Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Trình và Đạo Lộ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Trình và Đạo Lộ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

Bảy Giai Ðoạn Thanh Lọc --- Nnarama Mahathera

Con đường thực hành dẫn đến Niết Bàn chia làm bảy giai đoạn, được gọi là Bảy Giai Ðoạn Thanh Lọc (satta visuddhi).
Theo thứ tự, bảy giai đoạn ấy là:
  1. Thanh Lọc Giới Ðức (Sìlavisuddhi, giới tịnh)
  2. Thanh Lọc Tâm (Cittavisuddhi, tâm tịnh)
  3. Thanh Lọc Quan Kiến (Ditthivisuddhi, kiến tịnh)
  4. Thanh Lọc bằng cách Khắc Phục Hoài Nghi (Kankhàvitaranavisuddhi, đoạn nghi tịnh)
  5. Thanh Lọc bằng cách Thấu Hiểu và Nhận Thấy thế nào là "Con Ðường" và thế nào là "Không-Phải-Con-Ðường" (Maggàmagganànadassanavisuddhi, đạo phi đạo tri kiến tịnh)
  6. Thanh Lọc bằng cách Thấu Hiểu và Nhận Thấy Con Ðường (Patipadànànadassanavisuddhi, đạo tri kiến tịnh)
  7. Thanh Lọc bằng cách Thấu Hiểu và Nhận Thấy (Nanadassanavisuddhi, tri kiến tịnh)
Vào lúc chứng ngộ Niết Bàn, tâm trực tiếp liên hệ đến giai đoạn thứ bảy, tri kiến tịnh -- cũng là giai đoạn cuối cùng -- của sự thanh lọc tâm, vốn là tuệ giác Siêu Thế của Con Ðường. Tuy nhiên, không thể trực tiếp thành tựu sự thanh lọc này mà không trải qua sáu giai đoạn trước. Vì bảy giai đoạn của sự Thanh Lọc là một loạt những tuệ giác nhân quả liên quan với nhau, không thể thành đạt giai đoạn thứ bảy trước khi trải qua sáu giai đoạn trước.
Trong Tam Tạng kinh điển, chỉ có bài Rathavinìta Sutta (bài kinh về những Trạm Xe), bài kinh thứ hai mươi bốn của bộ Majjhima Nikàya (Trung A Hàm) đề cập đến Bảy Giai Ðoạn của sự Thanh Lọc. Trong bài Dasuttara Sutta, bài kinh số 34, của bộ Dìgha Nikàya (Trường A Hàm), bảy giai đoạn thanh lọc này nằm trong chín pháp gọi chung là "những yếu tố nhằm thanh lọc" (pàrisuddhi padhàniyanga), hai yếu tố này là thanh lọc trí tuệ và thanh lọc sự giải thoát. Dầu sao, loạt bảy giai đoạn thanh lọc này là phần nòng cốt của quyển sách bách khoa về pháp hành thiền trong Phật Giáo Visuddhimagga (Thanh Tịnh Ðạo) của Ngài Bhadantàcariya Buddhaghosa. Như vậy, loạt bảy giai đoạn này là những nét đại cương ngắn gọn của toàn thể con đường mà một hành giả trải qua trong cuộc hành trình của nội tâm, từ trạng thái bị trói buộc đến giải thoát.
Trong kinh Rathavinìta Sutta, Bảy Giai Ðoạn của sự Thanh Lọc này được trình bày dưới hình thức một cuộc đàm thoại giữa Ðại Ðức Sàriputta (Xá Lợi Phất) và Ðại Ðức Punna Mantàniputta Thera. Những câu hỏi của Ngài Sàriputta được Ngài Punna giải đáp một cách rõ ràng -- tất cả làm sáng tỏ vài điểm nổi bật của giáo thuyết này.
-- Này Sư Huynh, dưới sự hướng dẫn của Ðức Thế Tôn có đời sống thánh thiện không?
-- Bạch Sư Huynh, có.
-- Này Sư Huynh, có phải để thanh lọc giới đức mà ta sống cuộc sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Ðức Thế Tôn chăng?
-- Bạch Sư Huynh, không phải để vậy.
-- Vậy, này Sư Huynh, có phải để thanh lọc tâm mà ta sống cuộc sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Ðức Thế Tôn chăng?
-- Không phải để vậy, bạch Sư Huynh.
-- Vậy, này Sư Huynh, có phải để thanh lọc quan kiến của mình mà ta sống cuộc sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Ðức Thế Tôn chăng?
-- Không phải để vậy, bạch Sư Huynh.
-- Vậy, này Sư Huynh, có phải để khắc phục hoài nghi mà ta sống cuộc sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Ðức Thế Tôn chăng?
-- Không phải để vậy, bạch Sư Huynh.
-- Vậy, này Sư Huynh, có phải để thanh lọc bằng sự thấu hiểu và nhận thấy thế nào là con đường và thế nào là không-phải-con-đường mà ta sống cuộc sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Ðức Thế Tôn chăng?
-- Không phải để vậy, bạch Sư Huynh.
-- Vậy, này Sư Huynh, có phải để thanh lọc bằng sự thấu hiểu và nhận thấy con đường mà cuộc sống thánh thiện được sống dưới sự hướng dẫn của Ðức Thế Tôn chăng?
-- Không phải để vậy, bạch Sư Huynh.
-- Vậy, này Sư Huynh, có phải để thanh lọc bằng cách thấu hiểu và nhận thấy mà cuộc sống thánh thiện được sống dưới sự hướng dẫn của Ðức Thế Tôn chăng?
-- Không phải để vậy, bạch Sư Huynh.
Tóm lược các điểm trên trong câu chuyện, và nhấn mạnh chiều hướng tiêu cực, Ðại Ðức Sàriputta hỏi: "Này Sư Huynh, như vậy thì mục tiêu của đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Ðức Thế Tôn là gì?" Và Ðại Ðức Punna trả lời: "Bạch Sư Huynh, chính là để dập tắt hoàn toàn, không mảy may chấp thủ, mà cuộc sống thánh thiện được sống dưới sự hướng dẫn của Ðức Thế Tôn."
Lời giải đáp này cho thấy rằng chí đến giai đoạn thứ bảy, mức thanh lọc cuối cùng, cũng không được xem là mục tiêu tối hậu của đời sống thánh thiện. Mục tiêu chỉ là dập tắt hoàn toàn, tận diệt tất cả những ô nhiễm, không còn hình thức bám níu nào. Nói cách khác, đó là chứng ngộ Niết Bàn -- chấm dứt trọn vẹn các pháp hữu vi.
Ðể làm sáng tỏ điểm này, Ðức Punna Mantàniputta thuật lại câu chuyện ngụ ngôn về Các Trạm Xe như sau:
"Bạch Sư Huynh, cũng giống như trong lúc Vua Pasenadi xứ Kosala đang ngụ tại Sàvitthi mà có chuyện cần phải đi gấp đến thành Sàketa. Như vậy từ Sàvitthi đến Sàketa người ta sắp xếp sẵn bảy trạm xe. Bạch Sư Huynh, Vua Pasenadi xứ Kosala rời cung điện tại Kosala, lên xe và dùng chiếc xe đầu tiên này đi đến trạm thứ nhất. Nơi đây vua rời chiếc xe thứ nhất, lên chiếc xe thứ nhì và dùng xe này đi đến trạm nhì. Nơi đâu vua rời chiếc xe của trạm nhì, lên một chiếc xe khác để đến trạm ba. Nơi đây vua rời chiếc xe của trạm ba, lên một chiếc khác để đến trạm thứ tư. Nơi đây vua rời chiếc xe của trạm tư, lên một chiếc xe khác để đến trạm năm. Nơi đây vua rời chiếc xe của trạm năm, lên một chiếc xe khác để đến trạm sáu. Nơi đây vua rời chiếc xe của trạm thứ sáu, lên một chiếc xe khác, và xe này sẽ đưa vua đến hoàng cung tại thành Sàketa."
Trong trường hợp của bảy giai đoạn thanh lọc, "làm cho trong sạch" có nghĩa là loại bỏ những yếu tố bất thiện đối nghịch. Thanh Lọc Giới Ðức (giới tịnh) hàm ý là làm cho giới đức trong sạch bằng cách kiêng cữ, không để phạm những lỗi lầm bằng thân, khẩu và trong lối làm ăn sinh sống. Thanh Lọc Tâm (tâm tịnh) là làm cho tâm trong sạch bằng cách gội rửa tham dục, oán ghét, hôn trầm, phóng dật và xung đột hoài nghi không nhất quyết. Thanh Lọc Quan Kiến (kiến tịnh) là làm cho sự nhận thấy của mình trong sạch bằng cách đánh tan những quan kiến sai lầm méo mó. Thanh Lọc bằng cách Khắc Phục Hoài Nghi (đoạn nghi tịnh) là tiến đạt đến trạng thái trong sạch bằng cách chinh phục tất cả mọi hoài nghi về những sự việc trong những kiếp sinh tồn của vòng luân hồi. Thanh Lọc bằng cách Thấu Hiểu và Nhận Thấy thế nào là Con-Ðường và thế nào là Không-Phải-Con-Ðường (đạo, phi đạo, tri kiến tịnh) là trạng thái trong sạch thành đạt bằng cách vượt qua khỏi những tình trạng mê loạn ảo huyền phát sanh trong khi hành thiền, hiểu biết và thấy rõ thế nào là Con-Ðường, và thế nào là Không-Phải-Con-Ðường. Thanh Lọc bằng cách Thấu Hiểu và Nhận Thấy Con Ðường (đạo tri kiến tịnh) là trạng thái trong sạch sau khi đã tạm thời loại trừ những ô nhiễm ngăn trở Con Ðường Hành Thiền. Và cuối cùng, Thanh Lọc bằng cách Thấu Hiểu và Nhận Thấy (tri kiến tịnh) là tình trạng hoàn toàn trong sạch thành đạt bằng cách tận diệt mọi ô nhiễm cùng với những khuynh hướng ngủ ngầm của nó do những Con Ðường Siêu Thế (Thành Ðạo). Tri kiến tịnh bao gồm sự hiểu biết và nhận thấy bốn Con Ðường -- Con Ðường Nhập Lưu (Tu Ðà Hườn Ðạo), Con Ðường Nhất Lai (Tư Ðà Hàm Ðạo), Con Ðường Bất Lai (A Na Hàm Ðạo) và Con Ðường A La Hán (A La Hán Ðạo).




Phụ Bản


Tiếng Gọi Của Ðời Sống Hành Thiền

Giá trị cố hữu của cuộc đời một nhà sư hành thiền quả thật vượt quá mọi lượng định. Trong thế gian có nhiều lối sống kỳ diệu. Nhưng khó tìm được một lối sống nào kỳ diệu hơn cuộc đời của nhà sư hành thiền. Khi suy tưởng như vậy quý vị có lý do để tự tán dương mình đã dấn thân vào cuộc sống này. Ðời sống của nhà sư hành thiền không những chỉ vô cùng quý báu, không thể đánh giá, mà còn tinh khiết và trong sạch. Tất cả những lối sống kỳ diệu khác trên thế gian đều có liên hệ đến ngoại cảnh, có gì liên quan đến sự vật bên ngoài -- với vũ trụ cơ giới. Ðời sống của người hành thiền đàng khác, liên quan đến những cơ giới bên trong -- những "bộ máy" kiểm soát tâm. Ðức Phật là vị hành giả vĩ đại nhất của mọi thời đại. Cuộc sống của nhà sư hành thiền khởi xuất từ nơi Ngài. Một vị Phật thị hiện là hiện tượng vô cùng hy hữu trên thế gian. Không phải tất cả những người nghe Giáo Pháp của Ngài đều thực hành cuộc sống hành thiền; chỉ một ít vị nhiệt thành thực hành. Quý vị hãy cảm nghe sung sướng được kể trong số ít người hữu phúc ấy.
Hãy nghĩ đến những thành quả an lạc mà quý vị thọ hưởng, sau thời gian thực hành Giáo Pháp mà Ðức Phật ban truyền. Nếu, vào một ngày đáng ghi nhớ nào trong đời, do một năng lực tinh thần dũng mãnh thúc giục từ bên trong, quý vị phát tâm muốn xuất gia -- đi từ nhà đến hoàn cảnh không nhà cửa -- quý vị phải luôn luôn ghi nhớ rằng đó là diễn biến có nhiều ý nghĩa nhất trong đời. Quý vị có thể bỏ lại sau lưng cha và mẹ, vợ và con, những thân bằng và quyến thuộc và tài sản, do lòng thúc dục dũng mãnh và ý định xuất gia phát sanh trong khi nghe Giáo Pháp. Trong bất luận trường hợp nào, không nên chùng bước quy hàng. Quý vị có thể tin chắc rằng bước tiến này quả thật thích nghi với loại "xuất gia" lý tưởng được mô tả trong kinh điển.
Bài kinh Sàmannaphala Sutta (Kinh Quả Báo của Sa Môn) trong bộ Dìgha Nikàya (Trường A Hàm) mô tả tinh thần xuất gia thật sự nằm phía sau hành động "xuất gia" với những lời lẽ như sau:
"Giờ đây, một người tại gia cư sĩ hay con một người cư sĩ, hay người nào khác, sanh trưởng trong gia đình này hay gia đình nọ, lắng nghe Giáo Pháp. Và khi nghe Pháp người ấy có đức tin nơi Ðấng Toàn Giác. Trong khi thấm nhuần niềm tin, người ấy suy gẫm: "Ðời sống tại gia quả thật đầy chướng ngại -- một con đường đầy bợn nhơ của khát vọng. " Xuất gia" cũng tựa hồn như thoát đến giữa trời. Người tại gia cư sĩ quả không dễ gì sống đời thánh thiện một cách toàn vẹn, hoàn toàn trong sạch, tuyệt đối vô nhiễm. Như vậy hãy để tôi cạo râu tóc, đắp lên mình bộ y cà sa và đi từ nhà đến trạng thái không nhà cửa." Rồi không bao lâu sau, bỏ lại sau lưng tài sản sự nghiệp dầu lớn hay nhỏ, bỏ lại sau lưng họ hàng quyến thuộc, dầu đông đảo hay ít, người ấy cạo sạch râu tóc, khoác lên mình tắm y vàng nghệ và rời nhà ra đi, đến trạng thái không nhà cửa. (D.I, từ trang 62 trở đi).
Với loại "xuất gia" này bạn bước chân vào một môi trường thích hợp nhất cho công phu trau giồi tâm. Tuy nhiên, cũng như bất luận mạo hiểm nào khác, nơi đây cũng vậy, bạn phải vô cùng thận trọng đề phòng những hiểm họa có thể xảy đến. Có bốn giai đoạn trong đời của nhà sư hành thiền:
  1. Cơ hội "xuất gia", ra đi từ cuộc sống tại gia;
  2. Giai đoạn sơ khởi của cuộc đời hành thiền, lúc bắt đầu rèn luyện tâm, trong cảnh cô đơn, với sự hỗ trợ của đề mục hành thiền;
  3. Gặp những hiểm họa trong lúc hành thiền đơn độc một mình;
  4. Giai đoạn hoan hỷ với những thành quả do pháp hành tạo nên.
Ðể diễn tả những giai đoạn trên ta có thể trước tiên so sánh hoàn cảnh "xuất gia" của người hành thiền với người hoàn tất công trình khai thông một con đường xuyên qua khu rừng rậm đầy chông gai. Ðời sống tại gia trong thực tế là một khu rừng đầy gai chướng. Mặc dầu vậy, ta cũng có thể rong rừng phá bụi để mở đường, nhưng phải đối đầu với những hiểm họa như thú dữ và rắn độc. Người hành thiền cũng vậy, trong giai đoạn sơ khởi của công trình hành thiền cũng phải đương đầu với nhiều tư tưởng vọng động, nguy hiểm không khác nào thú rừng hung rợn và rắn rít. Nhưng nhờ kiên trì cố gắng, hành giả thành công khắc phục mọi hiểm nguy. Hiện tượng này cũng ví như người kia tận lực gia công mở một con đường hữu dụng xuyên qua vùng đất hiểm nguy. Ðến giai đoạn này hành giả ghi công trận chiến thắng những tư tưởng vọng động một cách vẻ vang. Giờ đây thế gian, cùng với các vị trời, ngưỡng nhìn lên hành giả như một con người có nhiều giá trị và bắt đầu tôn kính lễ lạy. Nhưng rồi tự mãn với thành công sơ khởi, hành giả sa lún trong đám sình lầy. Bởi vì lợi lộc, danh vọng và những lời tán dương cũng ví như sình lầy. Vài vị hành giả lún trong sình bị ngập đến cỗ, không thể thoát thân. Vài người khác bị lún kẹt một lúc nhưng cố gắng vùng vẫy và thoát nạn. Cũng có những người kịp thời nhìn thấy hiểm họa và tận lực cố tránh.
Như vậy đời sống người hành thiền thật vô cùng quý báu nhưng cũng vô cùng trắc trở gay go, cần phải hết sức cẩn trọng. Hy vọng rằng các điểm ghi nhận trên sẽ cống hiến bạn những dữ kiện để suy tư, những món ăn tinh thần để nhuần nhã suy gẫm, nhằm tiếp tục công phu hành thiền của bạn với tâm hồn mới mẻ khỏe khoắn và năng lực tinh thần dũng mãnh cường tráng.
Ðời sống hành thiền này phải được lèo lái một cách nhiệt thành và thận trọng. Nếu năng lực tinh thần đã được khởi đầu trong chiều hướng chân chính mà nửa chừng phải rơi vào lầm lạc thì nó sẽ mất trớn. Như vậy quý vị hãy quyết tâm dũng mãnh nhiệt thành và tăng trưởng năng lực cho ý chí, cắt đứt mọi cơ hội có thể làm đình trệ hay gián đoạn pháp hành.

Trích: "Bảy Giai Ðoạn Thanh Lọc và Tuệ Minh Sát", Nnarama Mahathera,
Phạm Kim Khánh chuyển dịch, Trung Tâm Narada, Seattle, Hoa Kỳ
Tham khảo thêm:

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

Phương pháp thiền tại trường thiền Pa-Auk (Song ngữ Việt - Anh)

SƠ LƯỢC VỀ THIỀN SAMATHA & VIPASSANA TẠI TRƯỜNG THIỀN PA-AUK
Samatha and Vipassanā are the meditation methods introduced in the system of Pāli doctrines that the Buddha and His Noble disciples propagated in many Scriptures and which were explained in detail by Venerable Buddhaghosa in The Path of Purification (Visuddhi Magga).
Samatha (thiền chỉ) và Vipassanā (thiền minh sát) là các phương pháp thiền được giới thiệu trong hệ thống giáo lý Pali, do Đức Phật và những tôn giả của Ngài truyền lại qua các kinh điển và đã được giải thích chi tiết bởi Tỳ Khưu Buddhaghosa trong “Con đường tịnh hóa” (Thanh Tịnh Đạo; Visuddhi Magga).
Samatha or Samatha Bhāvanā is the method of tranquility meditation to develop the Right Concentration  (Sammā Samādhi) leading to the one-pointed mind called “the concentraion” (Samādhi).

Samatha hay Samatha Bhāvanā là phương pháp thiền tĩnh lặng (an chỉ) để phát triển chánh định (Sammà Samàdhi) nhằm đạt được nhất tâm gọi là Định (Samàdhi).
or Vipassanā Bhāvanā is the method of “insight meditation” to develop the wisdom (Paññā) to cut off defilements to go to the Noble Path leading to a calm and peaceful state, Nibbāna.
Hay Vipassanā Bhāvanā là phương pháp “thiền minh sát” để phát triển Tuệ (Paññā) nhằm đoạn các triền cái và bước lên đạo lộ cao quý dẫn dắt tới miền an lạc gọi là Niết Bàn (Nibbāna).
The Buddha always advised his disciples to practice step by step and to accomplish three Trainings: Morality (Sīla), Concentration (Samādhi), and Insight (Paññā).
Đức Phật luôn luôn khuyên đệ tử của Ngài thực tập tuần tự từng bước để thành tựu 3 giáo huấn: Giới (Sīla), Định (Samādhi), Tuệ (Paññā).
This is the process leading to the ultimate purpose -  to liberate from suffering and defilements – to attain Nibbāna.
Đây là  tiến trình đưa tới chỗ cứu cánh – giải thoát khỏi khổ não và uế trược – để thành tựu Niết Bàn.
Thus, before meditation practice we should undertake the morality. After achieving the morality practice, we can go to Samatha Meditation leading to the Tranquility (Samādhi)and next practice the Insight meditation (Vipassanā). In this way we fulfill the three Trainings: Morality (Sīla), Concentration (Samādhi), and Insight (Paññā). One by one, they follow each other.
Cho nên trước khi thực hành thiền, chúng ta cần phải giữ giới. Sau khi đã thành tựu thực hành về giới, chúng ta có thể chuyển tiếp hành thiền Samatha để đạt được Định (Samādhi) và kế đó là thực hành  Minh Sát Tuệ (Vipassanā). Với cách thức này chúng ta thực hành trọn vẹn 3 giáo huấn: Giới (Sīla), Định (Samādhi), Tuệ (Paññā). Lần lượt, đề mục này nối tiếp đề mục kia.
The non-doing of any evil,
The performance of what’s skillful,
The cleansing of one’s own mind;
This is the teaching of the Awakened. (Dhm. 183)
Không làm điều tà hạnh,
Thiện xảo của pháp hành,
Thanh lọc tự bản tâm;
Lời dạy của bậc Giác. (Dhm. 183)
“The non-doing of any evil” means to keep the morality which is the wish to avoid evil actions. Such a practice will lead to the lack of regret which is the special and good merit of morality.
“Không làm điều tà hạnh” có nghĩa phải  giữ giới luật, chính là mong để tránh được các hành động bất thiện. Nếu thực hành được như vậy sẽ làm đoạn đi sự luyến ái, đó là phẩm hạnh của giới.
“The performance of what’s skillful” means we fulfill the tranquility practice. This is the second stage to lead to the good concentration which allows us to attain the supernatural powers and build the firm foundation for the insight practice.
“Thiện xảo của pháp hành” có nghĩa chúng ta phải thực hành thiền định trọn vẹn. Đây là bước thứ hai để dẫn tới chánh định, nó cho phép chúng ta thành tựu những năng lực siêu nhiên và làm nền tảng vững chắc cho việc thực hành nội quán.
“The cleansing of one’s own mind” means the practice leading to the good insight which brings the calm mind which cannot be shaken by pleasant or unpleasant things
“Thanh lọc tự bản tâm” có nghĩa việc thực hành làm cho nội tại cải hóa để đạt được tâm thanh tịnh. Khi đó sẽ không bị tác động bởi những việc làm cho dễ chịu hoặc khó chịu.
As a single slab of rock
Won’t budge in the wind
So the wise are not moved
By praise, By blame. (Dhm. 81)
Cũng như một phiến đá
Gió không thể chuyển lay
Thiện trí không mảy may
Dù lời khen, lời trách. (Dhm. 81)
It is said that the process of three Training Practices means you are sharpening the wisdom sword on the concentration stone which is founded on morality. When the wisdom sword becomes sharp it can cut the defilements off at their roots.  In the scriptures “Foundation of Mindfulness” (Majjhānaima Nikaya Satipaṭṭhāna Sutta; Dīgha Nikāya-Mahāsatipaṭṭhāna Sutta), the Buddha taught that “this is the direct path for the purification of beings, for the surmounting of sorrow and lamentation, for the disappearance of pain and grief, for the attainment of the true way, for the realization of Nibbāna – namely, the four foundations of mindfulness.” as follows:
Có thể cho rằng tiến trình thực hành thực hành 3 sự giáo huấn (Giới, Định, Tuệ) giống việc xem mình là một lưỡi gươm trí tuệ đang được mài trên phiến đá chánh định được đặt trên nền giới luật. Khi lưỡi gươm trở nên bén nhọn, nó có thể cắt đứt sự uế trược tận gốc ngọn. Trong kinh “Tứ Niệm Xứ” (Majjhānaima Nikaya Satipaṭṭhāna Sutta; Dīgha Nikāya-Mahāsatipaṭṭhāna Sutta), Đức Phật dạy rằng: “Đây là con đường trực tiếp để tịnh hóa tâm chúng sinh, để vượt qua sầu muộn và bi ai, để xóa tan nỗi đau và phiền não, để thành tựu chánh đạo và chứng ngộ Niết Bàn. Đó là con đường Bốn Niệm Xứ.” Như sau:
The Mindfulness of Body (Kāyānupassanāsatipaṭṭhāna)
The Mindfulness of Feelings (Vedanānupassanāsatipaṭṭhāna)
The Mindfulness of Mind (Cittānupassanāsatipaṭṭhāna)
The Mindfulness of Mental phenomena (Dhammānupassanāsatipaṭṭhāna)
Chánh niệm Thân (Kāyānupassanāsatipaṭṭhāna)
Chánh niệm Thọ (Vedanānupassanāsatipaṭṭhāna)
Chánh niệm Tâm (Cittānupassanāsatipaṭṭhāna)
Chánh niệm Pháp (Dhammānupassanāsatipaṭṭhāna)
A. Samatha Meditation  (Samatha Bhāvanā):
I. Nimitta and four kinds of material Jhānas (Rūpa Jhāna)
There are 40 Samatha meditation objects in which 30 objects lead to the “absorbtion concentration” and 10 objects lead to the “access concentration” as follows::
10 Kasina- circle
10 Asubha- repulsiveness
10 Anussati- recollection
4 Brahma Vihāra-Sublime abodes
4  Arūpa Jhāna- immaterial Jhāna
1  Āhāre-patikūla-saññā -
1 Catu-dhātu-vavatthāna- the four elements meditation
A. Thiền Samatha (Samatha Bhāvanā):
I. Nimitta và 4 loại Thiền Hữu Sắc (Rūpa Jhāna)

Có 40 đề mục thiền Samatha. Trong đó 30 đề mục dẫn tới “an định” và 10 đề mục dẫn tới “cận định” như sau:
10 đề mục hình tròn (Kasina)
10 đề mục kinh tởm (Asubha)
10 đề mục tùy niệm (Anussati)
4 đề mục phạm trú (Brahma Vihāra)
4 đề mục thiền vô sắc (Arūpa Jhāna)
1 đề mục tưởng vật thực bất tịnh (Āhāre-patikūla-saññā)
1 đề mục phân tích tứ đại (Catu-dhātu-vavatthāna)
The meditation methods at Pa Auk start from the mindfulness of body or from Ānāpānasati, mindfulness-of-breathing. If the meditator cannot go from the mindfulness of breathing he will be instructed to practice the four elements meditation. However, mindfulness of breathing will lead to the absorption concentration (Appanā) and the four element meditation only leads to the access concentration (Upacāra).
Phương pháp thiền tại trường thiền Pa Auk bắt đầu từ việc chánh niệm thân hoặc từ chánh niệm hơi thở (Ānāpānasati). Nếu thiền sinh không thể bắt đầu bằng cách chánh niệm hơi thở, vị đó sẽ được hướng dẫn đề mục phân tích tứ đại. Tuy nhiên, chánh niệm hơi thở sẽ dẫn tới an chỉ định (Appanā)  còn phân tích tứ đại chỉ dẫn tới cận định (Upacāra).
The meditator who starts from mindfulness-of-breathing will focus the mind on the breath object until Nimitta (the light/sign) appears. Nimitta consists of:
Những thiền sinh bắt đầu bằng cách chánh niệm hơi thở sẽ chú tâm vào đối tượng hơi thở cho đến khi Nimitta (định tướng) xuất hiện. Nimitta bao gồm:
  • Parikamma Nimitta: Preparatory light/sign.

  • Uggaha Nimitta: Learning or taking up light/sign.

  • Paṭibhāga Nimitta: Counterpart light/sign.

  • Parikamma Nimitta: Ánh sáng (hoặc dấu hiệu) sơ tướng.

  • Uggaha Nimitta: Ánh sáng (hoặc dấu hiệu) học tướng.

  • Paṭibhāga Nimitta: Ánh sáng (hoặc dấu hiệu) tương ưng tướng.

When the mind stays continuously on the Counterpart light/sign then the meditator gradually removes the five hindrances: sensuous desire (Kāmacchanda), Ill will (Vyāpāda), sloth and torpor (Thīna-middha), restlessness and remorse (Uddhacca-kukkucca) sceptical doubt (Vicikicchā). At the time when the meditator can discern the five Jhāna factors (Jhānaṅga) on the Bhavanga (the mind door), such as: applied thought (Vitakka), sustained thought (Vicāra), joy/bliss (Pīti), happiness (Sukha), one pointedness (Ekaggatā). “Having abandoned these five hindrances, imperfections of the mind that weaken wisdom, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, he enters upon and abides in the first Jhāna, which is accompanied by applied and sustained thought, with rapture and pleasure born of seclusion”.
Khi tâm an trụ nhiệt thành trên quang tương ưng tướng thì thiền giả dần dần diệt trừ được 5 triền cái: tham dục (Kāmacchanda), sân (Vyāpāda), hôn trầm thụy miên (Thīna-middha), phóng dật (Uddhacca-kukkucca) và hoài nghi (Vicikicchā). Khi ấy thiền giả có thể nhận ra 5 yếu tố của thiền na trên hữu phần (Bhavanga –cánh cửa tâm hay luồng hộ kiếp), bao gồm: tầm (Vitakka), tứ (Vicāra), hỷ (Pīti), lạc (Sukha), nhất tâm (Ekaggatā).  “Sau khi loại trừ được 5 triền cái, các món không hoàn thiện của tâm làm cho tuệ suy kém, hoàn toàn viễn ly các tham dục, đoạn trừ các trạng thái bất thiện. Vị ấy tiến tới và trú vào Sơ thiền, một trạng thái gồm có tầm và tứ, cùng với hỷ và lạc sinh ra từ sự viễn ly ấy.”
Removing applied thought and sustained thought, the meditator discerns three Jhāna factors which include joy/bliss, happiness and one pointedness and will enter the second Jhāna state. “With the stilling of applied and sustained thought, he enters upon and abides in the second Jhāna, which has self-confidence and singleness of mind without applied and sustained thought, with rapture and pleasure born of concentration.“
Rời bỏ trạng thái tầm và tứ, thiền giả sẽ nhận diện được 3 yếu tố thiền na bao gồm hỷ, lạc và nhất tâm và sẽ nhập vào Nhị thiền. “Với sự tịch bặt của tầm và tứ, vị ấy tiến tới và trú vào Nhị thiền, một trạng thái tâm tự tại và đơn lập không có tầm và tứ, với hỷ và lạc phát sinh từ trạng thái định.”
The meditator will enter the third Jhāna state after removing joy/bliss and discern happiness and one pointedness. “With the fading away as well of rapture, he abides in equanimity, and mindful and fully aware, still feeling pleasure with the body, he enters upon and abides in the third Jhāna, on account of which noble one announces: ‘He has a pleasant abiding who has equanimity and is mindful’. “
Vị ấy sẽ nhập vào tam thiền sau khi rời bỏ hỷ và nhận thức được lạc và nhất tâm. “Với lắng dần của hỉ lạc, vị ấy an trú vào xả, chánh niệm và hoàn toàn tỉnh giác, vẫn còn cảm lạc trên thân, vị ấy tiến tới và trú vào Tam thiền, với sự kiện này, thánh gỉả nói rằng: “Vị ấy có một trú xứ an lạc, xả và chánh niệm.”
On continuing removing happiness, the meditator will enter the fourth Jhāna state when he discerns the two Jhāna factors; Equanimity (Upekkhā)and One pointedness on the Bhavaºga (the mind door). “With the abandoning of pleasure and pain, and with the previous disappearance of joy and grief, he enters upon and abides in the fourth Jhāna, which has neither-pain-nor-pleasure and purity of mindfulness due to equanimity.“1
Tiếp tục rời bỏ lạc, thiền giả sẽ nhập vào trạng thái Tứ thiền khi vị ấy nhận thức 2 yếu tố thiền: xả (Upekkhā) và nhất tâm trên hữu phần. “Với việc lìa bỏ an lạc và đau khổ, và với sự biến mất của hỷ và  sầu, vị ấy tiến tới và trú vào Tứ thiền. Trạng thái này không khổ cũng không lạc, đạt được thanh tĩnh của chánh niệm nhờ vào xả.”
II.  Thirty two parts of the body (Koṭṭhāsa)
Then the meditator will use the light of the four Jhāna states to practice the 32 parts of the body.
  • 20 parts of the body in the earth element (Paṭhavī):

1. Hair (Kesā)   11. Heart (Hadayaṃ)
2. Body Hair (Lomā)  12. Liver (Yakanaṃ)
3. Nails (Nakhā)   13. Membranes (Kilomakaṃ)
4. Teeth (Dantā)   14. Spleen (Pihakaṃ)

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

Bốn Đạo Lộ tu tập (Four ways to Arahanship)

Đạo Lộ tu tập của Đạo Phật nguyên thủy, gồm tam học Giới –Định- Tuệ, Tứ Diệu Đế và Tám Thánh Đạo. Tuy nhiên qua hơn 2.500 năm, về chi tiết của một phương pháp đúng để thực hiện được trọn ven Đạo lộ thì hiện vẫn còn tranh cãi. Hiện tại vấn đề thứ tự trong cách thực hành Định và Tuệ vẫn còn đang đặt ra. Nếu không có Định thì Tuệ phát sinh sẽ không sâu và không đủ, đạo lộ tu tập sẽ không hoàn tất. Ngược lại nếu có Định mà tiếp theo đó không thể viên mãn được Tuệ, thì đạo lộ cũng sẽ không hoàn tất.
Thật là may mắn, vấn đề Đạo Lộ tu tập cũng đã được giải đáp và lưu truyền lại theo kinh điển.
1. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, chương bốn pháp, bài kinh 170 : Kinh gắn liền cột chặt, Ngài Ananda đã đã giảng dạy chi tiết về khả năng có nhiều Đạo Lộ khởi lên tùy theo sự khác biệt về năng lực tâm, cũng như khuynh hướng phát triển tâm của từng mỗi cá nhân.
2. Trong phần Chỉ Tịnh và Minh Sát của Phân Tích đạo (Patisambhidamagga) cũng có bàn về thứ tự tu tập gữa Định và Tuệ.
Như vậy, mọi tranh cãi về một phương pháp tu tập đúng có thể được căn cứ vào những tài liệu dưới đây:

-ooOoo-
Tăng Chi Bộ Kinh IV.170

Kinh Gắn Liền Cột Chặt

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Một thời, Tôn giả Ananda sống ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Tại đấy, Tôn giả Ananda gọi các Tỳ-khưu:
Thưa các Hiền giả Tỳ-khưu.
Thưa vâng, Hiền giả. Các Tỳ-khưu ấy vâng đáp Tôn giả.
Tôn giả Ananda nói như sau: Tỳ-khưu hay Tỳ-khưu-ni nào tuyên bố trước mặt tôi rằng, đã chứng được quả A-la-hán, tất cả vị ấy được đầy đủ bốn chi phần này, hoặc là một trong bốn chi phần này.
Thế nào là bốn?

- Ở đây, này chư Hiền, Tỳ-khưu tu tập quán, có chỉ đi trước; do vị ấy tu tập quán có chỉ đi trước, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.
·        Lại nữa, này chư Hiền, vị Tỳ-khưu tu tập chỉ, có quán đi trước. Do vị ấy tu tập chỉ có quán đi trước, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.
·        Lại nữa, này chư Hiền, Tỳ-khưu tu tập cả hai chỉ quán gắn liền với nhau. Do vị ấy tu tập cả hai chỉ quán gắn liền với nhau, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.
·        Lại nữa, này chư Hiền, Tỳ-khưu với các dao động đối với các pháp được hoàn toàn dứt sạch. Này các Hiền giả, đây là thời khi tâm của vị ấy an trú, an tọa, nhất tâm, định tĩnh. Với vị ấy, con đường sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.
Này chư Hiền, Tỳ-khưu hay Tỳ-khưu-ni nào tuyên bố trước mặt tôi rằng, đã chứng được quả A-la-hán, tất cả vị ấy được đầy đủ bốn chi phần này, hoặc là một trong bốn chi phần này.
-ooOoo-
AN 4.170

Yuganaddha Sutta: In Tandem

translated from the Pali by
Thanissaro Bhikkhu
On one occasion Ven. Ananda was staying in Kosambi, at Ghosita’s monastery. There he addressed the monks, “Friends!”
“Yes, friend,” the monks responded.
Ven. Ananda said: “Friends, whoever — monk or nun — declares the attainment of arahantship in my presence, they all do it by means of one or another of four paths. Which four?

”There is the case where a monk has developed insight preceded by tranquillity. As he develops insight preceded by tranquillity, the path is born. He follows that path, develops it, pursues it. As he follows the path, developing it & pursuing it — his fetters are abandoned, his obsessions destroyed.
”Then there is the case where a monk has developed tranquillity preceded by insight. As he develops tranquillity preceded by insight, the path is born. He follows that path, develops it, pursues it. As he follows the path, developing it & pursuing it — his fetters are abandoned, his obsessions destroyed.
”Then there is the case where a monk has developed tranquillity in tandem with insight. As he develops tranquillity in tandem with insight, the path is born. He follows that path, develops it, pursues it. As he follows the path, developing it & pursuing it — his fetters are abandoned, his obsessions destroyed.
”Then there is the case where a monk’s mind has its restlessness concerning the Dhamma [Comm: the corruptions of insight] well under control. There comes a time when his mind grows steady inwardly, settles down, and becomes unified & concentrated. In him the path is born. He follows that path, develops it, pursues it. As he follows the path, developing it & pursuing it — his fetters are abandoned, his obsessions destroyed.
”Whoever — monk or nun — declares the attainment of arahantship in my presence, they all do it by means of one or another of these four pat
ooOoo-
Samatha và Vipassana (Chỉ Tịnh và Minh Sát)
Tỳ Khưu Indacanda
Trích dịch từ Patisambhidamagga-Vô Ngại Giải Đạo, Tiểu Bộ Kinh
( tháng04/2006)
* * *
Tôi được nghe như vầy: Một thời, đại đức Ānanda ngụ tại Kosambī, tu viện Ghosita. Chính ở tại nơi ấy, đại đức Ānanda đã bảo các vị tỳ khưu rằng: - Này các đại đức tỳ khưu. - Thưa đại đức. Các vị tỳ khưu ấy đã đáp lại đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda đã nói điều này: - Này các đại đức, bất cứ vị tỳ khưu hoặc tỳ khưu ni nào tuyên bố về phẩm vị A-la-hán trong sự hiện diện của tôi là do toàn bộ bốn đạo lộ hoặc do một đạo lộ nào đó của bốn đạo lộ ấy? Do bốn (đạo lộ) gì?
- Này các đại đức, ở đây vị tỳ khưu tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước. Khi vị ấy đang tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước, đạo lộ được hình thành (cho vị ấy). Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy. Khi vị ấy đang rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy).
Này các đại đức, hơn nữa vị tỳ khưu tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước. Khi vị ấy đang tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước, đạo lộ được hình thành (cho vị ấy). Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy. Khi vị ấy đang rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy).
Này các đại đức, hơn nữa vị tỳ khưu tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung. Khi vị ấy đang tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung, đạo lộ được hình thành (cho vị ấy). Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy. Khi vị ấy đang rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy).
Này các đại đức, hơn nữa (có trường hợp) tâm của vị tỳ khưu bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp. Này các đại đức, lúc tâm ấy trụ lại, tập trung lại, được chuyên nhất, được định ở chính nội phần, lúc ấy là thời điểm. Đạo lộ được hình thành cho vị ấy. Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy. Khi vị ấy đang rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy).
Này các đại đức, bất cứ vị tỳ khưu hoặc tỳ khưu ni nào tuyên bố về phẩm vị A-la-hán trong sự hiện diện của tôi là do toàn bộ bốn đạo lộ này hoặc do một đạo lộ nào đó của bốn đạo lộ ấy.
* * * Tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước là (có ý nghĩa) thế nào? Trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm do tác động của sự thoát ly là định. Liên quan đến các pháp được sanh lên ở định ấy, với ý nghĩa của sự quán xét về vô thường là minh sát, với ý nghĩa của sự quán xét về khổ não là minh sát, với ý nghĩa của sự quán xét về vô ngã là minh sát. Như thế là chỉ tịnh trước, minh sát sau. Vì thế được gọi là “Tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước.”
Tu tập
: Có bốn sự tu tập: sự tu tập các pháp đã được sanh lên tại nơi ấy với sự không vượt trội là yếu lý, sự tu tập các quyền với nhất vị là yếu lý, sự tu tập với việc khởi động sự tinh tấn (thích hợp) nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn là yếu lý, sự tu tập với sự rèn luyện là yếu lý.
Đạo lộ được hình thành
: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? Chánh kiến với sự nhận thức là yếu lý, là đạo lộ được hình thành. Chánh tư duy với sự gắn chặt (tâm vào cảnh) là yếu lý, là đạo lộ được hình thành. Chánh ngữ với sự gìn giữ là yếu lý, là đạo lộ được hình thành. Chánh nghiệp với nguồn sanh khởi là yếu lý, là đạo lộ được hình thành. Chánh mạng với sự trong sạch là yếu lý, là đạo lộ được hình thành. Chánh cần với sự ra sức là yếu lý, là đạo lộ được hình thành. Chánh niệm với sự thiết lập là yếu lý, là đạo lộ được hình thành. Chánh định với sự không tản mạn là yếu lý, là đạo lộ được hình thành. Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế.
Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy
: Rèn luyện là (có ý nghĩa) thế nào? Trong khi hướng tâm, vị ấy rèn luyện. Trong khi nhận biết, vị ấy rèn luyện. Trong khi nhận thấy, vị ấy rèn luyện. Trong khi quán xét lại, vị ấy rèn luyện. Trong khi khẳng định tâm, vị ấy rèn luyện. Trong khi hướng đến đức tin, vị ấy rèn luyện. Trong khi ra sức tinh tấn, vị ấy rèn luyện. Trong khi thiết lập niệm, vị ấy rèn luyện. Trong khi tập trung tâm, vị ấy rèn luyện. Trong khi nhận biết bởi tuệ, vị ấy rèn luyện. Trong khi biết rõ điều cần được biết rõ, vị ấy rèn luyện. Trong khi biết toàn diện điều cần được biết toàn diện, vị ấy rèn luyện. Trong khi dứt bỏ điều cần được dứt bỏ, vị ấy rèn luyện. Trong khi tác chứng điều cần được tác chứng, vị ấy rèn luyện. Rèn luyện là (có ý nghĩa) như thế.
Tu tập
: Tu tập là (có ý nghĩa) thế nào? Trong khi hướng tâm, vị ấy tu tập. Trong khi nhận biết, vị ấy tu tập. Trong khi nhận thấy, vị ấy tu tập. Trong khi quán xét lại, vị ấy tu tập. Trong khi khẳng định tâm, vị ấy tu tập. Trong khi hướng đến đức tin, vị ấy tu tập. Trong khi ra sức tinh tấn, vị ấy tu tập. Trong khi thiết lập niệm, vị ấy tu tập. Trong khi tập trung tâm, vị ấy tu tập. Trong khi nhận biết bởi tuệ, vị ấy tu tập. Trong khi biết rõ điều cần được biết rõ, vị ấy tu tập. Trong khi biết toàn diện điều cần được biết toàn diện, vị ấy tu tập. Trong khi dứt bỏ điều cần được dứt bỏ, vị ấy tu tập. Trong khi tác chứng điều cần được tác chứng, vị ấy tu tập. Tu tập là (có ý nghĩa) như thế. Tu tập là (có ý nghĩa) như thế.
Làm cho sung mãn
: Làm cho sung mãn là (có ý nghĩa) thế nào? Trong khi hướng tâm, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi nhận biết, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi nhận thấy, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi quán xét lại, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi khẳng định tâm, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi hướng đến đức tin, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi ra sức tinh tấn, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi thiết lập niệm, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi tập trung tâm, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi nhận biết bởi tuệ, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi biết rõ điều cần được biết rõ, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi biết toàn diện điều cần được biết toàn diện, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi dứt bỏ điều cần được dứt bỏ, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi tác chứng điều cần được tác chứng, vị ấy làm cho sung mãn. Làm cho sung mãn là (có ý nghĩa) như thế.
Khi vị ấy đang rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy)
: Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) thế nào?

Do Đạo Nhập Lưu, ba sự ràng buộc này được dứt bỏ là thân kiến, hoài nghi, sự cố chấp vào giới và nghi thức, hai ngủ ngầm này được chấm dứt là kiến ngủ ngầm, hoài nghi ngủ ngầm. Do Đạo Nhất Lai, hai sự ràng buộc này được dứt bỏ là sự ràng buộc của ái dục, sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, hai ngủ ngầm này được chấm dứt là ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển.
Do Đạo Bất Lai, hai sự ràng buộc này được dứt bỏ là sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, hai ngủ ngầm này được chấm dứt là ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế.
Do Đạo A-la-hán, năm sự ràng buộc này được dứt bỏ là ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ba ngủ ngầm này được chấm dứt là ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
Sự chuyên nhất và sự không tản mạn của tâm do tác động của sự không sân độc là định. Sự chuyên nhất và sự không tản mạn của tâm do tác động của sự nghĩ tưởng về ánh sáng là định. ...(như trên)...
Sự chuyên nhất và sự không tản mạn của tâm do tác động của hơi thở vào có sự quán xét về từ bỏ do tác động của hơi thở ra có sự quán xét về từ bỏ là định. Liên quan đến các pháp được sanh lên ở định ấy, với ý nghĩa của sự quán xét về vô thường là minh sát, với ý nghĩa của sự quán xét về khổ não là minh sát, với ý nghĩa của sự quán xét về vô ngã là minh sát. Như thế là chỉ tịnh trước, minh sát sau. Vì thế được gọi là “Tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước.”
Tu tập
: Có bốn sự tu tập: sự tu tập các pháp đã được sanh lên tại nơi ấy với sự không vượt trội là yếu lý, sự tu tập các quyền với nhất vị là yếu lý, sự tu tập với việc khởi động sự tinh tấn (thích hợp) nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn là yếu lý, sự tu tập với sự rèn luyện là yếu lý.
Đạo lộ được hình thành
: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? Chánh kiến với sự nhận thức là yếu lý, là đạo lộ được hình thành. Chánh tư duy với sự gắn chặt (tâm vào cảnh) là yếu lý, là đạo lộ được hình thành. ...(như trên)... Chánh định với sự không tản mạn là yếu lý, là đạo lộ được hình thành. Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế.
Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy
: Rèn luyện là (có ý nghĩa) thế nào? Trong khi hướng tâm, vị ấy rèn luyện. Trong khi nhận biết, vị ấy rèn luyện. ...(như trên)... Trong khi tác chứng điều cần được tác chứng, vị ấy rèn luyện. Rèn luyện là (có ý nghĩa) như thế.
Tu tập
: Tu tập là (có ý nghĩa) thế nào? Trong khi hướng tâm, vị ấy tu tập. Trong khi nhận biết, vị ấy tu tập. ...(như trên)... Trong khi tác chứng điều cần được tác chứng, vị ấy tu tập. Tu tập là (có ý nghĩa) như thế. Làm cho sung mãn: Làm cho sung mãn là (có ý nghĩa) thế nào? Trong khi hướng tâm, vị ấy làm cho sung mãn. Trong khi nhận biết, vị ấy làm cho sung mãn. ...(như trên)... Trong khi tác chứng điều cần được tác chứng, vị ấy làm cho sung mãn. Làm cho sung mãn là (có ý nghĩa) như thế.
Khi vị ấy đang rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy)
: Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) thế nào? Do Đạo Nhập Lưu, ba sự ràng buộc này được dứt bỏ là thân kiến, hoài nghi, sự cố chấp vào giới và nghi thức, hai ngủ ngầm này được chấm dứt là kiến ngủ ngầm, hoài nghi ngủ ngầm. Do Đạo Nhất Lai, hai sự ràng buộc này được dứt bỏ là sự ràng buộc của ái dục, sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, hai ngủ ngầm này được chấm dứt là ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển. Do Đạo Bất Lai, hai sự ràng buộc này được dứt bỏ là sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, hai ngủ ngầm này được chấm dứt là ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế. Do Đạo A-la-hán, năm sự ràng buộc này được dứt bỏ là ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ba ngủ ngầm này được chấm dứt là ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế. Tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước là (có ý nghĩa) như thế.
* Tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước là (có ý nghĩa) thế nào? Với ý nghĩa của sự quán xét về vô thường là minh sát, với ý nghĩa của sự quán xét về khổ não là minh sát, với ý nghĩa của sự quán xét về vô ngã là minh sát. Do Niết Bàn là đối tượng của các pháp được sanh lên ở minh sát ấy, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định. Như thế là minh sát trước, chỉ tịnh sau. Vì thế được gọi là “Tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước.”
Tu tập
: Có bốn sự tu tập: ...(như trên)... sự tu tập với sự rèn luyện là yếu lý.
Đạo lộ được hình thành
: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? ...(như trên)... Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. ...(như trên)... Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế. Với ý nghĩa của sự quán xét sắc là vô thường là minh sát, với ý nghĩa của sự quán xét sắc là khổ não là minh sát, với ý nghĩa của sự quán xét sắc là vô ngã là minh sát. Do Niết Bàn là đối tượng của các pháp được sanh lên ở minh sát ấy, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định. Như thế là minh sát trước, chỉ tịnh sau. Vì thế được gọi là “Tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước.”
Tu tập
: Có bốn sự tu tập: ...(như trên)... sự tu tập với sự rèn luyện là yếu lý.
Đạo lộ được hình thành
: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? ...(như trên)... Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. ...(như trên)... Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế. Với ý nghĩa của sự quán xét thọ ...(như trên)... tưởng ...(như trên)... các hành ...(như trên)... thức ...(như trên)... mắt ...(như trên)... lão tử là vô thường là minh sát, ...(như trên)... lão tử là khổ não ...(như trên)... lão tử là vô ngã là minh sát. Do Niết Bàn là đối tượng của các pháp được sanh lên ở minh sát ấy, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định. Như thế là minh sát trước, chỉ tịnh sau. Vì thế được gọi là “Tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước.”
Tu tập
: Có bốn sự tu tập: ...(như trên)... sự tu tập với sự rèn luyện là yếu lý.
Đạo lộ được hình thành
: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? ...(như trên)... Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. ...(như trên)... Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế. Tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước là (có ý nghĩa) như thế.
* Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung là (có ý nghĩa) thế nào? Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo 16 biểu hiện: theo ý nghĩa của cảnh (đối tượng), theo ý nghĩa của hành xứ, theo ý nghĩa dứt bỏ, theo ý nghĩa buông bỏ, theo ý nghĩa thoát ra, theo ý nghĩa ly khai, theo ý nghĩa an tịnh, theo ý nghĩa cao quý, theo ý nghĩa được giải thoát, theo ý nghĩa của vô lậu, theo ý nghĩa vượt qua, theo ý nghĩa của vô tướng, theo ý nghĩa của vô nguyện, theo ý nghĩa của không tánh, theo ý nghĩa của nhất vị, theo ý nghĩa không vượt trội, theo ý nghĩa kết hợp chung. Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của cảnh (đối tượng) là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là cảnh (đối tượng). Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét có sự diệt tận là cảnh (đối tượng). Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa của cảnh (đối tượng) là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của cảnh (đối tượng).”
Tu tập
: Có bốn sự tu tập: ...(như trên)... sự tu tập với sự rèn luyện là yếu lý.
Đạo lộ được hình thành
: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? ...(như trên)... Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. ...(như trên)... Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.

Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của cảnh (đối tượng) là (có ý nghĩa) như thế. Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của hành xứ là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa của hành xứ là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của hành xứ.”
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa dứt bỏ là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ các phiền não đồng sanh với phóng dật vả (đang dứt bỏ) các uẩn, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ các phiền não đồng sanh với vô minh và (đang dứt bỏ) các uẩn, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa dứt bỏ là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa dứt bỏ.”
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa buông bỏ là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang buông bỏ các phiền não đồng sanh với phóng dật vả (đang buông bỏ) các uẩn, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang buông bỏ các phiền não đồng sanh với vô minh và (đang buông bỏ) các uẩn, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa buông bỏ là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa buông bỏ.”
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa thoát ra là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang thoát ra khỏi các phiền não đồng sanh với phóng dật vả (đang thoát ra khỏi) các uẩn, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang thoát ra khỏi các phiền não đồng sanh với vô minh và (đang thoát ra khỏi) các uẩn, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa thoát ra là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa thoát ra.”
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa ly khai là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang ly khai khỏi các phiền não đồng sanh với phóng dật vả (đang ly khai khỏi) các uẩn, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang ly khai khỏi các phiền não đồng sanh với vô minh và (đang ly khai khỏi) các uẩn, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa ly khai là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa ly khai.”
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa an tịnh là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định, an tịnh, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét là an tịnh có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa của an tịnh là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa an tịnh.”
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa cao quý là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định, cao quý, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét là cao quý có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa của cao quý là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa cao quý.”
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa được giải thoát là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định, được giải thoát khỏi dục lậu, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét là được giải thoát khỏi các vô minh lậu, có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, sự ly tham ái khỏi các tham ái là sự giải thoát của tâm, sự ly tham ái khỏi vô minh là sự giải thoát của tuệ, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa của được giải thoát là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa được giải thoát.”
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của vô lậu là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định, vô lậu đối với dục lậu, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét là vô lậu đối với vô minh lậu, có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa của vô lậu là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của vô lậu.”
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa vượt qua là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang vượt qua các phiền não đồng sanh với phóng dật vả (đang vượt qua) các uẩn, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang vượt qua các phiền não đồng sanh với vô minh và (đang vượt qua) các uẩn, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa vượt qua là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa vượt qua.”
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của vô tướng là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định vô tướng đối với tất cả các hiện tướng, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét là vô tướng đối với tất cả các hiện tướng, có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa của vô tướng là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của vô tướng.”
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của vô nguyện là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định vô nguyện đối với tất cả các nguyện ước, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét là vô nguyện đối với tất cả các nguyện ước, có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa của vô nguyện là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của vô nguyện.”
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của không tánh là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định không tánh đối với tất cả các cố chấp, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa của sự quán xét là không tánh đối với tất cả các cố chấp, có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa của không tánh là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của không tánh.”
Tu tập: Có bốn sự tu tập: ...(như trên)... sự tu tập với sự rèn luyện là yếu lý.
Đạo lộ được hình thành
: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? ...(như trên)... Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế. Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của không tánh là (có ý nghĩa) như thế. Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo 16 biểu hiện là (có ý nghĩa) thế. Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung là (có ý nghĩa) thế.
* Tâm của vị tỳ khưu bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp là (có ý nghĩa) thế nào?

·        Đối với vị đang tác ý vô thường, có ánh sáng sanh lên. (Hành giả) hướng tâm đến ánh sáng rằng: “Ánh sáng là pháp.” Sự tản mạn do việc ấy là phóng dật. Do sự phóng dật ấy, (hành giả), có tâm bị khuấy động, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là vô thường, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là khổ não, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là vô ngã. Vì thế, được nói rằng: “Tâm bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp. Lúc tâm ấy trụ lại, tập trung lại, được chuyên nhất, được định ở chính nội phần, lúc ấy là thời điểm. Đạo lộ được hình thành cho vị ấy.” Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? ...(như trên)... Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
·        Đối với vị đang tác ý vô thường, có trí sanh lên, có hỷ sanh lên, có tịnh sanh lên, có lạc sanh lên, có sự cương quyết sanh lên, có sự ra sức sanh lên, có sự thiết lập sanh lên, có xả sanh lên, có ước muốn sanh lên. (Hành giả) hướng tâm đến sự ước muốn rằng: “Ước muốn là pháp.” Sự tản mạn do việc ấy là phóng dật. Do sự phóng dật ấy, (hành giả), có tâm bị khuấy động, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là vô thường, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là khổ não, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là vô ngã. Vì thế, được nói rằng: “Tâm bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp. Lúc tâm ấy trụ lại, tập trung lại, được chuyên nhất, được định ở chính nội phần, lúc ấy là thời điểm. Đạo lộ được hình thành cho vị ấy: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? ...(như trên)... Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế. Đối với vị đang tác ý khổ não, ...(như trên)...
·        Đối với vị đang tác ý vô ngã, có ánh sáng sanh lên, ...(như trên)... có trí sanh lên, có hỷ sanh lên, có tịnh sanh lên, có lạc sanh lên, có sự cương quyết sanh lên, có sự ra sức sanh lên, có sự thiết lập sanh lên, có xả sanh lên, có ước muốn sanh lên. (Hành giả) hướng tâm đến sự ước muốn rằng: “Ước muốn là pháp.” Sự tản mạn do việc ấy là phóng dật. Do sự phóng dật ấy, (hành giả), có tâm bị khuấy động, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là vô ngã, về sự thiết lập là vô thường, về sự thiết lập là khổ não. Vì thế, được nói rằng: “Tâm bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp. ...(như trên)... Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
·        Đối với vị đang tác ý sắc là vô thường ...(như trên)... Đối với vị đang tác ý sắc là khổ não, ...(như trên)... Đối với vị đang tác ý sắc là vô ngã, ...(như trên)... thọ ...(như trên)... tưởng ...(như trên)... các hành ...(như trên)... thức ...(như trên)... mắt ...(như trên)...
·        Đối với vị đang tác ý lão tử là vô thường, ...(như trên)...
·        Đối với vị đang tác ý lão tử là khổ não, ...(như trên)...
·        Đối với vị đang tác ý lão tử là vô ngã, có ánh sáng sanh lên, ...(như trên)... có trí sanh lên, có hỷ sanh lên, có tịnh sanh lên, có lạc sanh lên, có sự cương quyết sanh lên, có sự ra sức sanh lên, có sự thiết lập sanh lên, có xả sanh lên, có ước muốn sanh lên. (Hành giả) hướng tâm đến sự ước muốn rằng: “Ước muốn là pháp.” Sự tản mạn do việc ấy là phóng dật. Do sự phóng dật ấy, (hành giả), có tâm bị khuấy động, không nhận biết đúng theo thực thể về lão tử có sự thiết lập là vô thường, không nhận biết đúng theo thực thể về lão tử có sự thiết lập là khổ não, không nhận biết đúng theo thực thể về lão tử có sự thiết lập là vô ngã. Vì thế, được nói rằng: “Tâm bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp. Lúc tâm ấy trụ lại, tập trung lại, được chuyên nhất, được định ở chính nội phần, lúc ấy là thời điểm. Đạo lộ được hình thành cho vị ấy.” Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? ...(như trên)... Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.

Rung động về ánh sáng,

về tuệ, và về hỷ,
về tịnh, và về lạc,
bởi chúng tâm xao động,
rung động về cương quyết,
ra sức, và thiết lập,
do hướng tâm đến xả,
và ước muốn về xả.
Vị nào huân tập tuệ
về mười trường hợp này
biết phóng dật do pháp
không sa vào lầm lẫn.
Bị tản mạn, ô nhiễm,
tu tập tâm đình chỉ;
tản mạn, không ô nhiễm,
tu tập bị thối thất;
tản mạn, không ô nhiễm,
tu tập không thối thất;
và khi không tản mạn
tâm không bị ô nhiễm
tu tâm không đình chỉ.
Với bốn trường hợp này,
hiểu rõ mười trường hợp
thâu hẹp và khuấy động
vì tản mạn của tâm.

Phạm Doãn sưu tầm và tổng hợp

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

Con Đường Thiền Chỉ Và Thiền Quán -Tác giả: Henepola Gunaratana - Dịch giả: Pháp Thông

1.THIỀN (JHÀNA) TRONG NỘI DUNG KINH ĐIỂN - Henepola Gunaratana

2. NHỮNG CHUẨN BỊ TRƯỚC KHI HÀNH THIỀN - Henepola Gunaratana

3. VƯỢT QUA CÁC TRIỀN CÁI - Henepola Gunaratana

4. SƠ THIỀN VÀ CÁC THIỀN CHI - Henepola Gunaratana

5. Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền - Henepola 

6. VƯỢT QUA TỨ THIỀN - Henepola Gunaratana

7. CON ĐƯỜNG TU TẬP TUỆ QUÁN - Henepola Gunaratana

8. THIỀN (Jhàna) VÀ CÁC THÁNH CHỨNG - Henepola Gunaratana

 Nội dung:

Thiền Chỉ Thiền Quán - THIỀN (JHÀNA) TRONG NỘI DUNG KINH ĐIỂN - Henepola Gunaratana

  •  Tầm Quan Trọng Của Thiền
    • Truy Nguyên Gốc Từ Jhāna
    • Jhāna Và Samadhi
    • Jhāna Và Các Thành Phần Của Sự Giác Ngộ 

Thiền Chỉ Thiền Quán - NHỮNG CHUẨN BỊ TRƯỚC KHI HÀNH THIỀN - Henepola Gunaratana

  • Nền Tảng Giới
    • Cắt Đứt Những Chướng Ngại
    • Đến Gần Bậc Thiện Tri Thức
    • Các Đề Mục Thiền Chỉ (Định)
    • Chọn Một Trú Xứ 

Thiền Chỉ Thiền Quán - VƯỢT QUA CÁC TRIỀN CÁI - Henepola Gunaratana

  •  Năm Triền Cái
  • Viễn Ly Các Triền Cái
  • Con Đường Tu Tập Theo Tuần Tự
  • Phương Pháp Chánh Niệm
  • Sự Thủ Tiêu Các Triền Cái
  • Những Lợi Ích Trong Việc Đoạn Trừ Triền Cái 

Thiền Chỉ Thiền Quán - SƠ THIỀN VÀ CÁC THIỀN CHI - Henepola Gunaratana

  •  Tầm Tứ Hỷ  Lạc Nhất Tâm
  • Mô Tả Tổng Quát Sơ Thiền
    • Tiến Trình Tâm Thiền
    • Hoàn Thiện Sơ Thiền

Thiền Chỉ Thiền Quán - Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền - Henepola Gunaratana

  •  Nhị Thiền Và Sự Chứng Đắc Nhị Thiền Nội Tịnh Nhất Tâm
  • Những Nhận Xét Chung Về Nhị Thiền Tam Thiền - Sự Chứng Đắc Tam Thiền
  • Chánh Niệm Và Tỉnh Giác
  • Tứ Thiền - Sự Chứng Thiền
  • Những Nhận Xét Kết Luận  

Thiền Chỉ Thiền Quán - VƯỢT QUA TỨ THIỀN - Henepola Gunaratana

  • Tứ Thiền Vô Sắc
  • Không Vô Biên Xứ
  • Thức Vô Biên Xứ
  • Vô Sở Hữu Xứ
  • Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ
  • Những Nhận Xét Chung Về Thiền Vô Sắc
  • Các Loại Thắng Trí Khác
  • Những Điều Kiện Cần Thiết Cho Thắng Trí Lục Thông
  • Các Loại Thắng Trí Khác
    Thiền Và Tái Sanh  

Thiền Chỉ Thiền Quán - CON ĐƯỜNG TU TẬP TUỆ QUÁN - Henepola Gunaratana

    • Bản Chất Của Tuệ
    • Nhị Thừa (Hai Cỗ Xe)
    • Các Nhiệm Vụ Của Thiền
    • Thất Thanh Tịnh
    • Sơ Đạo Và Sơ Quả  

Thiền Chỉ Thiền Quán - THIỀN (Jhàna) VÀ CÁC THÁNH CHỨNG - Henepola Gunaratana

  • Thiền Siêu Thế
    • Mức Thiền Của Đạo Và Quả
    • Thánh Quả Định Và Diệt Tận Định
    • Bảy Loại Thánh Nhân
    • Jhāna Và Bậc A-La-Hán
    • Kết Luận
LỜI GIỚI THIỆU (1)
          “Con đường Thiền Chỉ Thiền Quán ” đã được Ngài Guṇaratana trình bày một cách khúc chiết, rõ ràng có thể giúp cho những ai muốn nghiên cứu tường tận chỗ đồng dị, cộng biệt, sinh khắc của hai pháp môn này, hầu tránh tình trạng nhầm lẫn, võ đoán và phiến diện trong lý thuyết cũng như trong thể nghiệm con đường giác ngộ giải thoát .
              Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ  hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định mà tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật”  (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chí, có mục đích khác với định nhà Phật) và hành thiền tuệ lại có kết quả của định, rồi tưởng lầm là đã chứng được các bậc tuệ quán.
         Một vài phái thiền chủ trương loại hẳn tứ thiền bát định ra khỏi con đường tuệ giác. Điều này có thể đúng với một số người, nhưng đó không phải là định luật tất yếu và phổ quát nên không nhất thiết phù hợp với mọi căn cơ trình độ của hành giả trên đường giác ngộ.
        Chủ trương duy tu thiền tuệ có thể rút ngắn hành trình tu tập với những người có sẵn túc duyên, nhưng với người chưa đủ những yếu tố Ba-la-mật khác, chưa cân bằng với các căn tín, tấn, niệm, định, chưa có sự hỗ trơ thích đáng của bảy giác chi v.v… thì đến một mức độ nhất định nào đó, hành giả sẽ bị đình trệ không thể nào tiến triển được nữa. Từ đó sanh ra chán nản, mất tự tin hoặc sinh tâm nghi ngờ giáo pháp, hoá ra không bằng một người do tu thiền một cách đúng hướng mà phát tuệ một cách tự nhiên.
        Chính vì vậy mà dù rằng vị càn tuệ không cần tới bát định, cũng có thể đạt được mục đích tối hậu. Đức Phật đã xác nhận vị câu phần giải thoát vẫn ưu thắng hơn về nhiều mặt trên con đường tự giác, giác tha.
       Để đi sâu vào những trình tự tu tập định tuệ, xin mời quý vị nghiên cứu kỹ lưỡng những điều đã được trình bày một cách mạch lạc và đầy đủ trong tập sách “Con đường Thiền chỉ và Thiền Quán” mà Đại Đức Pháp Thông đã dịch rất cẩn thận và trung thực này.
Tổ Đình Bửu Long ngày 04/03/2004
                                                          Tỳ Khưu Viên Minh


LỜI GIỚI THIỆU (2)
            “Chỉ Quán Đạo” hay “Con đường Thiền Chỉ và Thiền Quán” là tập sách Thiền được biên soạn kỹ lưỡng, dịch thuật cẩn thận, rất xứng với cái tên của tập sách nầy .
          Tập sách thiền “Chỉ Quán Đạo” như là một cẩm nang (khi hành giả bị bế tắc, thì dở sách nầy sẽ tìm thấy lối thoát…), như một la bàn (cứ nhìn vào sách thấy rõ vật thực của triền cái thì tránh, vật thực của thất giác chi thì hành là đúng), như đôi tay để làm việc.
          Nếu gặp được tập sách thiền “Chỉ Quán Đạo” là như gặp một minh sư điểm đạo, bởi tập “Chỉ Quán Đạo” nầy y cứ theo Phật ngôn rất chuẩn xác, và cũng nương theo chú giải nên rất dể hiểu.
         Những công thức thiền quán chính Đức Phật dạy, có thứ lớp tuần tự của mỗi nhân quả nầy đưa đến nhân quả khác, như cách liên châu luận: Nhờ thân cận bậc chân nhân nên được nghe diệu pháp; nhờ được nghe diệu pháp nên có đức tin; nhờ có đức tin nên có như lý tác ý; nhờ có như lý tác ý nên có chánh niệm tỉnh giác; nhờ có chánh niệm tỉnh giác nên có sự thu thúc các căn; nhờ có thu thúc các căn nên ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được trong sạch;  nhờ tam nghiệp thanh tịnh nên thắng tri năm triền cái; nhờ thắng tri năm triền cái nên minh sinh khởi; do minh sanh nên vô minh diệt; do vô minh diệt thì hành diệt; do hành diệt thì thức diệt; do thức diệt thì danh sắc diệt; do danh sắc diệt thì lục nhập diệt; do lục nhập diệt thì xúc diệt; do xúc diệt thì thọ diệt; do thọ diệt thì ái diệt; do ái diệt thì thủ diệt; do thủ diệt thì hữu diệt; do hữu diệt thì sanh diệt; do sanh diệt thì già, đau chết (của sắc), ưu, bi, khổ, não, sầu, ai (của danh) cũng diệt. Như vậy là chấm dứt toàn bộ khổ uẩn.
            Nhưng khởi đầu của công thức thiền quán chính là nương tựa bậc thiện hữu (kalyānimitta) nên Đức Phật tuyên bố:  “Toàn bộ đời sống phạm hạnh này là thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.” Thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du ở đây chính là vị đạo sư (vị thầy dạy đạo) mà  cuốn sách thiền “Chỉ Quán Đạo” này là vị thiền sư (Sư là thư năng ngôn,   thư là sư bất năng ngôn) của chúng ta vậy .
            Tập sách thiền “Chỉ Quán Đạo” đối với tôi là tập thứ hai (tập thứ nhất là “Đoạn trừ lậu hoặc”) trong số dịch phẩm của Đại Đức Pháp Thông, mà tôi rất vui mừng ưa thích, nên trân trọng giới thiệu đến chư Tăng, Phật tử trong và ngoài nước, nên thỉnh làm “cuốn sách đầu giường” cho việc tu tập thiền Chỉ Quán.
                                      Bửu Đức Tự , ngày 14/03/2004
                                                         Tỳ khưu Giác Chánh

LỜI NGƯỜI DỊCH
            Về cơ bản, lời dạy của Đức Phật là con đường đưa đến sự diệt khổ. Trọng tâm của con đường này là việc hành thiền. Như vậy, thiền có thể được xem như trái tim của Phật Giáo ứng dụng, các giai đoạn chuẩn bị của đạo lộ đều dẫn đến đó, và cũng từ đó các giai đoạn chứng đắc cao hơn khác được thành tựu. Một trong những phương diện quan trọng nhất của thiền Phật giáo mà chúng ta bắt gặp rất thường xuyên trong kinh điển Nguyên Thuỷ là hệ thống các thiền chứng, gọi theo Pāli là Jhānas. Các thiền chứng hay Jhāna đã từng là phương tiện góp phần làm nên sự giác ngộ của Đức Phật, và sau đó nhập vào trình tự tu tập được Ngài thiết lập cho hành đệ tử. Chúng xuất hiện ở giai đoạn đầu của đạo lộ chuẩn bị đến các tuệ giác cao hơn, rồi một lần nữa trong sự kết hợp trực tiếp với tuệ giải thoát, và ngay cả ở giai đoạn cuối, các thiền chứng vẫn được xem như một thành tựu tinh thần của con người đã giải thoát hoàn toàn. Do đó một hiểu biết về thiền hết sức là cần thiết.
            Thực ra thiền là một lĩnh vực vô cùng thâm sâu, huyền diệu và bất khả tư nghì. Ngoại trừ Đức Phật với trí lực “Tri chư thiền giải thoát tam muội”� hay “như thật trí của Đức Như Lai hiểu rõ sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất ly của thiền, giải thoát, định và nhập định” ra, không ai có đủ thẩm quyền để nói về thiền một cách thấu đáo và tường tận được. Chính vì lý do đó mà “The Path of Serenity and Insight” (Con đường Thiền Chỉ và Thiền Quán) có mặt như một sự tổng hợp toàn diện và đầy đủ nhất các nguồn Kinh điển và Chú giải liên quan đến Thiền và diển đạt lại bằng phương pháp luận thích hợp nhất với thời hiện đại. Hoà thượng Thiền sư Henepola Guṇaratana sanh năm 1927 tại Tích Lan, xuất gia năm 13 tuổi, hiện đang hướng dẫn những khoá thiền lớn tại Hoa Kỳ và Canada. Cuốn sách đã đem lại ánh sáng hiểu biết cho rất nhiều người, nhất là những hành giả đang lúng túng giữa thiền chỉ và thiền quán hay những người thường xem nhẹ giá trị của định trong thiền minh sát.
           Thấy được những lợi ích trên, chúng tôi cố gắng chuyển dịch tác phẩm ra Việt ngữ, để cùng chia sẻ với mọi người, mong rằng nó sẽ đem lại những lợi ích thiết thực nhất cho những ai được đọc, cũng như làm phong phú thêm nền thiền học Nam truyền hiện tại.
         Cuối cùng xin cảm niệm công đức đóng góp của những tấm lòng cao thượng :
         - Sư cô Liễu Tánh Ni viện Viên Không, Phật tử Như Pháp, Nguyên Đài đã thực hiện vi tính bản thảo.
        - Gia đình Phật tử Hoàng Sơn - Kim Loan đã thiết kế  bìa, xin giấy phép và  liên hệ nhà in để phát hành cuốn sách nầy.
 Cầu mong tất cả được an vui,  tấn hoá trên bước đường tu tập giải thoát.
                                 Viên Không, Năm Bính Tuất 2006
 Dịch giả: Dhamma Vidū


� Jhānādisankilesadiñaṇa – Tri chư thiền giải thoát tam muội lực – một trong mười Như Lai Lực .