Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

Cậu bé " sợ" ăn thịt

imageTâm Đức Hậu
Tiếp xúc với Nguyễn Tiến Công, học sinh lớp 3A, trường tiểu học Hà Nội (Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội) ít ai có thể biết cậu bé này đã không ăn bất cứ loại thịt nào từ khi lên 3 tuổi…


Không ăn thịt vì…

Nhà em Nguyễn Tiến Công nằm sâu trong một ngõ nhỏ ở thị trấn Cầu Diễn (Từ Liêm, Hà Nội). Lúc tôi đến, gia đình em đang chuẩn bị ăn cơm trưa. 
Lần đầu gặp Công, em đã thể hiện mình là đứa ngoan ngoãn, thân thiện nhưng đôi lúc cũng nghịch ngợm chứ không hề rụt rè và nhút nhát như tôi nghĩ…
Nhìn vào mâm cơm đã sắp sẵn trên bàn, chị Hoàng Mai Hương (mẹ Công) bộc bạch: “Từ khi lên 3 tuổi cháu đã không ăn bất cứ loại thịt nào rồi. Đi mẫu giáo bữa cơm nào có thịt là cháu “lừa” cô giáo cho vào thùng rác hoặc lựa lại ở góc bát. Nhiều lần cô giáo bắt được đã “phạt” nhưng nhất định cháu không ăn”.
 
Phút suy tư của cậu bé không ăn thịt
 
Đứng trước việc cậu con trai không ăn bất cứ loại thịt nào, gia đình chị Hương rất lo lắng. Chị Hương cho biết đã dùng đủ mọi cách “ép” Công ăn nhưng cuối cùng vẫn... chịu thua. Cho đến khi biết lý do vì sao Công không ăn thịt, gia đình chị đã bớt lo lắng như trước.
“Hồi đầu hỏi vì sao không ăn thịt thì cháu lắc đầu, không nói gì, mãi về sau cháu mới nói lý do, khi đó gia đình đành chấp nhận” - chị Hương chia sẻ và câu Công nói với mẹ khi đó mới 3 tuổi là: “Con sợ ăn thịt lắm vì ăn thịt là sát sinh, không có lòng từ bi…”
Vậy là từ đó đến giờ thức ăn trong bữa cơm của Công chỉ có rau, đậu phụ, muối vừng, lạc rang… bổ sung thêm hoa quả và sữa đậu nành. “Bây giờ đi ra chợ hay khi nhìn thấy thịt, cá là cháu đã có cảm giác nôn ọe rồi” - bà nội của Công chia sẻ thêm.
 

Ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật…

Có lẽ, ai cũng nghĩ thông thường chỉ có những bà vãi buổi tối mới lên chùa tụng kinh, niệm Phật nhưng ở chùa Đình Quán (Từ Liêm, Hà Nội) lại khác. Hình ảnh bà nội đèo cháu trai bằng xe đạp lên chùa rồi cùng ngồi tụng kinh đã trở nên quen thuộc mấy năm nay.
Ban ngày, Công đi học còn buổi tối Công lại theo bà nội lên chùa tụng kinh, niệm Phật cùng các Sư Thầy tại chùa Đình Quán. Ai cũng nhận thấy Công đọc kinh sách khá lưu loát và trôi chảy.
 
Công và bà nội trên chùa.
 
Những khóa tu ngắn ngày ở chùa Đình Quán, Công tham gia không sót khóa nào. Đến chùa, Công cùng thực tập việc ăn chay, niệm Phật, ngồi thiền, tụng kinh… như bao người bạn đồng tu khác.
Sư Thầy Tịnh Thủy ở chùa Đình Quán cho hay: “Mới 8 tuổi mà Công đã biết ăn chay trường và lên chùa tụng kinh niệm Phật như thế là một điều rất đáng quý, chứng tỏ Công đã có nhân duyên với đạo Phật”.
Còn bây giờ gia đình chị Hương đã có phần vui và hãnh diện khi chia sẻ về cậu con trai ngoan ngoãn: “Trẻ em được 3 tuổi là giai đoạn bé cần đa dạng nguồn thực phẩm để hoàn thiện bộ não đang phát triển. Ăn chay trường nhưng bây giờ nhìn thấy Công mạnh khỏe lại ngoan ngoãn, học giỏi và sớm biết đạo Phật như vậy nên mọi người trong gia đình ai cũng thấy hạnh phúc về điều đó”.
 
Nguyễn Tiến Công, học sinh lớp 3A trường tiểu học Hà Nội. 
- 2 năm đạt học sinh giỏi của trường.
- 3 tuổi không ăn bất cứ loại thịt nào 
- 5 tuổi đến nay đã ăn chay trường, thường xuyên lên chùa ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật.
 Theo: Bee.net.vn
'Người chết đầu thai' náo loạn đất Hòa Bình

imageNhững trường hợp “đầu thai” tại bản Chiềng Châu (Mai Châu, Hòa Bình) diễn ra từ hàng chục năm nay. Những đứa trẻ khi sinh ra hoàn toàn bình thường, đến khi 3-4 tuổi lại nhận mình là… con của những gia đình khác xa đến cả chục cây số.
Trưởng phòng Tôn giáo (Sở Nội vụ tỉnh Hoà Bình), ông Nguyễn Trường Sơn xác nhận: “Những trường hợp người dân gọi là đầu thai ở huyện Mai Châu là có thật...".

 “Kiếp trước cháu là con trai”
 
Hà Thị Mai Anh (SN 1995, hiện đang học lớp 9, trường phổ thông cơ sở thị trấn Mai Châu), con gái duy nhất của anh Hà Văn Bái và chị Hà Thị Tý là một trường hợp như thế. Anh Bái cho biết, vợ chồng anh lấy nhau từ năm 1990 nhưng hiếm muộn, mãi 5 năm sau mới sinh được Mai Anh. Từ lúc mới sinh cho tới khi cháu 4 tuổi, mọi biểu hiện cũng bình thường như những đứa trẻ khác và vì chỉ có một mình con nên đi đâu vợ chồng cũng cho con đi cùng.
 
Trong một lần đi dự đám cưới một người quen tại bản Nhót (xã Nà Mèo là xã kế bên), vợ chồng anh bận giúp chủ nhà làm cỗ nên gửi cháu cho mọi người trông giúp. Khi công việc đã xong, anh quay ra tìm thì thấy cô con gái của anh đang lẵng nhẵng theo một phụ nữ tầm tuổi vợ anh khóc mếu “Mẹ ơi”.
 
Lạ lùng ở điểm nhìn thấy cha mẹ đẻ thì cô bé cứ “bơ” đi mà bám chặt lấy người phụ nữ lạ mặt liên tục gọi “mẹ”. “Lúc đầu vợ chồng tôi nghĩ chắc con mình tưởng nhầm. Thấy lạ, mọi người trong đám cưới xúm vào hỏi thử: “Vậy bố mẹ cháu tên là gì, nhà ở đâu?”. Chúng tôi chết điếng người khi rõ ràng mình đẻ ra nó mà nó không nhắc đến, lại nhận là con của ông bà Lường Văn Tuấn - Hà Thị Ân lạ hoắc nào đó. Nó còn nói “Cháu có anh trai tên Lường Văn Tú còn cháu tên là Lường Văn Hải nhà ở bản Nhót, trước nhà có cây muỗng to, nhà được làm bằng đất 2 tầng (ý nói nhà sàn)”. Đến lúc này mọi người trong đám cưới mới ồ lên kinh ngạc”, anh Bái thuật lại.
Anh Khà Văn Ôn trước di ảnh con "đầu thai".
 
 
Nghĩ con mình bị… dở hơi nhưng anh vẫn phải chiều theo ý con, đưa cháu theo người phụ nữ lạ về nhà thì càng ngạc nghiên hơn khi mọi điều cháu nói đều chính xác. Ông bà, cô bác tới chơi cháu đều gọi tên chính xác từng người, cháu còn nhận ra quần áo, nơi “con là Lường Văn Hải thường ngủ”. Cả làng xôn xao: “Đúng là nhà này trước đây 4 năm có đứa con trai tên Lường Văn Hải đã mất, đúng vào dịp sinh con bé này”.
Lòng dạ của anh Bái rối bời, đợi đến gần tối thì con gái anh mới chịu theo về nhà. Trên đường đạp xe trở về, vừa sợ chuyện lạ kỳ vừa sợ mất con, anh ngã dúi dụi mấy lần. Người mẹ đẻ của cháu gái lúc về đến nhà ngồi trấn tĩnh lại mới nhớ lại đúng là có lần chị đi qua bản Nhót mua hàng và đó cũng chính là thời điểm chị có mang cháu.
 
Mấy hôm sau, bé gái liên tục bị ốm sốt cao, chẳng chịu ăn uống, miệng luôn đòi về “nhà ở kiếp trước”. Cuối cùng anh chị cũng phải chở cháu về nơi cháu đòi và vừa đến “nhà kiếp trước”, dù vừa ốm lăn lóc nhưng nay đã không còn biểu hiện gì của ốm sốt nữa, sắc mặt tươi tỉnh hẳn lên.
 
Anh Bái trầm ngâm: “Tôi phải mổ lợn làm 10 mâm cỗ để xin vía cháu về dưới này, tôi cũng chỉ có duy nhất mình cháu là con. Từ đó hai gia đình từ chỗ không quen biết nay trở thành thân thiết như hai anh em. Con bé khi nào thấy nhớ bố mẹ trên ấy là lại lên với bố mẹ, với anh, chán thì lại về đây. Những dịp lễ Tết, nghỉ hè có khi nó lên ở cả tuần, nếu lâu không lên là lại lăn ra ốm”.
 
Khách lạ len lén nhìn mặt cô bé “người Trời đầu thai” Mai Anh thì cô bé chợt khanh khách khiến giật thót mình: “Kiếp trước cháu là con trai đấy. Cháu có tới hai bố, hai mẹ và một anh trai, mọi người đều yêu thương cháu”.
 
Bỗng dưng con mình thành… con người khác
 
Trường hợp “người Trời đầu thai” trong nhà anh Hà Văn Tuốt và chị Hà Thị Tuỗn thì xảy ra cách đây đã hơn 20 năm. Anh chị năm nay đã ngoài 40 tuổi, có cậu con duy nhất là Hà Văn Dược (21 tuổi) hiện đang theo bố làm nghề dựng nhà sàn. Mọi người cho biết chàng trai này cũng là “con truyền kiếp”.
 
Mẹ đẻ của Dược cho biết vợ chồng chị lấy nhau từ năm 1990, một năm sau đó thì sinh con trai. Năm lên 3 tuổi, đang chơi với các bạn ngoài sân, thấy một người thu mua sắn là anh trai của một người trong làng đi qua, Dược nói với các mọi người: “Đấy là bác của em đấy”.
 
“Nghe bọn bạn nó nói lại nhưng vợ chồng tôi nghĩ là trẻ con nói nhảm nên cũng không để ý đến. Chuyện lạ xảy ra tới khi đi học mẫu giáo, mỗi lần bố mẹ đưa Dược đi học qua nhà một người tên Vì Văn Xiêm thì cậu bé đều nhắc đi nhắc lại: Nhà của con đây này”.
 
Thấy con nói liên thiên, cha mẹ đẻ thậm chí còn khi phát con đến đỏ mông nhưng sau đó, cậu bé bỗng lăn ra ốm và ngày ngày đều đòi bố mẹ đưa ra “nhà bố Xiêm”. Anh chị cũng đánh liều bế con đến nhà lạ và kỳ lạ thay, mọi bệnh tình của cậu bé đều biến mất. Cậu bé không chỉ biết hết mọi người trong gia đình lạ mà còn nói rõ mình chết từ lúc mới được 5 tháng tuổi và bố mẹ chưa kịp đặt tên con.
 
Vợ chồng ông hàng xóm tên Xiêm cũng ngã ngửa người ngạc nhiên bởi những điều bí mật sâu kín đó chỉ có ông bà mới biết. Vậy là ông hàng xóm cũng làm lễ xin được nhận bé Dược làm con nuôi.
 
Cậu bé Dược nay đã trưởng thành và vẫn nhận mình là người “đầu thai”. Khi được hỏi: “Em có cảm giác gì khi nhận gia đình nhà lạ hươ lạ hoắc làm bố mẹ, các em”, cậu trả lời: “Em cũng chẳng biết vì sao nữa, nhưng khi gặp bố mẹ em ở kiếp trước thì em nhận ra một cảm giác gần gũi, thân thiết và sau đó em cứ nhớ dần đấy từng là bố mẹ và các em mình… Những lần bố mẹ bên ấy đau ốm em cũng đều có linh cảm báo trước”.

Bà mẹ “kiếp trước” của Dược cũng khăng khăng: “Nó chính là đứa con đầu của tôi đã chết. Vợ chồng tôi sinh cháu đầu năm 1982 được 5 tháng thì cháu bị bệnh vàng da, dù đã đi bệnh viện, nhờ nhiều thầy lang nhưng cháu không qua khỏi. Thật bất ngờ là cháu lại lộn vào làm con gia đình nhà hàng xóm. Với linh cảm của người mẹ, tôi nhận thấy Dược cũng giống như hai đứa con đẻ của tôi. Hoàn cảnh của gia đình bên ấy neo người nên gia đình tôi cũng chỉ nhận cháu làm con nuôi, khi nào nhà có công việc thì cháu mới tới”.


Con nhiều tuổi hơn… bố mẹ


Thế nhưng hàng chục năm qua, trường hợp “đầu thai” rùng rợn nhất mà mọi người thường nhắc đến là trường hợp xảy ra tại gia đình anh Khà Văn Ôn (bản Nà Sài). Biết chúng tôi muốn tìm hiểu về trường hợp bất thường trong gia đình, anh Ôn xúc động thắp nén nhang, thì thầm đến trước di ảnh cô con gái Khà Thị Dịu Hiền (SN 2007) khấn con bằng tiếng dân tộc Thái. Trong di ảnh trước bàn thờ là một bé gái kháu khỉnh, được anh giới thiệu là “con đầu thai” của mình.


Anh Ôn nhẩm tính, nếu con mình còn sống thì đến nay đã được khoảng 5 tuổi 1 tháng. “Khi mới sinh ra cháu hoàn toàn bình thường như những đứa trẻ khác trong bản. Lạ là lúc lên 3 tuổi, ai hỏi “Cháu con nhà ai, ở đâu?” thì cháu lại chẳng nói tên vợ chồng tôi mà nói: “Tên bố là Lò Văn Chún, mẹ là Hà Thị Nguyên, anh chị là Lò Văn Ngọc, nhà ở xóm Vãng, trên thị trấn Mai Châu” (cách đó gần chục cây số). “Thực sự trước đó đến tôi cũng chẳng biết những người này là ai, chứ nói gì đến nhà người ta như thế nào”, vẫn lời anh Ôn buồn rầu thuật lại.


Dù trước đó ở địa phương đã có những trường hợp “con đầu thai” nhưng anh chị vẫn không tin và chỉ nghĩ cháu còn nhỏ nên nói vu vơ. Thế nhưng thấy cháu nhắc nhiều quá thì buộc họ phải lần theo địa chỉ cháu “hướng dẫn” để tìm hiểu.


Cặp vợ chồng vô cùng kinh ngạc vì cháu bé mới hơn 3 tuổi nhưng cháu kể chính xác tên những người trong gia đình này, còn còn nói rõ trước nhà có cây dừa, nhà rộng 3 gian và tả cụ thể đường vào nhà như thế nào, phải qua bao nhiêu khúc quẹo. Anh Ôn khi đó ướm hỏi con: “Vì sao con lại theo bố mẹ về đây?”. “Con đã ở nhà cũ nhiều năm thì bị đuổi đánh nên chạy ra khỏi nhà. Lúc ấy gặp mẹ đang nấu cơm bên đường nên con theo mẹ về”.


Nghe con nói, anh chị giật mình, ngồi xâu chuỗi lại thời gian thì đúng là vào thời điểm đó anh chị đi công nhân làm đường trên địa bàn xóm đó và chị chuyên nấu cơm cho tổ công nhân. Đó cũng chính là thời điểm vợ anh mang thai.


Anh kể tiếp, khi con gái mình được 4 tuổi thì cháu có những hành động rất lạ như lục tìm và cắt nát hết những tấm ảnh của mình. Thời gian sau cháu kên đau đầu gối, anh chị đưa cháu lên bệnh viện khám, qua chụp X quang, theo kết luận của bệnh viện cháu bị khuyết xương đầu gối và viêm khớp. Bệnh viện khuyên anh chị nên đưa cháu về Hà Nội chữa trị.


Tại bệnh viện Nhi trung ương, các bác sĩ đã điều trị và bó bột rồi cho về, hẹn gia đình sau hai tuần cho cháu lên kiểm tra lại. Tuy nhiên, đến ngày 5/6/2010, thấy cháu bệnh tình không giảm lại kèm theo sốt cao, anh chị đưa cháu xuống khám ở bệnh viện K. Qua khám bệnh kết luận, các bác sĩ khuyên gia đình nên đưa cháu về nhà chăm sóc, vì cháu bị bệnh bạch cầu cấp (ung thư máu) hiện y học trên thế giới vẫn đang bó tay trước căn bệnh nan y này.


“Có điều lạ là dù cháu đau thế nào nhưng cháu đều mím môi chịu đựng không để bố mẹ và mọi người trong gia đình biết. Ông ngoại đến làm vía (cúng vía theo phong tục địa phương) cho cháu thì cháu bảo: “Con không khỏi bệnh đâu, ông cho con đi chơi nhà các cô, các bác”. Đến hôm sau thì cháu mất”, anh Ôn thuật lại.


Thế nhưng điều kinh hoàng nhất với vợ chồng anh Ôn xảy ra khi gia đình mời ông thầy mo trong bản đến làm lễ cúng ma cho con theo phong tục địa phương. “Ông thầy mo ban đầu gọi hồn là cháu thì kiểu gì cũng cúng không thành, phải đến khi gọi cháu là… chị thì mới ngồi làm lễ được. Thầy mo bấm tuổi rồi bảo chúng tôi: Người trời này hơn 40 tuổi, là con chúng mày nhưng còn… nhiều tuổi hơn cả chúng mày”, anh Ôn sợ hãi kể.


Anh Ôn hiện đang là cán bộ UBND xã Chiềng Châu, anh buồn rầu cho biết: “Vợ chồng mình làm cán bộ nên cũng không tin vào những chuyện ma quái. Nhưng thật sự chuyện con mình là như vậy. Nó là đứa con đầu thai, nó chê nhà mình nghèo, nó không ở thì mình cũng đành phải chịu”.


Để kiểm chứng câu chuyện của anh Ôn, chúng tôi cũng đã vượt quãng đường hơn 10 cây số tìm đến nhà anh Lò Văn Ngọc tại xóm Vãng được cho là người có cô em gái đã “đầu thai” làm con anh Ôn. Đúng như lời anh Ôn kể, đó là một căn nhà sàn 3 gian, phía trước nhà có cây dừa. Anh Ngọc cho biết: “Bố mẹ tôi chỉ sinh được hai anh em. Tôi sinh năm 1964, còn cô em gái sinh năm 1966 nhưng nó bị bạo bệnh mất sớm. Đêm con anh Ôn mất, chẳng hiểu vì sao mà cả gia đình tôi không ai ngủ được, cứ lục sục xuốt đêm. Về sau mới biết tin em gái mình đã đầu thai vào nhà dưới ấy”.


Cơ quan chức năng cũng chưa thế giải thích


Những “nghi án đầu thai” không phải là chuyện mới, và cũng đã từng có ý kiến cho rằng người ta dựng chuyện “đầu thai” để lợi dụng việc cho nhận con nuôi hay mục đích vụ lợi gì khác. Đem ý kiến này đến những người cao tuổi trong bản Chiềng Châu để hỏi, chúng tôi được cụ Hà Văn Thẩm (80 tuổi) cho biết, chuyện con đầu thai ở đây không phải giờ mới có, mà trước đây cũng đã có nhiều trường hợp như vậy.


Trước năm 1954, thời lang đạo và thực dân Pháp cai trị, có những người vì nhận nhà lang làm nhà mình nên cả gia đình bị nhà lang hãm hại vì sợ tranh giành quyền thế, nhiều gia đình phải bỏ đi biệt xứ hoặc bị đánh đến chết. Còn bây giờ muốn nhận con nuôi thì Nhà nước mình có cấm đoán gì đâu mà họ phải bịa chuyện để lách luật?”.


Một thầy lang cao tuổi khác trong xã cho biết: “Tôi đi chữa bệnh nhiều, gặp trường hợp như vậy nếu các cháu muốn nhận bố mẹ mà lại hay đau ốm luôn thì tôi cũng khuyên gia đình nên cho các cháu nhận. Điều lạ là hầu như các trường hợp con đầu thai đều rơi vào trường hợp con một và những bệnh các cháu mắc phải đều khó tìm ra nguyên nhân, nhưng khi nhận bố mẹ, anh em “kiếp trước” thì bệnh tình đều qua khỏi”.


Ông Hà Trọng Lưu, Chủ tịch UBND xã Chiềng Châu cho biết: “Con luân hồi, đầu thai ở địa phương không phải là trường hợp cá biệt. Trong xã đã có nhiều trường hợp xảy ra và hai bên gia đình đều nhận anh em hoặc con nuôi. Tôi cũng nghe có nơi người ta nhận như thế cho hợp lý hóa việc nhận con. Nhưng ở Chiềng Châu, tôi khẳng định không có một trường hợp nào mang tính vật chất hay đánh đổi. Gần như những gia đình có con truyền kiếp đều có kinh tế khá hơn những gia đình các cháu nhận là gia đình kiếp trước”.


Cũng theo Chủ tịch xã Hà Trọng Lưu, việc nhận con nuôi như thế đã diễn ra nhiều năm nay ở địa phương, dù xôn xao dư luận nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến đời sống, phong tục tập quán của người Thái ở đây.


“Vì vậy chúng tôi coi đó cũng là những câu chuyện hết sức bình thường giống như chuyện cây lúa trên nương, con thú trên rừng vậy. Có chăng bà con trong bản cũng chỉ nói: Thì ra con nhà ấy lại là con ông bà ở bản này, bản kia lộn về. Các gia đình sau đó đều nhận bố mẹ, anh em, con cái và coi nhau như người một nhà, quây quần đù bộc nhau qua sợi dây luân hồi - tiền kiếp”, nguyên văn lời ông Lưu.


Trưởng phòng Tôn giáo (Sở Nội vụ tỉnh Hoà Bình), ông Nguyễn Trường Sơn cũng xác nhận: “Những trường hợp người dân gọi là “đầu thai” ở huyện Mai Châu là có thật. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hoà Bình còn một vài trường hợp ở huyện Lương Sơn và Lạc Sơn. Tôi cũng đã từng đến tận nơi tìm hiểu nhưng kết quả chỉ là ngạc nhiên và không giải thích nổi. Có những đứa trẻ khi sinh ra chẳng đi đâu mà biết rõ gia đình nhà người khác cách hàng chục cây số như trong lòng bàn tay, như việc mình đã trải qua”.


Theo ông Sơn, trong những trường hợp này dân gian sẽ dựa vào quan điểm Phật giáo để giải nghĩa. “Phật giáo không cho rằng con người chết là hết mà có linh hồn bất tử tiếp tục đầu thai vào kiếp khác. Cứ như thế con người vào vòng luân hồi không ngừng từ đời này qua đời khác, từ kiếp này sang kiếp khác. Con người của quá khứ là nhân của con người hiện tại, con người hiện tại là nhân của con người tương lai. Dù khoa học chưa chứng minh được quan niệm này là đúng hay sai, nhưng những người tin theo quan điểm Phật giáo thì vẫn cho rằng có kiếp trước – kiếp sau”, ông Sơn cho biết.
Theo Pháp luật Việt Nam

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2011

BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI XUẤT GIA - Thích Quang Thạnh

Để mọi người thấu triệt quan điểm xuất gia theo đúng tinh thần của Phật giáo, đề tài “Bổn Phận của người Xuất Gia” sẽ mở ra một đạo lộ mới giúp chúng ta cùng nhau suy nghĩ và bàn bạc chi tiết nhằm thấu triệt về ý nghĩa, giá trị và bổn phận của người xuất gia qua lời dạy của đức Phật.

A. DẪN NHẬP
Hiện nay, một số người ở đời vẫn còn quan niệm rằng “xuất gia” là một hành động không phù hợp với tinh thần hiếu nghĩa của con người, luôn tránh xa cuộc sống thế tục, từ bỏ cha mẹ thân thương và mái ấm gia đình vào chùa tu học, không làm tròn chữ hiếu của người con đối với cha mẹ trong việc phụng dưỡng và báo hiếu. Vì vậy, nhân gian có câu truyền miệng:
“Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ Cha kính mẹ mới là chơn tu”
Ngược lại, một số người tin hiểu và tu học Phật pháp đều cho rằng “xuất gia” là một hành động đáng trân quý, là việc làm đại hiếu và cao thượng; vì rằng ít có người nào dám từ bỏ những thú vui thế tục, xa rời người thân, sống đời thanh tịnh trong vai trò “tác Như lai xứ, hành Như Lai sự” trên tinh thần tự lợi và lợi tha của bậc xuất trần thượng sĩ. Để mọi người thấu triệt quan điểm xuất gia theo đúng tinh thần của Phật giáo, đề tài “Bổn Phận của người Xuất Gia” sẽ mở ra một đạo lộ mới giúp chúng ta cùng nhau suy nghĩ và bàn bạc chi tiết nhằm thấu triệt về ý nghĩa, giá trị và bổn phận của người xuất gia qua lời dạy của đức Phật.   

B. BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI XUẤT GIA


1. GIẢI THÍCH ĐỀ TÀI

“Bổn phận” hay còn gọi là nhiệm vụ, trách nhiệm như trong tiếng Anh gọi là “moral or legal duty” (1) hoặc từ“task” (2) có nghĩa là phận sự; hay “obligation”(3) có nghĩa là nghĩa vụ.
“Xuất gia” có nghĩa là xuất ly ra khỏi đời sống gia đình, rời bỏ cảnh giới thế tục để tu tịnh hạnh.(4)  Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, đức Phật giải thích ý nghĩa “xuất gia” chính là cạo bỏ râu tóc, làm bậc Sa môn, tiếp nhận lấy đạo, rời bỏ tài sản thế gian, khất thực vừa đủ. Mỗi ngày đứng bóng ăn một bữa, mỗi đêm dưới cây ngủ một lần, thận trọng đừng thêm.(5)   
 Qua sự giải thích về ý nghĩa đề tài ở trên, chúng ta có thể hiểu rằng: bổn phận của người xuất gia cũng chính là nhiệm vụ/trách nhiệm của người xuất gia được trình bày theo thứ lớp như sau:

2. Ý NGHĨA XUẤT GIA

Theo Bộ Sa Di Luật Giải trong phần Qui Sơn Cảnh Sách (quyển hạ), xuất gia có hai nghĩa: (1) ra khỏi nhà thế tục, bước chân ra khỏi cảnh trần, xa tìm ông Trí Thức; (2) ra khỏi nhà phiền não, dứt vọng chứng chơn, vượt khỏi ba cõi.(6) Nói rộng hơn, xuất gia có ba nghĩa: (1) xuất thế tục gia (ra khỏi nhà thế tục); (2) xuất phiền não gia (ra khỏi nhà phiền não tham-sân-si); và (3) xuất gia tam giới gia (ra khỏi nhà tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới).(7) Mặc khác, xuất gia có 4 loại: (1) thân xuất gia, tâm không xuất gia: đó là hạng người thân tướng đầu tròn áo vuông nhưng tâm vẫn còn lưu luyến thế tục; (2) thân tại gia, tâm xuất gia: là hạng người tuy có gia đình nhưng tâm luôn tinh tấn tu học, không bị đam mê nhiễm trước; (3) thân tâm đều xuất gia: hạng người thân đầu tròn áo vuông, tâm không lưu luyến các dục, kính mộ Tam bảo, giữ giới thanh tịnh, tinh tấn tu học, quyết tâm dứt trừ phiền não, đắc qủa Bồ đề; (4) thân tâm đều không xuất gia: hạng người bận rộn vợ con, say đắm dục lạc, nhiễm các phiền não.(8) Trong bốn loại này, hạng người thứ ba thân tâm đều xuất gia chính là hạng người cao quý nhất đúng với ý nghĩa xuất gia mà người viết muốn trình bày trong đề tài này.  

3. BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI XUẤT GIA

Người xuất gia là người luôn lập hạnh sống đời thanh tịnh, diệt trừ phiền não, nhiếp phục ma quân, trên đền đáp bốn ân(9) và dưới cứu khổ ba đường(10) như Tổ Qui Sơn đã dạy: “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục; thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu.” Nghĩa là: luận người xuất gia, phải đi đến bực Đại thừa, tâm hình khác tục, nối thạnh dòng Phật, đánh dẹp ma quân, đền trả bốn ân, cứu giúp ba cỏi(11) Trong phạm vi đề tài, người viết muốn nhấn mạnh về bổn phận của người xuất gia theo hai phương diện chính, đó là: phương diện tự lợi và phương diện lợi tha được biểu hiện rõ nét qua ba vai trò chính mà người xuất gia cần phải duy trì
a.  Vai trò một Tỳ kheo ‘Bhikkhu’
Khi đề cập đến thuật ngữ ‘Bhikkhu’, nó được dịch từ chữ Pāli với ý nghĩa người được cứu tế, người hành khất, người tu sĩ Phật giáo, hoặc vị linh mục;(12) và chữ Sanskṛit là ‘Bhikṣu’ với nghĩa là vị ăn xin, người hành khất Phật giáo, hay là vị tu sĩ.(13) Theo nguyên từ, nó được bắt nguồn từ gốc Sanskrit là ‘bhikṣ’ có nghĩa là yêu cầu, mong muốn, cầu xin điều gì, … Vì vậy, nó có nghĩa là người xin những nhu cầu cần thiết. Hay nói rõ hơn, nó có nghĩa là người hành khất tôn giáo.(14)  
Theo quan điểm Phật giáo, đức Phật giải thích rất ngắn gọn rằng một Tỳ kheo được gọi chính thức với sự đầy đủ giới hạnh (Pāli: Sīla; Skt: Śīla’)(15) và trí tuệ (P: Paññā; S: Prajñā).(16) Nói cách khác, một tu sĩ chân chính không những xa rời sự tham dục và những trạng thái xấu ác; mà còn thể nhập vào 4 trạng thái của thiền định (S: Dhyānas; P: Jhānas). Người tu sĩ như thế đáng được kính trọng và được gọi là vị tu sĩ chân chính.(17) Hơn nữa, vị Tỳ kheo nên làm những công việc đáng làm như: tu tập về đức tính tàm quý, thân-khẩu-ý thanh tịnh, mạng sống thanh tịnh, phòng hộ các căn, tiết độ trong ăn uống, chánh niệm và tỉnh giác;(18) và phải sống như hòn đảo của chính mình, hãy nương tựa chính mình, không nương tựa ai khác, … để giải thoát mọi tham dục và phiền não thông thường ở đời.(19) Và cuối cùng, đức Phật kết luận rằng một tu sĩ Phật giáo hoàn hảo được đề cập với 8 đặc tính:
Khi nào, này các Tỳ kheo, vị ấy có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết pháp, có sống với hội chúng, có vô úy thuyết pháp cho hội chúng, với bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt mõi, chứng được không phí sức, do diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; như vậy, vị ấy được đầy đủ chi phần ấy. Thành tựu 8 pháp này, này các Tỳ kheo, Tỳ kheo được tịnh tín hoàn toàn và được viên mãn về mọi phương diện.(20)
Thêm vào đó, Ananda Guruge khẳng định bổn phận của người xuất gia là nghiên cứu giáo pháp, chú tâm vào các công việc hàng ngày liên quan đến sự tôn thờ đức Phật, phát triển lãnh vực tâm linh, vâng giữ các điều luật về phẩm hạnh và cuộc sống hoàn hảo, …Đó là những nền tảng về đời sống hoàn hảo của người xuất gia.(21)  
b. Vai trò một hành giả (practioner)
      Với vai trò như một hành giả Phật giáo trong thời đại mới, vị ấy cần phải ứng dụng và thực hành nguyên tắc tu tập cơ bản một cách tích cực linh động, đó là sự tu tập Tam Vô Lậu Học (the Threefold Higher Training)
  • Sự tu tập về Giới (P: Sīla; S: Śīla- Morality or Moral Conduct)
      Trên phương diện tu tập, ‘Giới’ được dịch từ chữ Pāli là Sīla mang ý nghĩa là sự thực hành đạo đức, là đặc tính tốt, là đạo đức Phật giáo, và là mực thước về đạo đức.(22) Theo từ Sanskrit, Śīla được đề cập về tư cách đạo đức, là một trong 6 hay 10 Ba-la-mật (Skt: Pāramitās); hoặc những quy tắc về đạo đức (đối với Phật giáo, có 5 quy tắc nền tảng hoặc những điều luật về hạnh kiểm đạo đức).(23) Từ định nghĩa trên, chúng ta có thể kết luận rằng từ ‘Sīla, or Śīla’ được dùng để nhấn mạnh về ý nghĩa tư cách và những quy tắc đạo đức. Trong học thuyết Phật giáo, các điều luật về đạo đức đã đến với chúng ta từ hình thức ban đầu với cái tên Pāṭimokkha or Prātimokṣa (Giới bổn),(24) nó được tập hợp lại từ những điều luật khác nhau trong Tạng luật, bao gồm 227 giới(25) đối với Tỳ kheo Tăng và 250 giới thuộc Tỳ kheo ni,… (26)  
      Khi đề cập về Giới trong Phật giáo, con người trước hết cần phải thấu triệt đúng đắn về khái niệm của giới, sự tuân thủ giới chính là nhằm vào ý thức đạo đức cá nhân để giải thoát con người khỏi sự thống khổ của tham sân si; vì vậy, đức Phật đã dùng phương tiện thiện xảo để thiết lập các điều luật. Do vậy, sự thực hành giới chỉ là những phương tiện tạm thời nhằm hướng con người đến sự giải thoát mọi phiền não khổ đau ở đời; là chiếc bè từ bi đưa người vượt biển sanh tử; và là chiếc cầu đa năng dẫn dắt con người qua sông ái dục. Thế cho nên, trong kinh Trung Bộ I, đức Phật đã dạy:“Cũng vậy, này chư Tỳ kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt đưa qua, không phải để nắm giữ lấy. Chư Tỳ kheo, các ông cần hiểu ví dụ chiếc bè. Chánh pháp còn phải bỏ huống nữa là phi pháp.”(27) Từ đây, chúng ta có thể mạnh mẽ nói rằng sự thực hành giới sẽ không còn hữu dụng nếu con người đã nhổ bật toàn bộ cội rễ phiền não và khổ đau từ nội tâm của chính mình.
      Trong thời hậu hiện đại, sự tu tập giới luôn được các hành giả Phật giáo tuân thủ với thái độ tích cực và sáng tạo tùy theo những tình huống và thời đại khác nhau; đặc biệt trong thiên niên kỷ thư ba này. Đối với giới điều của người xuất gia, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm một vài ví dụ điển hình trong 10 giới Sa di mà người đệ tử Phật cần phải tu tập với thái độ uyển chuyển và tích cực như: không sát sanh; không ca múa hát xướng; không dùng giường cao tốt đẹp và rộng lớn; không cất giữ vàng bạc châu báu, không ăn phi thời; ….(28) Có nghĩa là làm thế nào người đệ tử Phật xử sự và duy trì những giới điều này khi một vài sinh vật độc hại (như: muỗi độc, ruồi, bò cạp, rắn độc…) gây ra những bệnh truyền nhiễm, thương tích hoặc đi đến cái chết đối với con người (như dịch cúm gia cầm hiện nay); hoặc khi vị ấy không có tiền để chi phí cho việc học hành, xe cộ, các cuộc họp ngoại giao quốc tế, hay xây dựng chùa chiền, tự viện, trường Phật học…; hoặc khi vị ấy được mời tham gia trong các buổi hội thảo quốc tế ở nước ngoài và được bố trí ở tại khách sạn sang trọng; hay khi các vị Tăng Ni sinh trẻ ăn uống phi thời vì thời khóa biểu học tập ở các trường Đại học, học viện; … Đó là một vài ví dụ tiêu biểu đủ để cho chúng ta hiểu rằng sự tu tập giới điều đối với Tăng lữ ngày nay không nên giữ một thái độ cố chấp, bảo thủ; mà ngược lại họ cần phải ứng dụng và thực hành sự tu tập đó với một tinh thần uyển chuyển, đúng đắn, sáng tạo và tích cực để thể nhập vào những tình huống và hoàn cảnh mới trong cuộc sống hiện đại. Đây chính là ý nghĩa tích cực về sự thực hành giới luật của Phật giáo ngày nay. 
  • Sự tu tập Định (Samàdhi)
      Theo thuật ngữ Sanskrit and Pāli, ‘Samādhi’ được bắt nguồn gốc từ ‘dhā’ nghĩa là ‘đặt, để’ cùng với tiếp đầu ngữ ‘sam’ và tiểu từ nhấn mạnh ‘ā’. Nó có nghĩa là ‘đặt lại với nhau’. Nghĩa bóng của từ ‘Samādhi’ được dùng trong Thánh điển Pàli Phật giáo với ý nghĩa là Định hay Thiền định(29). Một sự giải thích rõ ràng hơn về từ Samādhi được bắt nguồn gốc từ dhā và cùng tiếp đầu ngữ với sam và ā (sam + ā + dhā) do đó mang nghĩa ‘Định’. Nó là một trạng thái chăm chú, bình tĩnh và tập trung của tâm và định mà nó đi kèm với lối sống thiện là điều kiện cần thiết để đạt được trí tuệ và giải thoát.(30) Thêm vào đó, nhiều học giả khác đã đưa ra lời giải thích về Samādhi rằng nó là sự nhất tâm, là sự tập trung của tâm về một đối tượng để loại trừ toàn bộ tất cả những cái khác.(31)
      Theo truyền thống, người ta có thể hiểu lời dạy của đức Phật về Định mà người tu sĩ Phật giáo cần tu tập là loại trừ năm triền cái (32) trong bản thân bằng thiền định, xa rời tham dục và từ bỏ tính khí bất thiện; vị ấy tuần tự chứng và trú vào Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, và Tứ thiền;(33) tâm vị ấy trở nên tịch tĩnh, nhất tâm. Sự chuyên chú như thế gọi là ‘Định hoàn hảo’(34)
      Trên thực tế, xuyên qua những khái niệm về Định, người đệ tử Phật cần thấu triệt rằng sự tu tập thiền định không có nghĩa là ngồi im bất động trong khi thiền, mà phải được biểu lộ qua những công việc và lối sống hàng ngày để thích nghi với những tình huống xã hội hiện nay. Có nghĩa là vị ấy tu tập thiền định bằng cách luôn duy trì trạng thái chánh niệm và tỉnh giác trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, nói, ăn uống, ngủ nghĩ, lái xe, học tập, tắm rữa, đọc sách, … Nói chung, tất cả những công việc và sự tu tập hàng ngày được dẫn dắt bởi sự chánh niệm và tỉnh giác. Từ quan điểm trên, chúng ta có thể suy luận rằng khi một hành giả đang lái xe hoặc bất kỳ loại xe tải nào, vị ấy luôn giữ chánh niệm, tỉnh giác và luôn ý thức nghiêm chỉnh khi đang lái xe, không có sự sao lãng và thờ ơ, không đưa đến kết quả bất lợi, và luôn an toàn, … việc lái xe như thế được gọi là thiền trong khi lái xe. Cũng vậy, những công việc và sự tu tập hàng ngày khác cũng đều tương tự. Đây chính là ý nghĩa tu tập Định của Phật giáo mộït cách tích cực và năng động trong thời hậu hiện đại. 
  • Sự tu tập Tuệ (Pañña or Prajña)
      Thuật ngữ Prajña (Skt.) or Pañña (Pāli) được bắt nguồn gốc từ ‘jña’ (sự hiểu biết) khi tiếp đầu ngữ ‘pra’ được thêm vào để mang ý nghĩa là ‘trí tuệ, sự hiểu biết, sự nhận thức đúng đắn, sự nhận ra, cách phán xét, sự thấu triệt, sự hiểu biết về trực giác, …’ (35)
      Trong các bộ kinh Nikāya, chúng ta có thể nhận thấy lời dạy của đức Phật về Tuệ (Prajña, Pañña) rằng vị nào nhận biết như thật về sự tập khởi, sự diệt trừ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu chỗ xuất xứ, vị ấy sẽ có một sự hiểu biết vượt ngoài những điều trên.(36) Mặt khác, đức Phật nhấn mạnh rằng người đệ tử Phật không chỉ thấu triệt hoàn toàn về nguồn gốc duyên khởi bắt nguồn từ vô minh và tham ái; mà còn thấu hiểu đúng đắn về tám con đường chơn chánh đưa đến sự tận diệt hoàn toàn các khổ uẩn bằng cách làm mất dần hoàn toàn tham ái và đoạn diệt vô minh.(37)
      Ngày nay, bước vào thiên niên kỷ thứ ba, người đệ tử Phật tu tập trí tuệ bằng cách thực hành chánh kiến và chánh tư duy. Có nghĩa rằng vị ấy cần thấu triệt hoàn toàn lời dạy của đức Phật qua Kinh, Luật và Luận nhằm ứng dụng đúng đắn vào sự tu tập tâm; truyền bá giáo pháp tùy theo căn cơ trình độ của con người; thấu triệt về lý hơn quả đưa đến kết quả thiện ác từ hành động, nhận thức lý duyên khởi bắt nguồn từ vô minh và tham dục của toàn bộ khổ uẩn, và đối với tứ đế cũng như bát chánh đạo đưa đến sự đoạn diệt hoàn toàn các khổ uẩn, đạt đến Niết bàn, giải thoát và giác ngộ tối thượng. Ý nghĩa về tuệ như thế được gọi là sự tu tập tuệ với nghĩa đúng đắn và thích hợp.(38) 
      Qua mối liên hệ mật thiết về Tam Vô Lậu Học, chúng ta có thể nhận thấy rằng Giới-Định-Tuệ được phối hợp chặt chẽ và tác động hỗ tương với nhau trên tiến trình tu tập giải thoát giác ngộ. Chính vì vậy, đức Phật đã khẳng định rõ ràng:
Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. (39)
      Từ ý nghĩa trên, chúng ta có thể khẳng định mạnh mẽ rằng Giới-Định-Tuệ được xem như kiềng ba chân, vì nếu thiếu một trong ba thì nó không thể đứng vững vàng trên mặt đất được. Sự tu tập Tam Vô lậu cũng vậy. Nếu sự tuân thủ Giới mà không có sự hiện hữu của Định và Tuệ, nó trở thành sự tuân thủ giới một cách cố chấp. Và sự tuân thủ Định và Tuệ cũng như vậy. Quan điểm này đã được đức Phật chỉ dạy:
“Giới, định và trí tuệ – Với ai khéo tu tập, Vị ấy vượt qua khỏi – Thế lực của Ác ma, Và chói sáng rực sáng – Như mặt trời chói sáng.” (40)
      Ngoài việc tu tập Tam Vô Lậu Học, một hành giả Phật giáo trong thiên niên kỷ thứ ba cần nên trao dồi tích cực và ứng dụng khéo léo thêm về pháp môn Tứ Nhiếp Pháp (bao gồm bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự)(41); Ngũ Minh (gồm y phương minh, công xảo minh, nhân minh, thanh minh và nội minh)(42); các bộ môn khoa học hiện đại liên hệ đến Phật giáo (như là: các tôn giáo thế giới, khoa học xã hội, thông tin và những phương tiện liên lạc và mạng lưới internet hiện đại…)  để phục vụ cho công việc hoằng pháp vì lợi ích và an lạc hạnh phúc cho tất cả chúng sanh và cho xã hội ngày nay.
            c. Vai trò một nhà truyền giáo (Preacher)
     Đới với một nhà truyền bá Phật giáo, đức Phật xác định rõ ràng rằng nếu Tỳ kheo thuyết pháp và thực hành pháp yếm ly, ly tham, đoạn diệt già và chết, như vậy đủ để được gọi là Tỳ kheo thuyết pháp.(43) Lại nữa, trong khi thuyết pháp, người truyền giáo chỉ nói lời khéo nói, không nói lời vụng nói; chỉ nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp; chỉ nói lời khả ái, không nói lời phi khả ái; chỉ nói lời đúng sự thật, không nói lời không đúng sự thật.(44) Hơn nữa, người truyền giáo khuyến khích những người khác không chỉ tu tập và nói phù hợp với lễ giáo, mà còn đưa ra những quan điểm hợp theo chánh pháp. Quan điểm này, đức Phật đã răn dạy một một vị Tỳ truyền giáo nên thành tựu ba pháp (1) khuyến khích các thân nghiệp tùy thuận, (2) khuyến khích các ngữ nghiệp tùy thuận, và (3) khuyến khích các ý nghiệp tùy thuận. Thành tựu với ba pháp này, một vị Tỳ kheo truyền giáo có danh tiếng, sống đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đem lại hạnh phúc, an lạc cho chư thiên và loài người.(45) Đặc biệt, đức Phật nhấn mạnh về phẩm chất của vị truyền giáo cần phải liễu giải nghĩa và liễu giải pháp, và người nghe pháp cũng vậy. Cả người dạy và người nghe đều phải liễu giải nghĩa và pháp. Đó là ba phẩm chất làm nền tảng đối với người giảng dạy giáo pháp cho người khác.(46)
      Bước vào ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba, để đối diện với những vấn đề khủng hoảng xã hội hiện nay như: môi trường sinh thái, bệnh dịch HIV/AIDS, chiến tranh, bạo động và khủng bố, .v..v.; một nhà truyền bá Phật giáo không những nắm bắt thấu đáo về các tình huống xã hội và tính khí con người hiện nay, mà còn thực hiện khéo léo làm thế nào để giãm bớt nỗi khổ đau và khủng hoảng xã hội.
      Với môi trường sinh thái, đặc biệt về những thảm họa về ô nhiễm không khí, một nhà truyền bá Phật giáo một mặt giải thích súc tích và hợp lý cho con người về giá trị và tầm quan trọng thực tế môi trường sinh thái; khuyến khích họ biết tôn trọng, bảo vệ và duy trì mạng sống của nhân loại, các loài thực vật, động vật và thiên nhiên; và mặt khác kết hợp với họ trồng cây gây rừng, tôn trọng, bảo vệ tất cả các loài thực vật và động vật, giữ gìn không khí và nguồn nước trong sạch và không ô nhiễm, … Một hành động khéo léo như thế sẽ làm giãm bớt sự đau khổ tinh thần cho con người và sự khủng hoảng môi trường sinh thái.
      Với bệnh dịch HIV/AIDS,(47) người truyền bá lý tưởng trước hết cần thấu hiểu rõ ràng về ý nghĩa và nguyên nhân bệnh dịch HIV/AIDS. Đó là bệnh nhiễm vi rút thiếu hụt hệ thống miễn dịch con người (HIV: Human Immunodeficiency Virus) gây ra hội chứng liệt kháng thể (AIDS: Acquired Immune Deficiency Syndrome) qua ba đường truyền chính: quan hệ sinh lý với người bị nhiễm; truyền máu của người bị nhiễm; và người mẹ bị nhiễm đang mang thai.(48) Kế đến, vị ấy kết hợp với những đoàn thể xã hội thành lập và tham gia vào việc tuyên truyền cho mọi người về cách ngăn ngừa bệnh dịch HIV/AIDS; theo dõi chăm sóc thuốc men kỹ lưỡng, chăm sóc những bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS ở giai đoạn cuối; ủng hộ những bệnh nhân mới bị nhiễm HIV/AIDS bằng cách đào tạo hướng nghiệp, khuyên nhũ họ theo tâm lý, hướng dẫn phương pháp thiền định của Phật giáo một cách có hiệu quả và có lợi, tạo ra những thú tiêu khiển lành mạnh và các môn thể thao ưa thích (như: bóng đá, bơi lội, cầu lông, võ thuật, …) hầu làm cho họ tăng thêm sức đề kháng mạnh mẽ.(49) Việc làm như thế không chỉ làm giãm đi bệnh dịch HIV/AIDS mà còn giãm đi những tai họa cho xã hội.
      Về vấn đề chiến tranh, bạo động và khủng bố, người truyền bá Phật giáo đầu tiên trao đổi với họ bằng những lời giải thích đầy thuyết phục và những bằng chứng thực tế về những thiệt hại trầm trọng cho con người và xã hội từ những hành vi chiến tranh, bạo động và khủng bố; sau đó khuyến khích và hướng dẫn họ một cách khéo léo thực hành tinh thần bất bạo động của Phật giáo bằng cách tu tập lòng từ và sự đồng cảm vì hòa bình, hạnh phúc và an lạc thật sự cho mình và cho tất cả chúng sanh. Thật sự, chính việc thực hành bất bạo động này không những hàn gắn lại vết thương chiến tranh, xung dột và bạo động cũng như làm giãm đi tất cả những tai họa cho con người và xã hội; mà còn xây dựng một xã hội hòa bình và lành mạnh, cũng như thắt chặt nguyên tắc quý trọng về sự bình đẳng, hữu nghị và tự do.   
      Mặt khác, một nhà truyền bá Phật giáo ngày nay một mặt nên giảm bớt việc tùy thuộc vào sự khất thực từ các tín đồ Phật tử và mặt khác nên tự làm kinh tế để duy trì đời sống tôn giáo của mình với nhiều phương thức khác nhau: trồng trọt rau quả; cày ruộng trồng lúa; làm đậu hũ, sữa đậu nành và bột mì;…làm nhang; ấn hành kinh sách Phật giáo; làm các vật phẩm cho việc thờ phượng; … Vai trò kinh tế khéo léo như thế không chỉ cung cấp và ủng hộ điều kiện vật chất cho nhà truyền bá Phật giáo thực hiện thành công nhiệm vụ tham gia xã hội cả hai phương diện xã hội và giáo dục, mà còn tạo ra cho vị ấy có đủ tài sản để duy trì cuộc sống tôn giáo lâu dài và vững chắc.
C.     KẾT LUẬN
      Nhìn chung, qua những quan điểm tích cực và mới mẽ được đề cập ở phần trên, chúng ta nhận thấy giá trị bổn phận của người xuất gia ở thiên niên kỷ thứ ba được biểu hiện qua hai phương diện đạo đức và xã hội. Phương diện đạo đức thuộc về ý nghĩa ‘tự lợi’, đề cập về những yêu cầu tu tập và phát triển đạo đức cá nhân của người xuất gia với vai trò như là một Bhikkhu, một hành giả. Phương diện xã hội chính là tinh thần ‘lợi tha’, liên quan đến vai trò tham gia xã hội của người xuất gia với những phương tiện thiện xảo với vai trò như là một nhà truyền bá. Dựa trên hai phương diện này, vị ấy có khả năng thực hiện khéo léo bổn phận tôn giáo của mình về sự tu tập và truyền bá Phật pháp cho số đông, có khả năng ứng dụng giáo pháp một cách linh hoạt và sáng tạo vào việc tham gia xã hội vì an lạc và hạnh phúc cho con người. Hình ảnh một vị xuất gia như thế không chỉ mở ra một đạo lộ mới cho thế hệ trẻ tu sĩ Phật giáo ở tương lai trong vai trò và nhiệm vụ tôn giáo thích hợp với quan điểm Phật giáo ngày nay, mà còn đóng góp cho sự nghiệp phát triển đạo đức và giáo dục con người trong bất kỳ tình huống xã hội nào trong thiên niên kỷ thứ ba.     

CHÚ THÍCH
(1)       Nguyễn Sanh Phúc (Chủ biên), Từ điển Anh-Anh-Việt, 1999: 639; Paul Procter (Chủ biên), Cambridge International Dictonary of English, 1995: 433; Jonathan Crowther (Biên tập), Oxford Advanced Learner’s Encyclopedic Dictionary, 1992: 278.
(2)       Nguyễn Sanh Phúc (Chủ biên), Sđd., trang 2103; Paul Procter (Chủ biên), Sđd., trang 1492; J. Crowther (Biên tập), Sđd., trang 933.
(3)       Nguyễn Sanh Phúc (Chủ biên), Sđd., trang 1370; Paul Procter (Chủ biên), Sđd., trang 971; Jonathan Crowther (Biên tập), Sđd., trang 619
(4)       Kim Cương Tử, Từ Điển Phật học Hán Việt, quyển II, 1994: 1903. Xem thêm ‘xuất gia’ trong Đoàn Trung Còn, Phật Điển Phật Học, quyển III, 1997: 685.
(5)       Thích Trí Quang (dịch), Kinh Tứ Thập Nhị Chương, 1994: 29.
(6)       Thích Hành Trụ (dịch), Sa Di Luật Giải, quyển Hạ, 1992: 523. 
(7)       Thích Hành Trụ, Sơ Đẳng Phật Học Giáo Khoa Thư, 1997: 42.
(8)       Kim Cương Tử, Sđd., trang 1903; Đoàn Trung Còn, Sđd., trang 685.
(9)       Tứ ân: (1) ân Tam bảo/đất nước; (2) ân Sư trưởng; (3) ân cha mẹ; và (4) ân thí chủ/chúng sanh
(10)     Tam hữu hay còn gọi là tam giới: (1) Dục giới; (2) Sắc giới; và (3) Vô Sắc giới.
(11)     Thích Hành Trụ (dịch), Sa Di Luật Giải, quyển Hạ, Sđd., trang 523; Thích Nhựt Chiếu (dịch), Văn Cảnh Sách của Tổ Qui Sơn, 2003: 18.
(12)     T. W. Rhys Davids & William Stede (Biên tập), Pali-English Dictionary, 1997: 504
(13)     M. Monier-Williams (Biên tập), Sanskrit-Enghlish Dictionary, 1999: 756.
(14)     A. G. S. Kariyawasam, ‘Bhikkhu’ (Tỳ Kheo), trong G. P. Malalasekera (Biên tập), The Encyclopaedia of Buddhism (Bách Khoa Phật Giáo), quyển III, 1999:36; John C. Holt, ‘Buddhist Priesthood’ (Tăng Lữ Phật Giáo) trong Mircea Eliade (Biên tập), The Encyclopaedia of Religion (Bách Khoa Tôn Giáo), quyển 11, 1987: 542- 542ff.
(15)     Kinh Trường Bộ I.222f. Xem thêm ‘Sīla’(giới) trang 15ff-122ff; A. K. Warder, Indian Buddhism (Phật giáo Ấn Độ), 2000: 173.
(16)     Kinh Trường Bộ I.222f. Xem thêm ‘Trí tuệ’ trang 154f; M. Anesaki, ‘Ethics and Morality’ trong Subodh Kapoor (Biên tập), The Buddhists Encyclopaedia of Buddhism, quyển II, 2001: 525ff.
(17)     Kinh Tăng Chi Bộ I.292ff.
(18)     Kinh Trung Bộ I.593ff.
(19)     Kinh Trường Bộ II.353f-382f. Xem thêm Kinh Tương Ưng Bộ III.83 & V.240f.
(20)     Kinh Tăng Chi Bộ IV.10f.
(21)     Ananda Guruge (Biên tập), Return to Righteousness, 1991: 223.
(22)     T. W. Rhys Davids & William Stede (Biên tập), Pali-English Dictionary, Sđd., trang 712.
(23)     M. Monier-Williams (Biên tập), Sanskrit-Enghlish Dictionary, Sđd., trang 1079.
(24)     Xem thêm ý nghĩa về ‘Pratimokṣa’ trong W. Pachow,  A Comparative Study of the Pratimokṣa, 2000: 4ff; Peter Harvey, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices, 1990: 224f.
(25)     Xem thêm  trong T. W. Rhys Davids & H. Oldenberg (dịch); F. Max Muller (ed.), The Sacred of Books of the East, Vol. 13, 1996: 3ff; E. Lamotte (tác giả) & Sara Webb-Boin (dịch), History of Indian Buddhism, 1988: 54f; S. Tachibana, The Ethics of Buddhism, 1986: 80ff; Nalinaksha Dutt, Early Monastic Buddhism, 1981: 152; Ñāṇamoli Thera (dịch), The Pāṭimokkha: The Rule for Buddhist Monks, 1992: 66ff; Lynn de Silva, Buddhism: Beliefs and Practices in Sri Lanka, 1980: 148. Xem thêm các điều luật của Tỳ kheo ở A. G. S. Kariyawasam, ‘Bhikkhu’ (Tỳ kheo), trong G. P. Malalasekera (biên tập), The Encyclopaedia of Buddhism, Vol. III, 1999: 36; Gerald Roscoe, The Triple Gem: An Introduction to Buddhism, 1994: 123ff; Peter Harvey, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices, Sđd., trang 225ff; Robert C. Lester, Theravada Buddhism in Southeast Asia, 1973: 50ff; R. Gethin, The Foundation of Buddhism, 1998: 89ff.
(26)     Xem thêm con số về các điều luật Pratimokṣa (Giới bổn) của Tỳ kheo ni với nhiều quan điểm khác nhau, W. Pachow,   A Comparative Study of the Pratimokṣa, Sđd., trang 4ff; Peter Harvey, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices, Sđd., trang 225; R. Gethin, The Foundation of Buddhism, Sđd., trang 89ff.
(27)     Kinh Tiểu Bộ I.214f; Walpola Rahula, What the Buddha Taught, 1996: 45ff.
(28)     Georg Feuerstein, ‘Samādhi’ trong Mircea Eliade (ed.), The Encyclopaedia of Religion, Vol. 13, 1987: 32
(29)     M. Monier-Williams (Biên tập), Sanskrit-Enghlish Dictionary, 1999: 1159.
(30)     Mahāthera Nārada, The Buddha and His Teachings, Sđd., trang 305.
(31)     Năm Triền Cái (Nīvaraṇas) là: (1) tham dục (sensual desires- kāmacchanda); (2) sân hận (ill will- vyāpāda); (3) hôn trầm và thụy miên (sloth and torpor - thīna-middha); (4) trạo hối (restlssness and worry - uddhacca-kukkucca); and (5) hoài nghi (doubts, vicikicchā). Xem chi tiết trong Mahāthera Nārada, The Buddha and His Teachings, Sđd., trang 317ff; Sayadaw U Pandita (tác giả); U Aggacitta (dịch); Kate Wheeler (ed.), In This Life: The Liberation Teachings of the Buddha, 1993: 187ff; Peter Harvey, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices, Sđd., trang 249f; M. Piyadassi, The Spectrum of Buddhism: Writings of Piyadassi, 1991:214ff-250ff (Addendum IV); Joseph Goldstein, Insight Meditation: The Practice of Freedom, 1994: 57f; T. Kyabgon, The Essence of Buddhism: An Introduction to Its Philosophy and Practice, 2001:25f.
(32)     Kinh Trường Bộ I, Vol. I: 139ff-301ff-318f-358f-369f-379f; Kinh Trung Bộ, Vol. I: 609ff-403f-589f - Vol. II: 25-223-464; Vol. III: 32-112f-272ff-304f-350f; Kinh T ương Ưng Bộ, Vol.V: 21f-310-459f; Kinh Tăng Chi Bộ, Vol. I: 292f - Vol. II: 224-339ff-502 - Vol. III: 524 - Vol. IV: 184f. Xem thêm ‘Tứ Thiền’ trong Lamotte (tác giả) & Sara Webb-Boin (dịch), History of Indian Buddhism, Sđd., trang 43; B. Buddhaghosa (tác giả); Ñānamoli (dịch), The Path of Purification, 1991: 136ff; Kenneth W. Morgan (biên tập), The Path of the Buddha: Buddhism Interpreted by Buddhists,1997:148f; U. Aung Thein, ‘Buddhist Meditation and Bioscience’ trong Buddhadasa P. Kirthisinghe (ed.), Buddhism and Science, 1999: 58f; J. Barthélemy Saint-Hilaire, The Buddha and His Religion, 1997: 142f; Peter Harvey, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices, Sđd., trang 250ff; Edward Conze (dịch & biên tập), The Large Sutra on Perfect Wisdom, 1990: 157f; A. K. Warder, Indian Buddhism, 2000: 90f; Nalinaksha Dutt, ‘The Buddhist Meditation’ trong Mahendra P. Mittal (compiled), Buddha and Early Buddhism, Vol. 1, 2002: 194ff; L.M. Joshi, ‘Buddhist Meditation and Mysticism’ trong L. M. Joshi & et.al., Buddhism, 1999: 62f; Robert C. Lester, Theravada Buddhism in Southeast Asia, Sđd., trang 36f; P. Williams, Buddhist Thought: A Complete Introduction to the Indian Tradition, 2000: 55; R. Gethin, The Foundation of Buddhism, Sđd., trang 184f.
(33)     Xem thêm về ‘Định’ (Samādhi -Meditation or Concentration) trong The Vajra Regent Wu-Tsen, ‘Meditation’ trong S. Kapoor (biên tập), The Buddhists Encyclopaedia of Buddhism, Vol. II, 2001: 926ff; Jotiya Dhirasekera, ‘Meditation’, trong W.G. Weeraratne & Jotiya Dhirasekera (biên tập), The Encyclopaedia of Buddhism, Vol. IV, 1989: 206; Georg Feuerstein, ‘Samādhi’ trong Mircea Eliade (biên tập), The Encyclopaedia of Religion, Vol. 13, 1987: 32f; Lamotte (tác giả) & Sara Webb-Boin (dịch), History of Indian Buddhism, Sđd., trang 42ff; B. Buddhaghosa (tác giả) & Ñānamoli (dịch), The Path of Purification, Sđd., trang 85ff; Kenneth W. Morgan (biên tập), The Path of the Buddha: Buddhism Interpreted by Buddhists, Sđd., trang 144ff; Mahāthera Nārada, The Buddha and His Teachings, Sđd., trang 305ff; Nalinaksha Dutt, Early Monastic Buddhism, Sđd., trang 159ff; U. S. Pandita, U. S. (tác giả), U. Aggacitta (dịch) & K. Wheeler (biên tập), In This Life: The Liberation Teachings of the Buddha, Sđd., trang 13ff-150ff; Moti Lal Pandit, Buddhism in Perspective, 2001: 82ff; Thich Nhat Hanh, The Heart of the Buddha’s Teaching, 1998: 209f; His Holiness The Dalai Lama, The Way to Freedom, 2000: 173ff; Phra Sunthorn Plamintr, Basic Buddhism Course, 1999: 129ff-133ff; Ajahn Chah, Food for the Heart, 1999: 47ff; Geoffrey DeGraff (Thanissaro Bhikkhu), The Wings to Awakening, 1999: 223ff; P. L. Narasu, The Essence of Buddhism, 1999:  138ff; Peter Della Santina, The Tree of Enlightenment, 1999: 56ff; Sidney Piburn (comp. & ed.), The Dalai Lama—A Policy of Kindness, 2002: 69ff; L.M. Joshi, ‘Buddhist Meditation and Mysticism’ trong L. M. Joshi & et.al., Buddhism, Sđd., trang 56ff; Lynn de Silva, Buddhism: Beliefs and Practices, Sđd., trang 70ff; M. Piyadassi, The Spectrum of Buddhism: Writings of Piyadassi, Sđd., trang 189ff; W. Rahula, What the Buddha Taught, 1996: 67ff; John Snelling, Buddhism: An Introductory Guide to the Buddhist Tradition, 2000: 62ff; R. Gethin, The Foundation of Buddhism, Sđd., trang 174ff; Dipak Kumar Barua, An Analytical Study of Four Nikāyas, 2003: 142ff; Traleg Kyabgon, The Essence of Buddhism: An Introduction to Its Philosophy and Practice, 2001: 23ff-58ff; Geshe Sonam Rinchen (author); Ruth Sonam (trans. & ed.), The Six Perfections, 1998: 81ff.
(34)     T. W. Rhys Davids & S. William (biên tập), Pali-English Dictionary, Sđd., trang 390; M. Monier Williams, (ed.), Sanskrit-Enghlish Dictionary, Sđd., trang 659.   
(35)     Kinh Trường Bộ I.88.
(36)     Kinh Tương Ưng Bộ II.11ff-14f-29-33ff-43-48-51ff-56-78ff-82ff-83f-84f-104ff-142ff. Xem thêm ‘Lý Duyên Khởi’ trong Kinh Tiểu Bộ I.115f-116f; Kenneth K. Inada, ‘Buddhist Observance’, S. Kapoor (biên tập), The Buddhists Encyclopaedia of Buddhism, Vol. I, Sđd., trang 239f; Bhikkhu Khantipalo, ‘Wheel of Life’, S. Kapoor (biên tập), The Buddhists Encyclopaedia of Buddhism, Vol. V, Sđd., trang 1479ff; Lamotte (tác giả) & Sara Webb-Boin (dịch), History of Indian Buddhism, Sđd., trang 36ff; B. Buddhaghosa (tác giả) & Ñānamoli (dịch), The Path of Purification, Sđd., trang 539ff; Kenneth W. Morgan (biên tập), The Path of the Buddha: Buddhism Interpreted by Buddhists, Sđd., trang 154; J. Barthélemy Saint-Hilaire, The Buddha and His Religion, Sđd., trang 134ff; Mahāthera Nārada, The Buddha and His Teachings, Sđd., trang 240ff; Peter Harvey, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices, Sđd., trang 54ff; Edward Conze, Buddhist Thought in India, 2002: 144ff; Thích Nhất Hạnh, The Heart of the Buddha’s Teaching, Sđd., trang 221ff; Peter Della Santina, The Tree of Enlightenment, Sđd., trang 96ff; H. Saddhatissa, Buddhist Ethics, 1997:16ff; Robert C. Lester, Theravada Buddhism in Southeast Asia, Sđd., trang 29ff; M. Piyadassi, The Spectrum of Buddhism: Writings of Piyadassi, Sđd., trang 137ff; Lella Karunyakara, Modernisation of Buddhism: Contribution of Ambedkar and Dalai Lama XIV, 2002: 74ff; P. Williams, Buddhist Thought: A Complete Introduction to the Indian Tradition, Sđd., trang 62ff; R. Gethin, The Foundation of Buddhism,  Sđd., trang 141f;  Ananda Guruge (ed.), Return to Righteousness, 1991: 299ff; Traleg Kyabgon, The Essence of Buddhism: An Introduction to Its Philosophy and Practice, Sđd., trang 73ff; K. Rama, Buddhism: A World Religion, 1999: 16f.
(37)     Xem thêm ‘Tuệ’ (Paññā -Wisdom) trong P. D. Premasiri, ‘Ethics’ trong W.G. Weeraratne (Editor-in-Chief), The Encyclopaedia of Buddhism, Vol. V, 2000:152; Tadeusz Skorupski, ‘Prajñā’, Mircea Eliade (ed.), The Encyclopaedia of Religion, Vol. 11, Sđd., trang  477ff; Lamotte (tác giả) & Sara Webb-Boin (dịch), History of Indian Buddhism, Sđd., trang 44ff; B. Buddhaghosa (tác giả) & Ñānamoli (dịch), The Path of Purification, Sđd., trang  435ff; Mahāthera Nārada, The Buddha and His Teachings, Sđd., trang  320ff-353f; Thích Nhất Hạnh, The Heart of the Buddha’s Teaching, Sđd., trang  210ff; H.H. Dalai Lama, The Way to Freedom, 2000:179ff; Peter Della Santina, The Tree of Enlightenment, Sđd., trang  65ff; Dipak Kumar Barua, An Analytical Study of Four Nikāyas, 2003: 159ff; Traleg Kyabgon, The Essence of Buddhism: An Introduction to Its Philosophy and Practice, Sđd., trang  69ff; Geshe Sonam Rinchen (author); Ruth Sonam (trans. & ed.), The Six Perfections, Sđd., trang  95ff.
(38)     Kinh Trường Bộ I. 559-617-621f.
(39)     Kinh Tiểu Bộ I.364. Xem thêm ‘Tam Vô Lậu Học’ trong Kinh Tăng Chi Bộ.I.415ff-435ff; P. D. Premasiri, ‘Ethics’ trong W.G. Weeraratne (Editor-in-Chief), The Encyclopaedia of Buddhism, Vol. V, Sđd., trang  150ff; Lamotte (tác giả) & Sara Webb-Boin (dịch), History of Indian Buddhism, Sđd., trang  42ff; Gerald Roscoe, The Triple Gem: An Introduction to Buddhism, Sđd., trang  8ff-12ff-21ff; B. Saṃgharakshita, ‘Buddhism in the Modern World: Cultural and Political Implications’ trong P.V. Bapat (ed.), 2500 Years of Buddhism, 1997: 389f; H.H. Dalai Lama (au.); Ramanan, R. (compiler), The Heart of Compassion, 2001: 110ff; W. Rahula, What the Buddha Taught,  Sđd., trang 46ff; H. Saddhatissa, Buddhist Ethics, Sđd., trang  40ff; M. Piyadassi, The Spectrum of Buddhism: Writings of Piyadassi, Sđd., trang 204ff; Merv Fowler, Buddhism: Beliefs and Practices, 1999: 58ff; Dipak Kumar Barua, An Analytical Study of Four Nikāyas, Sđd., trang  121ff; Inder L. Malik, Dalai Lamas of Tibet, 1984: 154ff.
(40)     Xem thêm trong Kinh Trường Bộ  II .546f; Alan Senauke, ‘The Bodhisattva’s Four Methods for Steering Any Vehicle’ trong Sulak Sivaraksa (Hon.ed.), Socially Engaged Buddhism for the New Millennium, Bangkok: Sathirakoses–Nagapradipa Foundation & Foundation For Children, 1999: 114ff.
(41)     Xem thêm trong Kim Cương Tử (chủ biên), Từ Điển Phật Học Hán-Việt, quyển I, Sđd., trang 915f; Đoàn Trung Còn, Phật Học Từ Điển, quyển II, Sđd., trang 401f.
(42)     Kinh Tương Ưng Bộ II.38f. Xem thêm trong Kinh Tương Ưng Bộ IV.234f.
(43)     Kinh Tiểu Bộ I.605f; Kinh Tương Ưng Bộ I.415
(44)     Kinh Tăng Chi Bộ I.188f.
(45)     Kinh Tăng Chi Bộ I.269.
(46)     Kinh Trường Bộ II.541ff; Mahāthera Nārada, The Buddha and His Teachings, Sđd., trang 348ff; Gerald Roscoe, The Triple Gem: An Introduction to Buddhism, Sđd., trang 159ff; Peter Harvey, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices, Sđd., trang 213f; A. K. Warder, Indian Buddhism, 2000:178f; Hema Goonatilake, ‘Women and Family in Buddhism’, trong Sulak Sivaraksa & et.al (ed.), Buddhist Perception for Desirable Societies in the Future, 1993: 227f; H. Saddhatissa, Buddhist Ethics, Sđd., trang 97ff; Lynn de Silva, Buddhism: Beliefs and Practices in Sri Lanka, Sđd., trang 132f; W. Rahula, What the Buddha Taught, Sđd., trang 78ff-119ff.
(47)     Xem thêm ‘HIV Infection and AID’ trong Bruce M. King, Human Sexuality Today, 2002: 114ff.
(48)     Sđd., trang 116ff.
(49)     Sđd., trang 120ff-123ff.

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

Vô thức và Vô thức tập hợp

Tôi đọc Freud và Jung rất nhiều trong suốt thời tuổi trẻ. Tư tưởng Freud và Jung luôn ám ảnh tôi suốt khoảng thời gian đại học. Chính psycho-analysis (phân-tâm học) làm tôi cảm thấy tự tin hơn trong nghể nghiệp bác sĩ nội khoa của mình. Tôi thực sự đã có nhiều thành công khi điều trị những chứng bệnh gọi là psycho-somatic (bệnh tâm-thể) ví dụ: Đau nhức không rõ nguyên nhân, viêm đại tràng( colitis), tiều nhắt (pollakiuria), ngứa (pruritus) không có nguyên nhân, chóng mặt lành tính (benign vertigo) v.v…
những thứ không có lý do hoặc nguyên nhân cụ thể, và đặc biệt là chứng hysteria (tiếng Việt chưa có từ tương đương). Chỉ có lý thuyết về vô thức của Phân tâm học mới giải thích thỏa đáng những triệu chứng của các chứng bệnh trên. Freud và Jung là hai người thày của tôi về cả y học, triết lý và nhiều lãnh vực khác.
Vắn tắt Lý thuyết Phân tâm học:
Đa số mọi người nghĩ rằng ta suy nghĩ và hành động bằng ý thức của ta. Mình hiểu biết rõ những ý nghĩ và tình cảm của chính mình. Nhưng đến những năm đầu của thế kỷ 20, Sigmund Freud, sau những nghiên cứu lâm sàng, phát hiện ra rằng cái ta gọi là ý thức (conscious mind) chỉ là một lớp ở bên trên một thực thể khác gọi là vô thức (unconscious mind). Chính cái vô thức này mới ảnh hưởng phần lớn vào những quyết định của ta.

Hoc trò của Sigmund Freud là Carl Gustave Jung (1985-1961), đã có những phát hiện lớn hơn và quan trọng hơn về vấn đề Vô thức. Jung nghiên cứu những bệnh nhân tâm thần. Khi phần Ý thức đã nhiễu loạn hoặc hoàn toàn mất đi thì những bệnh nhân tâm thần dễ bộc lộ những nội dung của Vô thức. Những người bệnh tâm thần thường có thể cùng nói, viết những tử-ngữ (dead language) cổ xưa, hoặc có thể cùng vẽ những hình bùa của các tôn giáo bí truyền một cách giống nhau. Điều này cũng giống như sự giống nhau trong các giấc mơ giữa chúng ta; hoặc sự tương đồng trong thần thoại của các bộ lạc hoặc dân tộc khác nhau. Jung đi tới kết luận rằng tất cả chúng ta đều có chung một kiểu cấu tạo Archetype, chúng ta có chung một phần của vô thức, phần này gọi là : Vô thức tập hợp (collective unconsciousness).
Như vây, Carl Jung là nhà khoa học đầu tiên, bằng khoa học thực nghiệm chứng minh trong đáy hồn sâu của con người có sự hiên diện một Vô thức “chung”. Hóa ra giữa chúng ta cũng có một phần chung, một dây liên lạc, chứ không phải là những hòn đảo cô độc như Jean Paul Sartre đã nói. Nhìn từ góc độ vô thức, chúng ta là một toàn thể. All is One.

Các lớp của nhận thức
Các lớp của nhận thức
Khi đọc đến Vô thức tập hợp (collective unconsciousness) của Jung, tôi nhân ra rất nhiều những tương đồng giữa cái “thức” này với Alaya thức của Phật giáo. Khoảng thế kỷ thứ 04. Hai anh em Thế Thân (Vasubandhu) và Vô Trước (Asanga), cũng là hai vị Bồ Tát đầu tiên có công xây dựng tâm lý học Phật giáogọi là Yogacara (còn gọi là Duy thức học, Duy biểu học, Pháp tướng tông). Tâm lý học Phật giáo – Duy thức luận- mô tả nhận thức của con người là một thực thể liên tục (continuum), được chia ra làm bốn lớp:
1. Nhận thức của các giác quan: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác (panaca-parijnananas)
2. Ý thức (Manaskara)
3. Mạt na thức (Manovijnanana): thức này giúp cho ta nhận biết mình là một cá thể độc lập, giúp ta hình thành bản ngã, giúp ta biết ta là ta.
4. A lai da thức (Alayavijnana): là thức chung của tất cả các chủng loại sinh vật, là thức chứa (tàng thức) tất cả nghiệp chung và nghiệp riêng của ta. Vì là nơi để chứa đựng nên tiếng Anh dịch là “store-consciousness”. Ta thấy Phật giáo ngay từ đầu đã có khái niệm về nghiệp chung (cộng nghiệp).
Như vậy, khái niêm Alaya thức trùng khít với khái niêm vô thức tập hợp.
Đi xa hơn khái niêm Alaiya thức, tâm lý học Phật giáo ( Duy thức Luận) còn mô tả một thực thể, thực sự là thức cuối cùng của Tâm: Bạch tịnh thức, tôi tạm dịch là “clear white consciousness”. Nó là “thức”, sự nhận biết, thể hiện như một ánh sáng trắng và trong suốt (the clear white light) khi người ta giác ngộ (enlightened), khi người ta nhận ra bản tâm chân thực nhất của mình “the true nature”. Ánh sáng trắng này ta sẽ gặp ngay lúc lìa đời bước vào cõi trung ấm.
Cám ơn Carl gustave Jung, người chứng minh bằng khoa học thực nghiệm cho thuyết Alaya thức của Duy thức học Phật giáo

BS. Phạm Doãn

Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2011

Tu Tập Minh Sát (Vipassanã –bhãvanã) - Thiền sư GOENKA

Vipassanã –bhãvanã thường được mô tả như một ánh chớp của tuệ giác, một trực quan bất ngờ về chân lý. Sự mô tả như vậy là chính xác, nhưng thực sự vẫn có một phương pháp tuần tự từng bước một mà những người hành thiền có thể dùng để tiến đến điểm ở đây họ có được khả năng trực giác như vậy. Phương pháp này là tu tập Minh sát (Vipassanã –bhãvanã –bhãvanã) hay thường gọi là thiền Minh sát.
Chữ passanã có nghĩa là “thấy” loại thị lực thông thường mà chúng ta có với mắt mở. Vipassanã là một loại thị lực đặc biệt: sự quan sát thực tại trong tự thân chúng ta. Điều này được thành tựu bằng cách lấy những cảm thọ vật lý của mính mình làm đối tượng của sự chú tâm. Kỹ thuật ở đây là sự quan sát các cảm thọ trong tự thân một cách hệ thống và vô tư. Sự quan sát này mở ra cho ta thấy toàn bộ thực tại của tâm và thân.
Tại sao lại cảm thọ? Trước tiên là vì chính qua các cảm thọ mà chúng ta kinh nghiệm được thực tại một cách trực tiếp. Nếu không có một điều gì tiếp xúc với nămgiác quan vật lý (ngũ căn) hay tiếp xúc với tâm, cảm thọ sẽ không hiện hữu cho chúng ta. Đây là những cánh cửa qua đó chúng ta gặp gỡ thế gian, hay những căn cứ (xứ) cho mọi kinh nghiệm. Và bất cứ khi nào một điều gì tiếp xúc với sáu căn xứ, thì một cảm thọ phát sinh. Đức Phật đã diễn tả tiến trình ấy như sau: “Nếu một người lấy hai thanh gỗ chà sát vào nhau, thì từ sự cọ xát ấy sức nóng  được sanh ra, một tia lửa phát ra. Cũng như thế ấy, do một xúc được kinh nghiệm (cảm giác) là lạc, một thọ lạc phát sinh. Do một xúc được cảm giác là khổ, một thọ khổ phát sinh. Do một xúc được cảm giác là không khổ không lạc, một thọ không khổ không lạc khổ phát sinh”[7].
Sự xúc chạm của một đối tượng với tâm hay thân tạo ra một tia cảm thọ. Như vậy thọ là một mắc xích qua đó chúng ta kinh nghiệm thế gian với tất cả hiện tượng tâm, vật lý của nó. Để phát triển trí tuệ dựa trên kinh nghiệm (tu tuệ) này chúng ta phải biết rõ những gì mình đang thực sự kinh nghiệm, đó là, chúng ta phải tu tập niệm thọ.
Thêm nữa, các cảm thọ vật lý liên quan mật thiết với bạn, và cũng giống như hơi thở, chúng còn phản ánh trạng thái tâm hiện tại. Khi các đối tượng tâm ý (pháp trần): tư duy, ý niệm, tưởng tượng, cảm xúc, ký ức, hy vọng, sợ hãi… tiếp xúc với tâm, các cảm thọ liền phát sinh. Mỗi tư duy, mỗi cảm xúc, mỗi tâm hành đều kèm theo bởi một cảm thọ tương ứng trong thân. Do đó, nhờ quan sát các cảm thọ vật lý, chúng ta cũng quan sát luôn cả tâm.
Để khảo sát sự thực tận chiều sâu, cảm thọ hết sức thiết yếu. Bất luận điều gì chúng ta gặp trong thế gian đều gợi lên một cảm thọ trong thân. Có thể nói cảm thọ là giao lộ (ngã tư) nơi tâm và thân gặp gỡ. Mặc dù về bản chất thuộc vật lý, cảm thọ cũng là một trong bốn tiến trình tâm (xem bài “Điểm Khởi Đầu”). Nó khởi lên trong thân và được cảm bằng tâm. Nơi một tử thi hay vật vô tình không thể nào có cảm thọ, vì tâm không có mặt ở đó. Nếu như chúng ta không biết về kinh nghiệm này, sự thẩm sát của chúng ta về thực tại vẫn chưa đầy đủ và chỉ ở bề mặt. Cũng như để trừ cỏ trong vườn bạn phải biết gốc rễ ẩn tang và chức năng sinh tồn của chúng; ở đây cũng vậy, chúng ta phải biết các cảm thọ, mà hầu hết các cảm thọ ấy vẫn không lộ rõ đối với chúng ta, nếu chúng ta muốn hiểu bản chất của chúng ta và đối phó với nó một cách thích đáng.
Các cảm thọ lúc nào cũng khởi lên ở khắp toàn thân. Mỗi một tâm xúc hay thân xúc đều tạo ra cảm thọ. Mỗi một phản ứng sinh hóa đều sanh ra cảm thọ. Trong đời sống bình thường, tâm ý thức thiếu sự tập trung cần thiết để biết tất cả (những cảm thọ) ngoại trừ cảm thọ mãnh liệt trong số ấy, song một khi chúng ta đã làm cho tâm bén nhạy bằng việc thực hành niệm hơi thở, và như vậy đã phát triển được niệm căn (khả năng chánh niệm), chúng ta có thể kinh nghiệm thực tại của từng cảm thọ bên trong một cách ý thức.
Mọi nỗ lực trong việc thực hành niệm hơi thở là để quan sát hơi thở tự nhiên, không kiểm soát hay điều khiển nó. Tương tự, trong việc thực hành Minh sát (Vipassanã –bhãvanã), chúng ta chỉ đơn giản quan sát các cảm thọ của thân. Chúng ta di chuyển sự chú tâm một cách hệ thống khắp toàn thân (cấu trúc vật lý), từ đầu đến chân và từ chân lên đầu, từ chi(chân tay) này sang chi khác. Tuy nhiên trong lúc làm như vậy, chúng ta không cố gắng tránh những cảm thọ loại khác. Nỗ lực chỉ để quan sát một cách khách quan, nhận biết bất cứ cảm thọ nào xuất hiện khắp toàn thân, có thể là: nóng, lạnh, nặng, nhẹ, ngứa, đập, co, rút, mở rộng, sức ép, đau, nhoi nhói, nhịp tim, sự rung động hay bất kỳ loại nào khác.
Người hành thiền không đi tìm bất cứ một thọ kỳ đặc nào mà chỉ cố gắng quan sát các cảm thọ vật lý bình thường đúng như chúng khởi lên một cách tự nhiên vậy thôi.
Nỗ lực cũng không được dùng để khám phá nhân sanh thọ. Nó có thể phát sinh từ những điều kiện khí hậu, do tư thế bạn ngồi, do ảnh hưởng của bệnh cũ, hay do cơ thể suy yếu, hoặc thậm chí cũng có thể do thức ăn bạn đã ăn. Lý do không quan trọng và nằm ngoài sự quan tâm của bạn. Điều quan trọng là bạn phải biết được cảm thọ nào đang khởi ngay sát na này trong một phần nào đó của thân, nơi đây sự chú tâm của bạn đã tập trung vào.
Khi mới bắt đầu công việc thực hành này, có thể chúng ta chỉ nhận thức được các cảm thọ ở một số phần nào đó của thân thôi, còn những chỗ khác thì không. Niệm căn (khả năng ghi nhận) vẫn chưa phát triển đầy đủ, vì vậy chúng ta chỉ kinh nghiệm được những cảm thọ mãnh liệt chứ không biết đến những cảm thọ tinh vi, tế nhị. Tuy nhiên, chúng ta cứ tiếp tục chú tâm lần lượt đến từng phần của cơ thể, di chuyển trung tâm điểm của niệm theo thứ tự một cách hệ thống, không để sự chú tâm bị các cảm thọ nổi bật hơn kéo đi quá mức. Sau khi thực hành định học, chúng ta đã phát triển được khả năng gắn chặt sự chú tâm trên một đối tượng đã chọn. Giờ đây chúng ta dùng khả năng này để di chuyển niệm đến  từng phần của cơ thể trong một trình tự nhất định, không nhảy qua phần cảm thọ không rõ để đến phần khác có thọ rõ hơn, không nấn ná ở một vài cảm thọ (dễ chịu), cũng không cố gắng tránh những cảm thọ khác. Theo cách này, dần dần chúng ta có thể kinh nghiệm được cảm thọ nơi mọi phần của cơ thể.
Khi mới bắt đầu hành niệm thở, hơi thở thường sẽ khá nặng và không đều. Rồi dần dần nó lắng dịu và trở nên càng lúc càng nhẹ nhàng, tinh khiết và vi tế hơn. Tương tự, lúc mới hành thiền Minh sát, bạn thường gặp những cảm thọ thô, gắt, khó chịu và dường như kéo dài khá lâu. Đồng thời, những cảm xúc mạnh hay những ý nghĩ và ký ức đã quên lâu đời có thể xuất hiện, đem theo với chúng những bực bội về tâm lý hoặc vật lý, thậm chí đau đớn nữa. Những triền cái hay chướng ngại của tham và sân, của hôn trầm, trạo cử (dao động) và hoài nghi vốn cản trở tiến bộ của bạn trong lúc hành niệm hơi thở, giờ đây có thể tái xuất hiện và lấy lại sức mạnh của nó đến độ bạn hoàn toàn không thể duy trì được việc niệm cảm thọ nữa. Đối diện với tình huống này bạn không có sự chọn lựa nào khác ngoài việc quay trở lại với niệm hơi thở để phục hồi sự an tịnh và làm nhạy bén lại tâm.
Là người hành thiền, chúng ta phải thực hành một cách nhẫn nại, không có bất kỳ một cảm giác thất bại nào để thiết lập lại sự tập trung, hiểu rằng tất cả những khó khăn này thực ra chỉ là kết quả của thành công ban đầu của chúng ta. Một vài điều kiện (duyên) đã chon vùi thật sâu nay bị khuấy động dậy và bắt đầu xuất hiện ở mức ý thức. Dần dần, với nỗ lực kiên trì nhưng không chút căng thẳng, tâm lấy lại trạng thái yên tịnh và nhất tâm. Những ý nghĩ hoặc cảm xúc mạnh liệt biến mất, và bạn có thể trở lại với việc niệm các cảm thọ. Và với việc thực hành liên tục, những cảm thọ căng thẳng sẽ có khuynh hướng tan ra thành những cảm thọ đồng nhất và vi tế hơn, cuối cùng trở thành chỉ là những rung đọng, sanh và diệt cực kỳ nhanh chóng.
Song cho dù những cảm thọ có là lạc hay khổ, mãnh liệt hay vi tế, đồng nhất hay sai biệt thì cũng không quan trọng trong lúc hành thiền. Nhiệm vụ chính của hành giả là chỉ quan sát một cách khách quan (những cảm thọ ấy). Bất chấp những khó chịu của các thọ khổ, bất chấp những hấp dẫn của các thọ lạc, chúng ta không ngừng công việc (thực hành) của mình, chúng ta không để cho bản thân trở nên rối loạn hay bị mê say trong bất kỳ cảm thọ nào; công việc của chúng ta chỉ đơn thuần là quan sát tự thân với sự vô tư như một nhà khoa học đang quan sát trong phòng thí nghiệm vậy.
Vô Thường, Vô Ngã, và Khổ
Khi chúng ta kiên trì trong việc hành thiền, chẳng bao lâu chúng ta sẽ hiểu ra một sự thực cơ bản: các cảm thọ của chúng ta luôn luôn thay đổi. Mỗi sát na, trong mỗi phần của cơ thể, một cảm thọ sanh; và mỗi cảm thọ là một dấu hiệu của sự thay đổi. Những thay đổi trong từng sát na này xảy ra trên mọi phần của thân thể, trên những phản ứng sinh hóa và điện từ. Mỗi sát na, thậm chí còn nhanh hơn nữa, những tiến trình tâm lý thay đổi và được thể hiện qua những thay đổi về vật lý.
Đây là thực tại của tâm và vật chất (danh và sắc): nó đang thay đổi và vô thường – anicca. Mỗi sát na những hạt hạ nguyên tử hay các tổng hợp sắc cấu thành thân sanh lên và diệt. Mỗi sát na những chức năng tâm lý cũng tuần tự xuất hiện và biến mất. Mọi hiện tượng vật lý và tâm lý bên trong chúng ta cũng như bên ngoài thế gian đang thay đổi trong từng sát na.Trước đây, chúng ta có thể đã biết điều này là thực, chúng ta có thể đã hiểu vấn đề trên phương diện tri thức. Tuy nhiên, giờ đây nhờ thực hành Vipassanã-bhãvanã (thiền Minh sát) chúng ta kinh nghiệm vô thường tính một cách trực tiếp trong cơ cấu của thân chúng ta. Sự kinh nghiệm trực tiếp các cảm thọ nhất thời này sẽ chứng minh cho chúng ta thấy bản chất phù du của chúng ta.
Mỗi phân tử của thân, mỗi tiến trình của tâm đều nằm trong trạng thái trôi chảy không ngừng. Không có gì tồn tại quá một sát na, không có phần cốt lõi nào để bạn có thể bám víu vào, không có gì để bạn có thể gọi là “tôi” và “của tôi”. Cái “tôi” ấy thực sự chỉ là một sự kết hợp của những tiến trình tâm và vật lý, được xem là luôn luôn thay đổi.
Như vậy người hành thiền hiểu được một thực tại cơ bản khác: vô ngã – anattã, không có cái “tôi” thực thụ, không có cái ngã hay bản thể thường hằng.  Cái bản ngã mà bạn dành hết lòng cho nó chỉ là một ảo tưởng tạo ra bởi sự kết hợp của những tiến trình tâm-vật lý trôi chảy không ngừng. Sauk hi đã khảo sát thân và tâm tới mức độ sâu nhất, bạn thấy rằng không hề có một cốt lõi bất di bất dịch, không hề có một thực chất tồn tại độc lập với những tiến trình (tâm-vật lý) không có gì được miễn trừ khỏi qui luật vô thường. Chỉ có một hiện tượng vô ngã, luôn biến đổi và nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta.
Như vậy một thực tại khác trở nên rõ ràng. Bất cứ nỗ lực nào nhằm nắm giữ một cái gì, cho rằng “Đây là tôi, đây là của tôi” chắc chắn phải làm cho bạn đau khổ, vì không sớm thì muộn cái mà bạn chấp giữ này sẽ mất đi, hoặc giả cái “tôi” này sẽ mất đi. Như vậy chấp trước vào cái gì vô thường, nhất thời, ảo tưởng, và nằm ngoài kiểm soát của bạn là khổ, dukkha. Chúng ta hiểu tất cả điều này không phải do có ái nói cho chúng ta biết sự thể là vậy, mà vì chúng ta kinh nghiệm nó ở bên trong, do quan sát các cảm thọ trong thân của chúng ta vậy.
Xả
Làm thế nào để không tự làm cho mình đau khổ? Làm thế nào để sống không khổ đau? Chỉ cần giản dị quan sát mà không phản ứng: thay vì cố gắng nắm giữ một kinh nghiệm và tránh né kinh nghiệm khác, cố gắng kéo cái này vào, và đẩy cái kia ra xa, bạn chỉ đơn giản xem xét từng hiện tượng một cách khách quan, với thái độ buông xả, và với một cái tâm quân bình.
Điều này nghe có vẻ đơn giản, nhưng chúng ta sẽ làm gì khi ngồi thiền trong một giờ, và sau mười phút đã cảm thấy đau đầu gối đây? Ngay lập tức chúng ta ghét cái đau, muốn cái đau mất đi. Nhưng nó không chịu mất đi; thay vào đó, ta càng ghét, nó lại càng đau hơn. Cái đau thể xác trở thành cái đau tinh thần, khiến cho ta khốn khổ cực độ.
Nếu chúng ta có thể học quan sát cái đau thể xác trong một thoáng thôi; thậm chí nếu chúng ta có thể tạm thời thoát ra khỏi ảo tưởng rằng đó là cái đau của ta, rằng chúng ta đang cảm giác đau, nếu chúng ta có thể xem xét cảm thọ một cách khách quan giống như một vị bác sĩ đang xem xét cái đau của người khác, thời chúng ta sẽ thấy rằng cái đau tự nó thay đổi. Nó không tồn tại mãi, mỗi sát na nó đều thay đổi, nó sẽ diệt mất, rồi đau trở lại, và rồi thay đổi nữa.
Khi chúng ta hiểu được điều này bằng kinh nghiệm tự thân, chúng ta thấy rằng cái đau không còn áp đảo và điều khiển chúng ta được nữa. Có lẽ nó sẽ nhanh chóng mất đi, hoặc có thể không. Song điều đó không thành vấn đề. Chúng ta không khổ vì cái đau nữa vì chúng ta có thể quan sát nó với sự thản nhiên.
Con Đường Giải Thoát
Nhờ phát triển chánh niệm và xả, bạn có thể tự giải thoát mình khỏi khổ đau. Khổ đau có mặt do không biết (vô minh) về thực tại của chính mình. Trong bóng tối của vô minh này, tâm phản ứng lại mọi cảm thọ với thích và không thích, với tham và sân. Mỗi phản ứng như vậy tạo ra khổ đao trong hiện tại và làm cho một chuỗi những sự kiện chuyển động mà điều này sẽ chỉ đem lại khổ đau trong tương lai mà thôi.
Làm thế nào để có thể bẻ gãy chuỗi nhân quả này? Do các hành nghiệp quá khứ bén rễ trong vô minh, bằng cách này hay cách khác, cuộc sống đã bắt đầu, dòng danh sắc (tâm-vật chất) đã khởi động. Vậy ta có nên tự sát không? Không nên, vì làm như thế sẽ không giải quyết được vấn đề. Vào lúc bạn tự sát, tâm ngập tràn thống khổ, ngập tràn sân hận. Vì thế những gì nối tiếp cũng sẽ ngập tràn khổ đao. Một hành động như vậy không thể nào dẫn đến an vui được.
Cuộc sống đã bắt đầu và ta không thể tránh khỏi nó. Vậy ta có nên hủy hoại sáu căn không? Bạn có thể móc mắt, cắt lưỡi, hủy hoại mũi và tai. Song làm thế nào bạn có thể hủy hoại được thân xác? Làm thế nào bạn có thể hủy hoại được tâm? Đây cũng lại là một cách tự sát được xem là vô ích mà thôi.
Ta sẽ hủy diệt các đối tượng của sáu căn, như mọi cảnh sắc, mọi âm thanh vv… chăng? Điều này lại càng không thể được. Vũ trụ có vô  số các đối tượng ta chẳng thể nào hủy diệt được tất cả. Một khi sáu giác quan (căn) có mặt, không thể nào ngăn được sự tiếp xúc của chúng với các đối tượng tương ứng. Và ngay khi xúc sanh khởi, thì chắc chắn phải có một cảm thọ.
Song, đây chính là điểm mà chuỗi (duyên sinh) có thể bị bẻ gãy. Mắc xích quyết định xảy ra ở điểm “thọ”. Mỗi cảm thọ làm phát sinh tâm lý  ưa hoặc ghét (thích hay không thích). Những phản ứng vô thức nhất thời của ưa và ghét này lập tức sinh sôi nảy nở và tăng cường thành tham ái, sân hận, chấp thủ, tạo ra khổ đau trong hiện tại và trong tương lai. Điều này trở thành một thói quen mù quáng khiến ta cứ lập đi lập lại một cách máy móc.
Tuy nhiên, nhờ thực hành thiền Minh sát (Vipassanã bhãvanã), chúng ta phát triển chánh niệm về các cảm thọ (nhận biết mỗi cảm thọ khi chúng khởi lên) và chúng ta cũn phát triển thái độ xả, tức không phản ứng. Chúng ta xem xét cảm thọ một cách khách quan, vô tư, không ưa cũng không ghét nó, không tham, sân hay chấp thủ. Thay vì làm phát sinh những phản ứng mới, mỗi cảm thọ giờ đây chỉ làm sinh khởi trí tuệ hay tuệ giác (pãnnã) hiểu rõ: “Thọ” này là vô thường, chắc chắn phải thay đổi, chắc chắn phải sanh diệt. Chuỗi nhân quả đã bị bẻ gãy, khổ đau đã dừng lại. Không có phản ứng mới của tham hoặc sân, và vì thế, nhân từ đó khổ đau sanh ra cũng không có. Nhân của khổ là nghiệp (kamma), ý hành hay sự phản ứng mù quáng của tham ái và sân hận mà ngôn ngữ Pãli gọi là sankhãra (hành). Khi tâm nhận biết (niệm) cảm thọ và duy trì thái đọ xả, sẽ không có sự phản ứng như vậy, sẽ không có nhân tạo ra khổ. Chúng ta đã dừng lại việc  tạo ra khổ đau cho bản thân chúng ta.
Đức Phật dạy:
Với tuệ giác quán chiếu,
Thấy các hành vô thường,
Khổ đau được xa lìa.
Đây là thanh tịnh đạo. (Pháp cú 277)
Ở đây chữ sankhãra (hành) có một nghĩa rất rộng. Mỗi phản ứng mù quáng của tâm được gọi là hành (sankhãra) nhưng kết quả của hành động ấy, tức quả của nó, cũng gọi là hành (sankhãra), hạt giống thế nào, quả sẽ như vậy. Mọi thứ mà chúng ta gặp trong cuộc đời, trên cơ bản, là kết quả của những ý hành (hành động của ý) của chính chúng ta. Vì thế theo nghĩa rộng nhất, sankhãra (hành) là bất cứ thứ gì có mặt trong thế giới duyên sinh này, bất cứ những gì  đã được tạo ra, đã được hình thành, đã được cấu hợp. Vì vậy, “Phàm những gì được tạo tác đều vô thường”. Bất luận điều gì trong vũ trụ này, dù tâm lý hay vật lý, đều vô thường cả. Khi ta quan sát thực hành thiền Minh sát, thì khổ dau không còn nữa, vì ta đã ngăn lại các nhân của khổ, đó là, ta từ bỏ thói quen tham ái và sân hận. Đây chính là đạo lộ giải thoát.
Toàn bộ nỗ lực là để học cách làm thế nào không phản ứng, làm thế nào để không tạo ra một hành mới. Một cảm thọ xuất hiện, và ưa hoặc ghét bắt đầu. Khoảnh khắc thoáng qua này, nếu chúng ta không kịp chánh niệm (không biết về nó), sẽ lặp đi lặp lại và tăng cường lên thành tham ái và sân hận, trở thành một cảm xúc mãnh liệt đến đọ cuối cùng tràn ngập cả tâm ý thức. Chúng ta bị cuốn hút trong cảm xúc ấy, và mọi sự phán đoán hợp lý của chúng ta bị gạt sang một bên. Kết  quả là chúng ta thấy mình bị mắc vào những lời nói và hành động bất thiện, tự hại mình và hại người khác. Chúng ta tạo ra khổ đau cho chính mình, ngay trong hiện tại và cả trong tương lai, chỉ vì một thoáng phản ứng mù quáng.
Nhưng nếu chúng ta chánh niệm ngay tại điểm ở đây tiến trình của sự phản ứng bắt đầu – nghĩa là, nếu chúng ta chánh niệm ngay chỗ cảm thọ - chúng ta có thể chọn không để cho bất kỳ sự phản ứng nào nảy sanh hay tăng thêm cường độ. Chúng ta quan sát cảm thọ mà không phản ứng, không ưa cũng không ghét nó. Nó sẽ  không có cơ hội để phát triển thành tham hoặc sân, thành cảm xúc mãnh liệt áp đảo chúng ta; nó chỉ đơn giản sinh và diệt. Tâm giữ quân bình, an lạc. Chúng ta an vui ngay hiện tại, và chúng ta có thể nhìn thấy trước sự an vui trong tương lai, vì chúng ta đã không phản ứng.
Khả năng không phản ứng này rất có giá trị. Khi chúng ta chánh niệm về các cảm thọ trong thân, và đồng thời giữ thái độ xả. Trong những khoảnh khắc ấy tâm được giải thoát. Mới đầu tâm giải thoát này có thể chỉ một vài sát na trong lúc hành thiền, thời gian còn lại tâm vẫn bị nhận  chìm trong thói quen cũ của sự phản ứng lại các cảm thọ, chìm trong cái vòng lẩn quẩn cũ của tham, sân và khổ đau. Song với việc thực hành thường xuyên, một vài khoản khắc ngắn ngủi ấy sẽ trở thành nhiều giây, sẽ trở thành nhiều phút, cho tới khi cuối cùng thói quen cũ của phản ứng bị bẻ gãy, và tâm an trú liên tục trong bình yên. Đây là cách làm thế nào để chúng ta có thể chấm dứt việc tạo tác tình trạng bất hạnh cho bản thân chúng ta.
(Theo http://www.quangduc.com/tinhdo/139niemtho4.html)