật ngụ tại Kỳ viên tự, nước Xá vệ, trong một kỳ giảng pháp, có đề cập đến chuyện một vị Tăng mù tên Cát Khư.
Nguyên, lúc bấy giờ, vị Tăng mù Cát Khư đến đảnh lễ Đức Phật. Chiều hôm ấy, ông đi kinh hành bên ngoài, vô ý đạp chết nhiều côn trùng. Sáng hôm sau, nhiều vị tăng trẻ tuổI thấy xác côn trùng, sanh ra hiểu lầm, cho rằng vị Tăng Cát Khư đã phạm giới sát sanh. Họ liền vào trình lên đức Phật. Thế Tôn hỏi: "Các ông có chính mắt trông thấy Cát Khư giết hại các côn trùng không?" Các vị Tăng đáp, không. Thế Tôn bảo: "Các ông chẳng thấy ông ta giết, cũng như ông ta đã chẳng thấy các côn trùng dưới chơn, khi đi kinh hành. Hơn nữa, Cát Khư đã chứng được quả vị A la hán rồi, chẳng hề có ý định sát sanh, nên chẳng có phạm tội." Các vị Tăng lại hỏi, vì sao vị Tăng đã chứng được quả vị A la hán mà hai mắt lại bị mù, Đức Phật mới kể lại câu chuyện xưa:
Trong một đời về tiền kiếp, Cát Khư là một vị y sĩ có danh tiếng. Một ngườI đàn bà bị đau mắt, đến thưa với ông rằng: "Nếu ông chữa lành đôi mắt tôi, tôi nguyện tôi và các con cái của tôi sẽ làm nô lệ cho ông." Khi ngườI đàn bà ấy đã lành mắt, lại muốn nuốt lời, bảo rằng đôi mắt còn tệ hơn trước. Cát Khư biết rõ ngườI ấy đã nói dối với mình, nên căm thù và đưa cho một thứ thuốc xoa vào mắt. Người đàn bà bất hạnh đó bị mù luôn. Vì tội ác nầy, Cát Khư phải sanh ra mù loà trong nhiều đời sống kế tiếp, cho đến hiện nay.
Sau khi kể xong, Thế Tôn liền đọc bài kệ:
Nơi muôn pháp, ý đi tiền đạo;
Ý làm chủ, ý tạo cõi lòng.
Ai đem tâm ý chẳng trong,
Nói năng, hành động, Khổ đồng theo sau.
Như xe chuyển bánh theo trâu kéo hoài.
(Kinh Pháp Cú, Phẩm Song Yếu, Kệ số 1)
5.2. Tích chuyện tôn giả Đại Mục kiền liên.
Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ viên, nước Xá vệ, trong một kỳ giảng pháp có đề cập đến cái chết của vị Tôn giả Đại Mục kiền liên.
Thuở ấy, có bọn ngoại đạo loã thể Ni kiền tử muốn dành ảnh hưởng với Đức Phật, nên dự định ám sát Tôn giả Đại Mục kiền liên là vị đại đệ tử của Phật. Chúng thuê bọn cướp giết người, rình rập Tôn giả đang ở làng Khả la gần thành Vương xá. Đến đêm chúng bao vây tịnh xá nơi Tôn giả trú ngụ. Hay tin Tôn giả bỏ trốn, thoát được. Chúng lại tìm cách hại lần thứ hai, cũng thất bại. Đến lần thứ ba, Tôn giả quán chiếu thấy, trong tiền kiếp của mình, có làm một việc ác, nên nay phải chịu nốt quả báo còn sót lại. Thế nên, Tôn giả chẳng trốn tránh nữa, và bị bọn cướp bắt, đánh đập tàn nhẫn, lăn ra bất tỉnh. Bọn cướp tưởng Tôn giả đã chết, bỏ đi. Nhưng nhờ sức thần thông nhập định, Tôn giả hồi tỉnh lại và đi đến chùa Kỳ viên bạch Phật rằng, Tôn giả sẽ nhập Niết bàn nay mai. Đức Phật bảo Tôn giả nên tập họp chúng Tăng lại và tuyên dạy một bài pháp cuối cùng. Tôn giả vâng lời, và sau thời pháp, Tôn giả qùi xuống lễ Phật bảy lạy, sau đó Tôn giả nhập Niết bàn.
Tin Tôn giả Đại Mục kiền liên bị bọn cướp sát hại đến tai vua A xà thế, Ngài liền ra lịnh truy lùng, bắt được cả bọn đem thiêu sống. Nhưng các vị Tỳ kheo tiếc thương Tôn giả mới đến bạch Phật, thưa hỏi tại sao một vị tu sĩ giới đức cao dầy như Tôn giả Đại Mục liền liên mà phải chết thê thảm như thế. Thế Tôn bảo: "Trong một tiền kiếp, Mục kiền liên có phạm tội giết cha mẹ, nên kiếp nầy, trước khi nhập Niết bàn, phải trả nốt quả báo xấu đó. Số là, kiếp xưa, cha mẹ của Mục kiền liên đều mù loà, sống nhờ con phụng dưỡng. Mục kiền liên thờ phụng cha mẹ rất là hiều thảo. Đến khi có vợ, Mục kiền liên, nghe lời nói ra nói vào của vợ, mới dẫn cha mẹ vào rừng, đánh chết, và dàn cảnh làm như hai cụ già bị bọn cướp giết chết. Vì tội ác đó, Mục kiền liên phải sa vào điạ ngục A tỳ trong nhiều đời; đến nay vào đời cuối cùng còn phải chết vào tay bọn cướp, để đền tội ác." Đức Phật kết luận: "Hễ ai làm ác, hại đến người vô tội, thì chắc chắn sẽ bị quả báo khổ sở nhiều đời."
Rồi Đức Phật mới nói kệ như sau:
Dùng đao trượng đập tơi bời,
Hại người vô tội, với người tay không,
Sớm muộn chi, khó lòng tránh thoát
Một trong mườì quả ác, kể ra:
Một là nhức nhối rên la;
Hai là tai biến, ba là bị thương;
Bốn là mất trí, thường lú lẫn;
Năm là bị lận đận vua quan;
Sáu là trọng tội vu oan;
Bảy là thân quyến, họ hàng ly tan;
Tám là bị tiêu tan tài sản;
Chín là phải chịu nạn hoả tai;
Mười là khi bỏ hình hài,
Sa vào điạ ngục, biết ngày nào ra.
(Kinh Pháp Cú, Phẩm Hình phạt, Kệ số 137 140)
*
6. Thay lời kết.
Bốn điều chẳng thể tránh: Già, Bịnh, Chết, Ác nghiệp, ba điều trước nằm trong thân phận con người, ai cũng trông thấy cả và chẳng một ai thoát khỏi được. Còn điều thứ tư, khó thấy, vì thời gian giữa nguyên nhơn và hậu quả có thể kéo dài, trong một đời hay nhiều kiếp. Ác nghiệp tuy chẳng tránh thoát được, nhưng nếu sẵn có thiện tâm, chẳng làm điều ác, thì nghiệp dữ sao lại đến với mình.
Con đường đi đến chiến thắng bốn hiểm hoạ đó bằng Chánh Pháp đã được Kinh sách trình bày rất kỹ càng, nhứt là về Bát Chánh Đạo, vấn đề quan trọng là chúng ta có mạnh dạn dấn bước đi thẳng tới đó hay không mà thôi. Vượt thoát, chiến thắng, đó chẳng phải là khỏi già, khỏi bịnh, khỏi chết, khỏi bị quả báo, mà chính là biết đương đầu với bốn hiểm hoạ đó với tâm thanh thản: khi già, biết mình già, sao lại thấy khổ; khi bịnh, biết mình bịnh đến chừng ấy cho thân nầy, sao lại để tâm chịu khổ lây; khi sắp lià đời, tin rằng thân tâm năm uẩn nầy là gánh nặng, cỡi bỏ được nó, sao lại sầu lo, thiếu đi một nụ cười giã biệt?
Thiện Nhựt kính trình,
Khoá Nghiên Tu An Cư
Tổ đình Từ Quang, Montreal, Canada
PL. 2551 - DL. 2007
*
Tham khảo
1. Bài thuyết pháp của Thiền sư Saddhammaransi Sayadaw, bằng Miến ngữ, bản dịch của Cư sĩ Phạm Kim Khánh.
2. Đại tạng Việt nam: Tương Ưng Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh.
3. Kinh Pháp Cú, Thiện Nhựt, Như Lai Thiền Viện ấn tống, 2001.

Nhìn Sự Vật Như Chúng Thật Sự Là - Thiền sư Ajahn Chah - Diệu Liên Lý Thu Linh lược dịch

Khi có ai đó hỏi, “Bạn thích ăn thứ gì nhất?", đừng quá bận tâm để trã lời câu hỏi đó. Nếu bạn trả lời rằng, bạn thật sự thích món gì đó, thì có gì quan trọng đâu? Thử suy nghĩ xem -nếu bạn ăn món đó mỗi ngày, bạn có còn thích nó nhiều như vậy không? Có lẽ sẽ có lúc bạn phải kêu lên rằng "Ôi, lại món này nữa!"
Bạn có hiểu điều đó không? Có thể cuối cùng bạn sẽ phát chán về chính cái thứ mà bạn đã thích. Đó bởi vì là sự vật đổi thay, và đây là điều bạn cần phải biết.Đức Phật dạy chúng ta nhìn bất cứ điều gì xuất hiện trước mắt cũng phải nhận biết rằng: sự vật không trường tồn. Đã sinh, chúng sẽ diệt. Diệt rồi, chúng sẽ sinh trở lại. Sinh trở lại rồi, chúng sẽ mất đi. Nhưng một người vô minh, không được hướng dẫn, không muốn nhìn sự vật như thế. Khi hành thiền, được định, chúng ta muốn được như thế mãi, không muốn có gì quấy phá, làm gián đoạn. Nhưng suy nghĩ như vậy là thiếu thực tế. Đức Phật muốn chúng ta trước hết nhìn vào sự vật và biết rằng những thứ này là giả tạo; rồi chúng ta mới thật sự có được sự an bình. Khi không biết như thế, chúng ta trở thành người sở hữu của chúng và cái bẫy của ngã tưởng sẽ xuất hiện. Vì thế chúng ta phải trở lại từ gốc ngọn, tìm hiểu xem chúng xảy ra như thế nào. Chúng ta phải hiểu các sự vật thật sự như chúng là, cách sự vật tác động đến tâm và tâm đã phản ứng như thế nào; có thế chúng ta mới có được bình an. Đó là những gì chúng ta cần phải quán sát. Nếu chúng ta không muốn sự vật xảy ra theo cách của chúng, thì chúng ta không có được sự bình an. Dầu chúng ta có cố gắng làm khác đi, nhưng sự vật vẫn xảy ra như thế; thì đó là bản chất của chúng.
Nói một cách đơn giản, đó là chân lý. Vô thường, khổ và vô ngã là bản chất của sự vật. Chúng không có gì khác hơn thế, nhưng chúng ta tạo cho sự vật nhiều ý nghĩa hơn chúng thật sự là.
Thật sự không khó để phát triển trí tuệ. Nó có nghĩa là quán sát nguồn gốc và tìm hiểu bản chất của sự vật. Khi tâm xao động, bạn cần phải nhận ra rằng: “Điều này không kéo dài mãi. Nó vô thường!" Khi tâm an tĩnh, đừng bắt đầu nghĩ, “Ôi, thật là an lạc!" Vì điều đó cũng không chắc chắn.
Khi có ai đó hỏi, “Bạn thích ăn thứ gì nhất?", đừng quá bận tâm để trã lời câu hỏi đó. Nếu bạn trả lời rằng, bạn thật sự thích món gì đó, thì có gì quan trọng đâu? Thử suy nghĩ xem -nếu bạn ăn món đó mỗi ngày, bạn có còn thích nó nhiều như vậy không? Có lẽ sẽ có lúc bạn phải kêu lên rằng "Ôi, lại món này nữa!"
Bạn có hiểu điều đó không? Có thể cuối cùng bạn sẽ phát chán về chính cái thứ mà bạn đã thích. Đó bởi vì là sự vật đổi thay, và đây là điều bạn cần phải biết. Khoái lạc không trường tồn. Bất hạnh cũng không trường tồn. Tình yêu không bền chắc. Thanh tịnh cũng không chắc chắn. Lo âu không chắc chắn. Tất cả mọi thứ, tuyệt đối là không chắc chắn. Vì thế nếu có bất cứ điều gì xảy ra, chúng ta đều hiểu như thế, thì chúng ta sẽ không bị chúng chế ngự. Tất cả mọi việc đều không chắc chắn, không có gì là ngoại lệ, vì vô thường là bản chất của chúng. Vô thường có nghĩa là sự vật không cố định hay trường tồn, và nói một cách đơn giản, chân lý này chính là Phật pháp.
Anica, vô thường, là chân lý. Chân lý có mặt để chúng ta nhận chân ra nó, nhưng chúng ta thường không nhìn kỹ, nhìn rõ nó. Đức Phật nói: "Những ai thấy Pháp là thấy Ta." Nếu chúng ta nhận ra vô thường, tính chất không chắc chắn, trong tất cả các pháp, thì tâm nhàm chán, buông xả sẽ phát sinh: "Ôi, thì cũng chỉ có thế! À, ra vậy! Thật sự cũng chẳng có gì quan trọng quá, cũng chỉ có vậy!" Tâm trở nên rất chắc chắn về điều đó: “Nó chỉ có chừng ấy!” Sau khi nhận thức được như thế, chúng ta không cần phải làm điều gì quá khó khăn trong công phu thiền quán của mình. Bất cứ điều gì chúng ta đối mặt, tâm sẽ nói: “Chỉ có thế!” và tâm dừng lại. Chấm dứt mọi chuyện. Chúng ta sẽ nhận ra rằng tất cả các hiện tượng đều giả tạo; không có gì chắc chắn hay thường hằng, mà đúng ra tất cả mọi thứ không ngừng thay đổi và có đặc tính của vô thường, khổ và vô ngã. Nó giống như một trái banh sắt đã được nung đỏ trong lò lửa. Phần nào của trái banh sắt đó không nóng? Hãy thử sờ nó đi, nếu bạn muốn. Sờ phía trên, nó nóng. Sờ phía dưới, cũng nóng. Sờ hai bên, cũng nóng. Tại sao nó nóng? Vì nguyên trái banh sắt đó nóng đỏ ở khắp nơi. Hiểu được như thế, chúng ta sẽ không sờ nó. Khi tâm bạn khởi nghĩ: "Cái này thật tốt! Tôi rất thích! Ước gì tôi được nó!”, thì đừng dành cho những tư tưởng đó một sự tin cậy nào; đừng coi chúng quan trọng quá. Nó là một trái banh sắt nóng đấy. Nếu bạn sờ vào phần nào của trái banh, nếu bạn cố cầm nó lên, bạn sẽ chịu nhiều đau đớn, da của bạn sẽ phỏng rộp, chảy máu.
Chúng ta cần phải luôn quán tưởng về điều này: đi, đứng, nằm, ngồi. Ngay cả khi chúng ta đang ở trong nhà vệ sinh, hay đang đi đâu đó, khi chúng ta đang ăn hay đang bài tiết các chất thải từ đồ ăn, chúng ta cần phải nhận thấy rằng tất cả những gì ta trãi nghiệm đều không chắc chắn, đều vô thường mà cũng là khổ và vô ngã. Sự vật không cố định, vô thường thì không chắc chắn và không thật. Tất cả đều là thế, không có ngoại lệ nào – cũng giống như trái banh sắt nóng -đâu có nơi nào ta sờ vào mà không bị phỏng. Tất cả mọi thành phần của nó đều nóng, vì thế chúng ta không tìm cách sờ vào nó.
Đây không phải là điều gì khó khăn mà không luyện tập được. Thí dụ cha mẹ thường dạy con không được chơi với lửa: “Đừng đến gần lửa! Rất nguy hiểm! Con sẽ bị phỏng!” Đứa trẻ có thể không tin hay không hiểu cha mẹ muốn nói gì. Nhưng nếu em chạm vào lửa chỉ một lần và bị phỏng, sau đó cha mẹ không còn cần phải giải thích điều gì hay cố gắng kiềm chế em nữa.
Không cần biết là tâm bị cuốn hút, bị chế ngự bởi điều gì đến mức độ nào, bạn cần phải luôn nhắc nhở nó. "Điều ấy không trường tồn! Điều ấy không bền chắc!” Thí dụ, bạn có một cái ly, và nghĩ rằng nó rất đẹp. "Chiếc ly này đẹp làm sao! Tôi phải cất kỹ đi, không được để nó bể.” Lúc đó bạn phải tự nhắc nhở mình, "Nhưng nó không bền chắc." Bạn có thể dùng nó uống nước, để ly xuống, rồi lỡ tay đụng nó bể đi.
Dầu chiếc ly không bể hôm nay, thì ngày mai, nó cũng sẽ bể. Nếu nó không bể ngày mai, thì ngày hôm sau nữa. Bạn không nên đặt lòng tin của mình vào những vật dễ bể.
Vô thường là chánh Pháp. Sự vật không vững bền hay thực có. Không có gì về chúng là thật, chỉ có chân lý này là thật. Bạn có đồng ý không? Điều chắc chắn nhất là: được sinh ra, bạn phải già, phải bịnh và chết. Thực tế đó là chắc chắn, thường hằng, và sự thật thường hằng đó dựa trên chân lý về vô thường. Quán sát sự vật thật thấu đáo bằng con mắt của ‘không thường hằng, không chắc chắn", một sự chuyển hóa sẽ xãy ra thành thường hằng, và chắc chắn, lúc đó ta không còn phải bận tâm về sự vật nữa.
Các vị đệ tử của Đức Phật đã thức tỉnh nhờ chân lý về vô thường. Từ sự thức tỉnh đó, họ trở nên nhàm chán, buông xả đối với sự vật, hay nibbida. Sự nhàm chán này không phải là do có mâu thuẫn, bất mãn. Nếu có sự bất mãn, thì đó thực sự không phải là nhàm chán, không thể đưa đến con đường đạo. Nibbida không phải giống như sự chán đời theo thế gian thường tình. Thí dụ, sống trong gia đình, khi không được thuận thảo với nhau, chúng ta có thể bắt đầu nghĩ là mình đang trở nên nhàm chán mọi thứ giống như giáo pháp đã dạy. Tuy nhiên không phải thế; đó chỉ là do các phiền não, uế nhiễm của ta đang lớn mạnh, làm trái tim ta đau đớn. "Tôi thật chán ngán –tôi sẽ rũ bỏ tất cả!" Đó là sự nhàm chán do phiền não, uế nhiễm tạo ra. Khi sự phiền não, thất vọng đối với những việc xảy ra không theo ý ta muốn trở nên quá sức chịu đựng của ta.
Giống như cách ta suy nghĩ về metta, tâm từ. Ta nghĩ rằng ta phải có tâm từ đối với tất cả chúng sanh. Vì thế ta tự nhủ mình, "Tôi không được có lòng sân hận đối với ai. Tôi phải có lòng bi mẫn. Thật vậy, tất cả mọi chúng sanh đều đáng thương.” Rồi bạn bắt đầu thương yêu tất cả, và kết cục là đưa đến tham đắm, dính mắc. Hãy cẩn thận về điều đó! Đó không phải là thứ tình yêu thương ta vẫn thường nói đến. Đó không phải là lòng từ bi trong chánh pháp. Đó là tâm từ pha lẫn với lòng ích kỷ. Chúng ta đòi hỏi, mong đợi một sự đáp trả, mà lại gọi đó là từ bi. Sự "chán đời” thông thường của chúng ta cũng thế, “Ôi, tôi thật chán ngán tất cả, tôi muốn trốn khỏi nơi này!". Đó chỉ là tâm uế nhiễm nặng nề. Đó không phải là sự nhàm chán hay xả bỏ; chỉ là ta dùng cùng một tên để gọi chúng. Đó không phải là con đường đạo của Đức Phật. Đúng ra thì sự nhàm chán không có mâu thuẫn, xung đột, không có ác ý đến bất cứ ai. Bạn không than phiền hay đổ lỗi – mà bạn nhìn mọi thứ đều trống không.
Có nghĩa là lúc đó tâm bạn rổng rang. Nó không còn bám víu vào điều gì. Điều đó không có nghĩa là thế giới này không còn có người, có vật, không có gì cả. Vẫn còn có người, có sự vật, có tâm rổng rang. Nhưng tâm ta nhìn chúng với ý thức rằng, chúng không bền chắc. Vạn pháp được tiếp nhận như chúng là, thuận theo dòng chảy tự nhiên của sinh diệt.
Thí dụ, bạn có thể có một chiếc bình. Bạn có thể thấy rằng nó đẹp, nhưng tự chính nó, nó chỉ có mặt một cách tự nhiên. Nó không có gì để nói; chỉ có bạn là người có tình cảm về nó, là người sẽ sống hay chết vì nó. Nếu bạn thích hay không thích nó, nó cũng không bị ảnh hưởng. Đó là chuyện của bạn. Nó như như, nhưng bạn là người có tình cảm thích hay không thích, rồi bám víu vào chúng. Chúng ta so sánh tốt xấu về thứ này, thứ nọ. "Tốt" làm tâm xao động. "Xấu" cũng xao động tâm. Cả hai đều là uế nhiễm.
Chúng ta không cần phải chạy đi đâu cả; chúng ta chỉ cần suy gẫm, quán tưởng điều này. Đó là cách tâm vận hành. Khi chúng ta không thích gì, đối tượng của sự không ưa thích không bị ảnh hưởng gì cả; nó cũng vẫn chỉ là nó. Khi chúng ta ưa thích gì, nó cũng không bị ảnh hưởng bởi sự ưa thích đó, mà cũng vẫn là nó. Tất cả chỉ là chúng ta tự làm khổ mình thôi.
Bạn cho là điều gì đó tốt, điều khác vĩ đại hơn, nhưng đó chỉ là do bạn tự suy nghĩ ra. Nếu bạn có chánh niệm, bạn sẽ ý thức được rằng tất cả vạn pháp đều bình đẳng.
Một thí dụ dễ hiểu là với đồ ăn. Chúng ta thường cảm thấy rằng loại đồ ăn này hay loại đồ ăn kia rất ngon. Khi chúng ta nhìn thấy những đĩa đồ ăn này trên bàn, trông chúng rất hấp dẫn; nhưng một khi mọi thứ đã vào bao tử, thì đó lại là chuyện khác. Chúng ta nhìn các dĩa đồ ăn và nói, "Cái này là cho tôi. Cái kia là cho anh. Cái nọ là của cô ta." Nhưng sau khi chúng ta đã ăn rồi, và bài tiết ra, có lẽ không có ai đi tranh giành những thứ đó và nói: "Đây là của tôi. Đó là của anh." Có đúng vậy không? Lúc đó bạn có còn muốn sở hữu hay tham đắm chúng không?
Đó là nói một cách vắn tắt và đơn giản. Nếu bạn đã thấy rõ ràng như thế với tâm kiên định, thì vạn pháp đều bình đẳng. Khi chúng ta còn ham muốn và suy nghĩ theo cách "của tôi" và "của anh," thì chúng ta sẽ đi đến xung đột. Khi chúng ta nhìn mọi thứ bình đẳng, như nhau, thì chúng ta không coi chúng thuộc về ai –chúng chỉ là các duyên hiện hữu như chúng là.
Khi chúng ta nhận thức rằng vạn vật là một pháp, tất cả đều có cùng bản chất, chúng ta sẽ không còn bám víu, sẽ buông bỏ chúng xuống. Chúng ta nhìn thấy chúng trống không và chúng ta không thương hay ghét chúng; chúng ta được thanh tịnh. Có lời nói rằng, "Niết bàn là hạnh phúc tối thượng; niết bàn là cái không tối thượng."
Hãy lắng nghe kỹ điều này. Hạnh phúc ở thế gian không phải là hạnh phúc tối thượng, tuyệt đối. Những gì chúng ta coi như trống không, không phải là sự trống không tối thượng. Nếu nó là sự trống không tối thượng, thì sẽ chấm dứt mọi ham muốn và bám víu. Nếu nó là hạnh phúc tối thượng thì sẽ có được an bình. Nhưng thứ an bình chúng ta được biết thì vẫn là chưa tối thượng. Thứ hạnh phúc chúng ta biết thì cũng chưa là tối thượng. Khi chúng ta đạt đến Niết bàn, thì lúc đó sự trống không là tối thượng. Hạnh phúc là tối thượng. Đã có sự chuyển hóa. Tính cách của hạnh phúc được chuyển hóa thành an bình. Có hạnh phúc nhưng chúng ta không gán cho nó một ý nghĩa đặc biệt gì. Cũng có cả khổ đau. Nhưng khi những điều này xảy ra, ta coi chúng như nhau. Giá trị của chúng như nhau.
Những tình cảm yêu hay ghét cũng giống nhau. Nhưng khi chúng phát khởi trong ta, ta không coi chúng là giống nhau. Nếu điều gì dễ chịu, ta thực sự hạnh phúc với nó. Nếu khó chịu, ta muốn trốn tránh nó. Nên đối với chúng ta, chúng không giống nhau, nhưng sự thật là chúng thực sự giống nhau. Chúng ta phải luyện tập như thế này: chúng giống nhau vì chúng không bền chắc và vô thường.
Giống như thí dụ về đồ ăn. Chúng ta cho rằng loại đồ ăn này ngon, loại kia tuyệt với, loại nọ dở. Nhưng khi chúng ta đã ăn, rồi bài tiết ra, chúng đều giống nhau. Lúc đó bạn không nghe ai than phiền rằng, “Sao tôi được ít quá!” Lúc đó tâm ta không bị chúng lôi cuốn.
Nếu ta không thực sự chứng nghiệm chân lý về vô thường, khổ đau và vô ngã, thì không thể chấm dứt được khổ đau. Nếu có chánh niệm, ta có thể chứng nghiệm chân lý này trong từng giây phút. Chúng hiện hữu nơi thân và tâm, và ta có thể nhận ra chúng. Đó là lúc ta có thể tìm được sự bình an.
* Trích dịch theo Vạn Pháp Sinh Diệt (Everything Arises, Everything Falls Away), NXB Shambhala 2005
-ooOoo-

Đức Phật dạy con như thế nào - Gil Fronsdal - Hoài Hương dịch

Ngày nay, hầu như người Phật tử nào cũng biết rằng Thái tử Tất Đạt Đa, tức Đức Phật sau này, đã lìa bỏ gia đình của mình để đi tìm con đường giải thoát vào chính cái ngày La Hầu La – đứa con trai [duy nhất] của Ngài – chào đời. Nhiều người cảm thấy không thoải mái, thậm chí tức giận, trước một hành động mà họ cho là "thiếu trách nhiệm" như vậy. Song, có một điều họ chưa biết, đó là sau khi đạt được giác ngộ, Đức Phật đã trở thành người dạy dỗ chính cho con trai của mình trong suốt thời niên thiếu, kể từ khi La Hầu La lên 7 tuổi,
và Ngài đã là một người cha tuyệt vời: La Hầu La đã đạt được giác ngộ ở tuổi mới bắt đầu trưởng thành. Vậy, ta hãy tự hỏi, Đức Phật là một người cha như thế nào? Phương pháp dạy con của Ngài ra sao? Làm thế nào một bậc giác ngộ trao truyền những giá trị tâm linh của mình cho con cái?
Kinh điển không đề cập nhiều đến mối quan hệ cha-con giữa Đức Phật và La Hầu La, nhưng đâu đó có để lại vài mẩu chuyện thú vị về việc Đức Phật đã dẫn dắt con mình như thế nào trên con đường trưởng thành. Các bộ kinh trước đó thường nói về việc La Hầu La đã trở thành đồ đệ của Đức Phật như thế nào, nhưng phần lớn những mẩu chuyện này nằm trong 3 bài pháp mà, nếu ta gom chúng lại với nhau, nó chính là một tiến trình liên tục của con đường dẫn tới giác ngộ: lúc La Hầu La 7 tuổi, Đức Phật dạy cho con về đạo đức; lúc La Hầu La 10 tuổi, Đức Phật dạy cho con thiền; và lúc 20 tuổi, Ngài dạy về tuệ giác giải thoát. Quá trình trưởng thành của La Hầu La, vì vậy, tiến triển song song với tiến trình giác ngộ của Đức Phật.
Khi con trai của tôi tròn 7 tuổi, tôi bắt đầu suy tư về việc làm cách nào để dẫn dắt nó và em trai của nó trên con đường tâm linh. Ít nhất, tôi muốn chúng nó học và thực hành Phật pháp đủ để sau này lớn lên chúng có thể trở về với những tiềm lực đó nếu chúng thích hay cần đến. Tôi cũng nghĩ rằng nếu các con tôi có thể nương tựa nơi Phật pháp, thì sau này, dù đang ở bất cứ nơi nào, chúng cũng có thể quay về với cái mái ấm đó. Nhất là, vì đối với tôi, gia tài lớn nhất mà tôi có được qua sự thực tập Phật pháp là sự an lạc, thảnh thơi, và lòng từ bi, tôi tự hỏi làm cách nào để trao truyền cái gia tài tâm linh đó lại cho thế hệ sau. Được biết La Hầu La bắt đầu được Đức Phật dạy dỗ từ năm 7 tuổi, tôi lục tìm trong những bản kinh tiếng Pali để học lấy những phương pháp mà Đức Phật đã sử dụng để dạy dỗ con của Ngài.
Tôi tìm thấy trong các bản kinh này cách làm thế nào để lại một di sản tâm linh thật đẹp. Sáu năm sau khi Đức Phật rời bỏ gia đình, và một năm sau khi đạt được giác ngộ, Đức Phật trở về thành. La Hầu La, lúc ấy 7 tuổi, theo lời mẹ, chạy đến bên cha để xin thừa hưởng gia tài. Nếu như ngày xưa Thái tử Tất Đạt Đa ở lại kinh thành, thì bây giờ La Hầu La đã được truyền ngôi vua. Nhưng là một người đã buông bỏ hết tất cả, sống đời khổ hạnh, Đức Phật có thể trao lại cho con mình cái gì? Đáp lời La Hầu La, Đức Phật quay sang nói với Ngài Xá Lợi Phất (Sariputta): "Hãy thâu nhận nó." [Như vậy], thay vì được ngôi vua, La Hầu La đã được thừa hưởng con đường đi của cha mình – con đường dẫn tới giải thoát.
Có lẽ còn lâu lắm con trai tôi mới cạo trọc đầu và khoác lên mình chiếc áo cà sa, nhưng tôi vẫn muốn cho con tôi tiếp xúc với những điều căn bản của Phật pháp, những điều đã giúp tôi thay đổi cuộc đời của chính tôi. Khi tôi đọc những đoạn kinh về cách Đức Phật dạy La Hầu La, tôi ngạc nhiên nhận ra rằng những điều này không những vẫn còn mới mẻ mà còn rất thích hợp với việc dạy con ở nước Mỹ này, trong thời hiện đại này. Thật vậy, những bài pháp này đã trở thành kim chỉ nam cho tôi trong việc dạy con.
ĐẠO ĐỨC
Câu chuyện đầu tiên kể về La Hầu La được Đức Phật dạy về lòng chính trực (integrity) như thế nào. Lúc lên 8 tuổi, La Hầu La đã nói dối. Bài Kinh Giáo Giới La Hầu La (Trung Bộ Kinh, 61) kể rằng sau khi tọa thiền xong, Đức Phật đến tìm La Hầu La. La Hầu La mời cha ngồi, rồi lấy một thau nước cho cha rửa chân, theo phong tục hồi đó.
Sau khi rửa chân xong, Đức Phật hỏi: "Này, La Hầu La, con có thấy chút nước còn lại trong cái thau này không?"
"Dạ, con có thấy" – La Hầu La thưa.
"Đời của một người tu cũng chỉ đáng bằng một chút nước này thôi, nếu như người đó cố tình nói dối."
Tôi tưởng tượng La Hầu La đỏ mặt lên.
Sau đó, Đức Phật hất đổ hết nước trong thau ra và nói: "Đời của một người tu cũng đáng vất bỏ đi như vầy nếu như người đó cố tình nói dối."
Xong, Đức Phật lật cái thau úp xuống và nói: "Đời của một người tu sẽ trở nên đảo lộn như thế này nếu như người đó cố tình nói dối."
Và, để nhấn mạnh thêm nữa, Đức Phật lật ngửa cái thau trở lại và nói: "Đời của một người tu cũng trở nên trống rỗng như cái thau này nếu như người đó cố tình nói dối."
Sau đó Ngài dạy con: "Đối với một người cố tình nói dối, không có một tội lỗi xấu xa nào mà người đó không thể làm. Vì vậy, La Hầu La, con hãy tập đừng bao giờ nói dối, cho dù đó là một lời nói đùa."
Câu chuyện trên đây nhắc nhở tôi rằng những lời la mắng giận dữ với con cái thực ra chỉ có sức mạnh mà không có nội lực. Đức Phật đã rất bình tĩnh, chọn thời điểm đúng lúc để dạy con mà không trừng phạt hay nổi giận với con.
Sau bài thuyết giảng ngắn mà rõ ràng về việc nói dối đó, tôi tưởng tượng La Hầu La đã lắng nghe cha hơn. Sau đó, Đức Phật chỉ dẫn con làm sao để suy xét mọi hành động của mình. "Cái gương dùng để làm gì?" – Ngài hỏi.
"Bạch Đức Thế Tôn, gương dùng để soi” – La Hầu La đáp.
Đức Phật lại dạy : "Trong khi chuẩn bị làm điều chi bằng thân, khẩu, ý, con phải quán chiếu: hành động này có gây tổn hại cho ta hoặc cho kẻ khác không? Nếu, sau khi đã quán chiếu, con thấy rằng hành động đó sẽ có hại, thì con hãy đừng làm. Còn nếu con thấy rằng hành động đó có ích lợi cho con và cho kẻ khác, thì con hãy làm."
Tôi chợt nhận ra rằng thay vì dạy cho con mình nhận biết sự khác biệt tuyệt đối giữa đúng và sai, Đức Phật đã dạy cho con mình suy gẫm về lợi ích và có hại. Điều này đòi hỏi cả sự tự tri (self-awareness) lẫn sự đồng cảm (empathy). Đặt nền tảng của đạo đức dựa trên "có lợi" hay "có hại" giúp giải thoát đời sống đạo đức của ta khỏi những khái niệm trừu tượng và những ý niệm chẳng ăn nhập gì tới hậu quả của việc ta làm. "Có lợi" và "có hại" cũng giúp cho con người nhận biết mục tiêu của mình. Những điều ta làm hoặc sẽ đối nghịch hoặc sẽ thuận chiều với con đường ta đang đi.
Phương pháp dạy dỗ của Đức Phật khiến cho tôi càng tin tưởng thêm rằng chúng ta cần gieo xuống nơi tâm hồn con trẻ những hạt giống của tình thương, những hạt giống của ý thức về việc mỗi hành động của nó sẽ ảnh hưởng đến người khác như thế nào. Sức mạnh của sự quán chiếu và lòng từ bi sẽ không có được nếu đứa trẻ chỉ biết vâng theo lời của người lớn: hãy quán chiếu, và hãy có lòng từ bi! Những giá trị này chỉ có thể có được qua gương của người khác, nhất là của cha mẹ đứa trẻ.
Đức Phật cũng dạy cho La Hầu La hãy xem xét sau khi làm một việc gì đó, nó có gây tổn hại gì không. Nếu có, thì phải đến gặp một người có tuệ giác và sám hối để tránh lặp lại lỗi lầm trong tương lai. Tôi đã học được cách hướng dẫn con trẻ phát triển lòng chính trực bằng cách nhận ra lỗi lầm của mình. Và lòng chính trực đó tuỳ thuộc rất nhiều vào cách cha mẹ thấy lỗi lầm của con mình ra sao. Cách hành xử của cha mẹ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển đạo đức của con trẻ: nếu cha mẹ cho con trẻ thấy được là mình có thể được tin tưởng được, và mình chỉ muốn giúp cho con mình trưởng thành hơn là muốn trừng phạt con, thì đứa trẻ sẽ trở nên thành thật với cha mẹ của chúng hơn.
THIỀN ĐỊNH
Câu chuyện thứ hai nói về việc Đức Phật đã dạy thiền cho La Hầu La ra sao, để phát triển nền tảng của nội tâm (Trung Bộ Kinh, 62). Lúc đó La Hầu La được 10 tuổi. Câu chuyện bắt đầu trong lúc hai cha con đang đi thiền hành. Trong lúc thiền hành, La Hầu Ha chợt thấy hãnh diện về vẻ đẹp của mình, và tư tưởng đó Đức Phật đã đọc được. Ngài nói với con:"Nhìn bằng con mắt của tuệ giác, cái thân này không phải là tôi (me), không phải là của tôi (mine), không phải là tự ngã của tôi (myself)." Rồi Đức Phật giảng tiếp: ta phải loại bỏ hết tất cả tưởng, hành, thức cũng như bất cứ khái niệm nào về tôi, của tôi, và tự ngã của tôi. Nghe những lời dạy này xong, La Hầu La cảm thấy hổ thẹn, lui về thiền viện, và không ăn uống gì cả suốt ngày hôm đó.
Tôi cho rằng đây là sự dạy dỗ căn bản cho con trẻ. Tôi không thể tưởng tượng được một em thiếu niên có thể hiểu được những lời Phật dạy như thế. Tôi nhớ lại, rất rõ ràng, rằng ở vào tuổi đó, đầu óc tôi chỉ toàn nghĩ đến dung mạo của tôi ra sao. Tôi thường nghe nói rằng điều này rất là quan trọng cho tiến trình phát triển của các em về "cái tôi", và quá trình đi tìm kiếm bản thân mình. Có nên trách một em trai 14 tuổi về những ý tưởng phù du như vậy hay không? Có phải Đức Phật đã xen vào những vấn đề nằm trong tiến trình phát triển bình thường của con trẻ, thay vì để các em thảo luận với nhau? Nếu không có hiểu biết về "cái tôi", làm sao một thiếu niên có thể phát triển thành một người lớn với sự cân bằng về tâm lý?
Đức Phật trả lời những câu hỏi này qua những gì Ngài đã làm cho con của Ngài. Tối hôm đó, sau khi bị Đức Phật quở trách, La Hầu La đến xin cha dạy cho mình phương pháp thiền quán hơi thở. Trước hết, Đức Phật dùng thí dụ để minh hoạ làm sao đạt được sự thanh thản trong lúc ngồi thiền. Ngài dạy:
"Con phải thiền làm sao giống như đất vậy: đất không cảm thấy phiền vì bất cứ một thứ gì đổ lên đó. Vì vậy, nếu con tập thiền giống như đất, con sẽ không có cảm giác vui thích hay không vui thích về bất cứ một điều gì. Hãy tập thiền như nước, như lửa, như gió, và như không gian: tất cả đều không cảm thấy phiền bởi những cảm giác vui thích hay không vui thích. Thực tập được như nước, như lửa, như gió, như không gian, tâm của con sẽ không còn vướng bận gì cả."
Rồi, trước khi dạy cho La Hầu La phép thở, Đức Phật dạy cho con về quán tâm từ như là một phương thuốc giải độc trừ khử ác tâm, về tâm bi để vượt thắng sự tàn ác, về tâm hỷ để thuần phục những sự bất toại nguyện, và về tâm xả để ngăn chặn những bất an, thương ghét. Sau đó, Ngài mới bắt đầu dạy cho con phép thở qua 16 giai đoạn. Những giai đoạn này chia thành 3 phần: a) tịnh tâm; b) định tâm để nhận biết thân tâm và phát triển tuệ giác; và c) buông xả. Cuối cùng, Ngài nhấn mạnh rằng bằng sự thực tập ý thức từng hơi thở của mình, con người sẽ có khả năng ý thức một cách bình thản hơi thở cuối cùng của mình trước khi từ giã cõi đời.
Khi đọc về cách thức Đức Phật dạy con về phép thở để nhận biết thân tâm của mình, tôi nhận thấy đó cũng là một phương pháp để xây dựng một khái niệm vững chắc về “cái tôi”. Tôi tự nghĩ, phải chăng các em thiếu niên ở thời đại ngày nay hay chấp vào "cái tôi" của mình và có nhiều ý niệm phân biệt mình với kẻ khác, là vì các em không cảm thấy thoải mái với chính bản thân mình và với người khác? Và tôi tin rằng, cái chấp và sự phân biệt ấy sẽ không còn nữa nếu các em cảm thấy an vui được với chính mình cũng như thoải mái với người chung quanh.
Khi đi giảng dạy thiền cho thiếu niên, tôi nhận thấy khả năng thiền của các em nhảy bực vào khoảng 13-14 tuổi. Có nhiều em có thể nhập thiền rất sâu, tuy rằng các em không duy trì được trạng thái này lâu lắm. Tôi đã biết rất nhiều người trẻ dùng phương pháp thiền định để ổn định tinh thần và tìm về sự thảnh thơi giữa những thử thách của tuổi mới lớn.
Tuy nhiên, thiền quán hơi thở không chỉ ích lợi cho các em thiếu niên, mà nó còn là cuộc hành trình suốt cuộc đời của con người. Đức Phật đã kết thúc bài giảng của mình bằng cách chỉ cho La Hầu La thấy giá trị của việc tập thiền quán hơi thở như thế nào đối với giây phút cuối cùng của cuộc đời mình.
TUỆ GIÁC
Trong đoạn kinh thứ ba và cuối cùng, Đức Phật đã hướng dẫn La Hầu La trả lời một loạt những câu hỏi về tuệ giác giải thoát (Trung Bộ Kinh , 147). La Hầu La đã dâng trọn thời niên thiếu của mình cho con đường đạt đến giác ngộ; trong một đoạn văn, Ngài được xem là một nhà tu gương mẫu và tinh chuyên. Khi La Hầu La tròn 20 tuổi, Đức Phật biết rằng con trai của mình đã gần đạt đến sự giải thoát. Ngài đã làm một việc rất cảm động: Ngài đi bộ cùng với con vào sâu trong rừng. Ngồi dưới gốc của một trong những cây đại thụ già cỗi, Ngài đã hướng dẫn La Hầu La một cuộc pháp đàm rất kỹ về thuyết vô ngã. Đối với một người đã đạt đến trình độ tu tập cao như La Hầu La, những tư tưởng nằm sâu trong tiềm thức về cái ngã là chướng ngại cuối cùng của sự giải thoát. Ngồi nghe Đức Phật giảng, La Hầu La đã thấy được tự tính vô ngã của vạn pháp, và đó chính là bước cuối cùng giúp La Hầu La đạt đến sự giải thoát trọn vẹn.
Thuyết vô ngã của Đức Phật không phải là đơn giản. Người ta rất dễ hiểu lầm nó là một triết thuyết trừu tượng, mà không thấy được thực ra đó chính là những lời dạy rất thực tế về việc làm sao để tìm thấy hạnh phúc bằng cách buông bỏ hết tất cả. Đối với tôi, việc Đức Phật dạy con về thuyết vô ngã trong rừng sâu rất cần thiết. Tôi thấy mình có cái nhìn khác khi ở giữa thiên nhiên so với khi ở giữa phố thị. Tôi nhận thấy cảm giác an lạc và thảnh thơi mà thiên nhiên mang lại giúp mình dễ thoát ra được cái “ngã" hơn. Quán chiếu về sự buông xả trong khi đọc muột cuốn sách về Phật pháp trong nhà rất là khác với khi mình ngồi dưới một gốc cây. Trong khi đọc bài pháp thứ ba này, tôi chiêm nghiệm được sự quan trọng của việc biết mình (tự tri) giữa cảnh thiên nhiên.
Ngày xưa, lúc La Hầu La 7 tuổi, đến xin với cha được thừa hưởng gia tài, Ngài đã không hề tưởng tượng được là 13 năm sau đó, Ngài đã được thừa hưởng một gia tài quý báu nhất mà một người làm cha mẹ có thể để lại cho con của mình. Trong Phật giáo, giác ngộ là hạnh phúc lớn lao nhất. Tôi ước mong con cái của tôi sẽ tìm thấy sự an lạc, thảnh thơi, và an lành trên con đường đi tới giải thoát. Có lẽ, trên con đường trở thành người lớn, chúng cũng sẽ được dạy về đạo đức, thiền định, và tuệ giác [như La Hầu La vậy].
Hoài Hương chuyển ngữ
Virginia, USA, 29-04-2008

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Ai thấy pháp người ấy thấy Phật, ai thấy Phật người ấy thấy pháp - Thích Hạnh Bình

imageNội dung mà chúng ta sẽ thảo luận trong bài viết ngắn này là “Ai thấy pháp là người ấy thấy Phật, ai thấy Phật người ấy thấy pháp”. Thật ra chủ đề này không phải tác giả tự đặt mà vốn là lời Phật dạy, được tìm thấy nhiều nơi trong kinh A hàm hay Nikaya.

Nguyên nhân đức Phật nói bài pháp này, vì tôn giả Vakkali ở nhà thợ gốm, đang bị bịnh nặng, sắp lâm chung, nhưng lòng rất muốn diện kiến dung nhan đức Thế Tôn và đảnh lễ Ngài lần cuối trước khi nhắm mắt lìa đời, nhưng không thể nào đến nơi Thế Tôn ở được, cho nên Tôn giả Vakkali đã cho thị giả đến cung thỉnh đức Thế Tôn đến nơi mình ở. Vì lòng từ mẫn đức Thế Tôn đã thân hành đến thăm Tỷ kheo Vakkali. Sau khi đến đức Thế Tôn hỏi:
 
- Này Vakkali, nếu ông không có gì trách mình về giới luật, vậy có gì phân vân hay hối hận không ?
 
- Đã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn, nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn..
 
- Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này. Này Vakkali. Ai thấy pháp, người ấy thấy Ta, Ai thấy Ta, người ấy thấy pháp.[1].
 
Trên đây là đoạn đối thoại giữa Thế Tôn và Vakkali. Qua mẫu đối thoại này, nó gợi ý cho chúng ta hiểu rõ một vài vấn đề căn bản trong Phật pháp. Vấn đề trước tiên mà chúng ta cần xác định nơi đây là. Đức Phật và Tỷ kheo Vakkali đứng hai vị trí khác nhau. Tỷ kheo Vakkali đứng từ góc độ tình cảm, có lòng kính ngưỡng, muốn đảnh lễ và tận mắt nhìn dung nhan đức Phật lần cuối trước khi nhắm mắt lìa trần. Thế nhưng, đức Thế Tôn không đứng từ góc độ tình cảm này, an ủi Vakkali.
 
Ngược lại Ngài đã đứng từ góc độ một vị Đạo sư đến thăm Vakkali lần cuối và giáo dục Vakkali nhận chân được chân lý để được giác ngộ và giải thoát, cho nên Ngài đã nói câu: ‘có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này’ .
 
Theo tôi lời nói này có hai ý nghĩa. Ý nghĩa thứ nhất mà Ngài muốn trao truyền cho chúng ta là, Ngài là con người như bao nhiêu con người khác, do vậy thân thể của Ngài cũng giống như bao nhiêu thân thể khác, cũng cần có sự ăn uống ngủ nghỉ, cũng có trạng thái bịnh hoạn ốm đau và bài tiết. Những chất được bài tiết ra mùi tanh hôi cũng giống như mọi người khác. Không nên có suy nghĩ ngây thơ cho rằng, đức Phật không còn những hiện tượng này.
 
Nếu chúng ta có cho rằng, Phật và chúng sanh khác nhau, sự khác nhau đó cũng chỉ là sự khác biệt giữa nhận thức, tức là sự khác biệt giữa người đã giác ngộ (Buddha) và chưa giác ngộ. Người đã giác ngộ không còn những loại khổ về mặt tâm lý, nhưng những loại khổ về mặt tự nhiên vẫn còn, như nóng lạnh, bịnh hoạn.v.v...
 
Còn người chưa giác ngộ, có cả hai loại khổ tự nhiên của vật lý và tâm lý. Thật ra nổi khổ lớn nhất của con người là nổi khổ về tâm lý, không phải vật lý. Thứ hai, Ngài muốn nói rằng, Vakkali là người sống quá nặng nề về tình cảm, quá chú trọng về mặt hình thức bên ngoài của Như Lai, không thấy cái giá trị đích thực từ bên trong mà Ngài đã chứng được dưới cội cây Bồ đề. Cái giá trị của đức Thế Tôn là chân lý không phải là 32 tướng tốt hay 80 vẻ đẹp. Thế thì Vakkali muốn diện kiến cái thân tướng của Thế Tôn để làm gì? Có ích gì cho sự thuyên giảm cơn bịnh trầm trọng mà ông đang gánh chịu? Có giúp gì cho cái chết sắp cận kề mà Vakkali đang đối mặt ?
 
Trước nổi đau khổ này, chỉ có giáo pháp mà Thế Tôn đã chứng mới có thể làm chấm dứt hay tối thiểu cũng làm giảm bớt sự đau khổ của Vakkali, cái pháp đó, chân lý đó Vakkali cần phải diện kiến thấy được trước khi qua đời, nếu không sống đời sống xuất gia vô ích, không có lợi gì cho mình huống gì là làm lợi lạc chúng sinh.
 
Thế thì chân lý mà Ngài chứng được dưới cội cây Bồ đề là gì ? Đó là đạo lý duyên khởi (pratiya-samutpada), nguyên lý vận hành của con người và vũ trụ, trên thế gian không có một vật, một người nào sinh tồn hay biến mất mà không theo nguyên tắc này. Đây chính là ý nghĩa mà đức Phật trình bày trong “Kinh Tạp A hàm” với nội dung như sau:
 
“Pháp duyên khởi chẳng phải do ta làm ra, chẳng phải do người khác làm ra. Dù Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện ở thế gian, pháp này vẫn tồn tại. Như Lai tự giác ngộ pháp này, thành đẳng chánh giác...”[2]
 
Giáo lý mà đức Phật giác ngộ dưới cội cây Bồ đề là duyên khởi mà duyên khởi là nguyên tắc vận hành của cuộc đời, không phải do đức Phật tự mình sáng tạo ra mà nó là nguyên tắc vận hành của con người và vũ trụ, không có một cái gì một người nào lại vận hành ngoài qui luật này, cho nên giáo lý duyên khởi được gọi là chân lý. Từ chân lý trong nhà Phật được mang ý nghĩa như vậy, không phải là lời nói hồ đồ, thiếu cơ sở.
 
Căn cứ từ giáo lý duyên khởi này, đức Phật chỉ ra bản chất con người không có cái gì gọi là ngã (atmam) hay linh hồn trường cửu, các sự vật luôn luôn ở trong trạng thái thay đổi chuyển dịch, sự chuyển dịch đó đức Phật gọi là vô thường (anitya), không có một pháp nào đứng yên cố định. Sắc đẹp, sự giàu sang, địa vị.... dù chúng ta có cố giữ đến đâu, rồi cũng phải chịu đổi thay ở một lúc nào đó. Sự khác biệt giữa người trí và kẻ ngu chính là sự nhận thức đúng hay sai, có nghĩa là thái độ của chúng ta như thế nào về thực trạng này.
 
Người trí chắc chắn không cưỡng ép làm một việc gì trái với qui luật, do vậy khi sự vật vô thường chuyển dịch, người trí không vì vậy mà sinh buồn rầu lo âu hay có thái độ chống đối, chỉ có kẻ ngu mới muốn bắt sự vật đứng yên theo ý mình. Muốn mà không được là nguyên nhân sinh ra đau khổ.
 
Vì lòng thương chúng sanh trầm luân trong đau khổ, đức Phật tùy theo căn cơ và trình độ khác nhau của mỗi loại chúng sanh, dùng mọi phương tiện khác nhau chỉ cho chúng sanh thấy được chân lý này, để họ được giác ngộ và giải thoát mà hình thành Tông phái, phân chia có Tiểu có Đại.
 
Từ điểm này nó gợi ý cho chúng ta hiểu, Pháp duyên khởi, vô thường, vô ngã là chân lý, những phương tiện hay những hình thức giáo dục khác nhau, nó không phải là chân lý, vì nó chỉ có giá trị, và phù họp với một đối tượng cụ thể và nhất định nào đó, không thể là cái chân lý chung cho mọi con người và mọi xã hội khác nhau, cho nên không được gọi là chân lý.
 
Ở đây tôi muốn mọi người nên chú ý một điều rằng, Lòng ngưỡng mộ đó rất tốt và rất cần, nhưng chúng ta không nên lẫn lộn lòng ngưỡng mộ này đồng nghĩa sự hiểu biết về Phật pháp. Xuất phát từ lòng ngưỡng mộ tôn sùng đó, chúng ta đã phát ngôn rất bừa bãi, đôi khi có thương tổn đến Phật pháp.
 
Ví dụ chúng ta thường nói rằng, Phật pháp là chân lý, trong khi đó chúng ta giới thiệu một số quan điểm về Phật pháp, nó hoàn toàn không liên hệ có giá trị gì với đời sống con người, đôi khi lại có hại cho cuộc sống. Trong khi đức Phật nổ lực giới thiệu, làm cho con người thấy rõ được chân lý để được giác ngộ và giải thoát thì chúng ta làm ngược lại giới thiệu với con người xã hội với những quan điểm mù mờ, đen tối, thiếu cơ sở, thiếu ánh sáng của khoa học.
 
Thế thì những quan điểm đó làm sao gọi là chân lý được? Có thể điều đó đúng và họp lý cho một phần tử nào đó trong xã hội, nhưng không phải là tất cả, cho nên không thể gọi là chân lý. Đó chính là lý do tại sao đức Phật dạy: Tin ta mà không hiểu ta là hủy báng ta. Hoạt động của khối óc và con tim là hai lãnh vực khác nhau, cả hai đều cần cho sự sống của con người, nhưng không thể thay thế cho nhau.
 
Trái tim mà thay cho khối óc suy nghĩ sự việc thì cuộc đời sẽ xuất hiện biết bao sự lộn xộn và rối rắm; Khối óc mà thay thế cho trái tim làm việc thì cuộc sống của con người chẳng khác nào như sinh hoạt của tòa án, cho nên chúng ta không nên lẫn lộn giữa khối óc và con tim. Theo tôi, nên sống với nhau bằng trái tim và nên làm việc bằng khối óc.
 
Qua sự trình bày trên nó giúp chúng ta lý giải câu: Ai thấy pháp, người ấy thấy Ta, Ai thấy Ta, người ấy thấy pháp. Ở đây khái niệm Ta chỉ cho đức Phật, như vậy câu này được hiểu là Ai thấy pháp, người ấy thấy Phật; Ai thấy Phật, người ấy thấy pháp. Pháp ở đây chỉ cho giáo pháp duyên khởi. Ai thấy được pháp duyên khởi, người ấy cũng thấy được trạng thái vô thường, vô ngã của vạn vật và ngay cả bản thân mình.
 
Ai đã thấy được vô thường vô ngã thì người ấy không thể chấp: “Cái này là của tôi là tôi là tự ngã của tôi”, như vậy, được giác ngộ và giải thoát. Ở đây, khái niệm giác ngộ và giải thoát là khái niệm mô tả về kết quả của sự thấy và biết, từ trong nhà Phật thường dùng là trí tuệ, chính là kết quả sự tu tập của đức Thế Tôn dưới cội cây Bồ đề. Sự giác ngộ này đã làm cho chính Ngài thoát khỏi mọi sự ràng buột khổ đau, cho nên gọi là giải thoát. Bất cứ ai giác ngộ như Ngài cũng sẽ có những sự giải thoát như Ngài không cao không thấp.
 
Đương thời cũng đã có nhiều người của nhiều giai cấp khác nhau thực hành lời dạy của Ngài, cũng đã được giác ngộ giải thoát. Sau khi sống trong giáo pháp của Ngài, được giác ngộ giải thoát, họ mới cảm thấy rằng, sự khác biệt giữa đường lối tu tập của đạo Phật và các tôn giáo truyền thống Ấn độ rất xa. Đức Phật thì khuyên con người “Đến đạo Phật để thấy và biết, giải quyết khổ đau, chứ không phải để tin” còn các tôn giáo khác thì đặt nặng niềm tin niệm chú và cầu nguyện.
 
Đó chính là lý do tại sao có nhiều người sau khi nghe đức Phật nói pháp bèn phát biểu:
 
“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích.”[3]
 
Như vậy, điểm nổi bật của đức Phật Thích Ca Mâu Ni là sự giác ngộ giải thoát, không phải là 32 tướng tốt hay 80 vẻ đẹp, nguyên tắc để trở thành bậc giác ngộ giải thoát chính là thấy được pháp duyên khởi vô thường vô ngã. Như vậy, ai muốn thấy Phật thì người ấy phải thấy được pháp. Cũng vậy, ai đã thấy được pháp duyên khởi vô thường vô ngã cũng có nghĩa là người ấy đã thấy Phật, vì khái niệm Phật với khái niệm pháp chỉ cho người thấy chân lý và chân lý.
 
Như vậy, tỷ kheo Vakkali nếu muốn diện kiến đức Thế Tôn cần nên diện kiến sự giác ngộ và giải thoát, nếu như Vakkali muốn tỏ lòng ngưỡng mộ đức Thế Tôn thì Vakkali nên thực hành giáo pháp của Ngài, nếu như Vakkali muốn đoạn trừ những nổi khổ đau cho mình thì Vakkali chính mình phải giác ngộ lý duyên khởi vô thường và vô ngã., còn nếu như Vakkali muốn hóa độ chúng sanh thì trước tiên Vakkali phải giác ngộ chân lý. Đó là nội dung và ý nghĩa câu: “Ai thấy pháp, người ấy thấy Phật; Ai thấy Phật, người ấy thấy pháp” khi Ngài khuyên tỷ kheo Vakkali lúc lâm bệnh.
 
Dẫu rằng, đây là lời dạy của Thế Tôn cho Tỷ kheo Vakkali trong quá khứ. Tôi tin rằng, nội dung và ý nghĩa của nó vẫn còn có giá trị thiết thực cho Phật giáo ngày nay. Phải chăng chúng ta đang cố tô son phết vàng ca ngợi 32 tướng tốt của đức Phật nhưng chúng ta lại vô tình hay cố ý quên đi giáo pháp mà Ngài đã giác ngộ ?
 
Phải chăng với lòng kính ngưỡng chúng ta dùng mọi lời tán dương, giới thiệu tính siêu việt của hệ thống triết lý nhà Phật, nhưng chúng ta quên rằng thế hệ tuổi trẻ ngày hôm nay là thế hệ được được trưởng thành trong xã hội tiến bộ về khoa học kỷ thuật, và được đào tạo trong hệ thống giáo dục tiên tiến, có trình độ chuyên môn cao, chúng sẽ khó chấp nhận những quan điểm mù mờ thiếu cơ sở khoa học. Trong khi đó phần lớn của con người trong xã hội ngày nay, quan tâm đến những vấn đề có liên quan đến con người và xã hội mà họ đang sinh tồn, không phải là những vấn đề mang tính triết lý siêu hình.
 
Tôi tin rằng, giáo lý mà đức Phật giác ngộ là giáo lý cho con người, đối tượng mà đức Phật giáo dục là con người. Dẫu rằng hệ thống giáo lý đó đề cập giải quyết những vấn đề cụ thể trong quá khứ, đôi khi không còn phù họp cho con người và xã hội ngày nay, nhưng ngang qua những hình thức giào dục đó, nó vẫn ẩn chứa một nguyên lý tinh thần giáo dục mà đức Phật muốn gởi cho các thế hệ sau không cùng xã hội và lãnh thổ. Nguyên lý đó, tinh thần đó có giá trị tuyệt đối, áp dụng cho mọi thời đại và con người.


[1] H.T  Minh Châu dịch, “Kinh Tương Ưng Bộ” tập 3, Viện Nghiên cứu Việt nam Ấn hành, năm 1993, trang 219.
[2] H.T Thiện Siêu và Thanh Từ dịch, “Kinh Tạp A hàm” tập 1, Viện nghiên cứu Phật học Việt nam ấn hành 1993, trang 635.
[3] H.T Minh Châu dịch, “Kinh Tương Ưng Bộ” tập 3, Viện Nghiên cứu Việt nam Ấn hành, năm 1993, trang 219.