Hiển thị các bài đăng có nhãn z Bí mật Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn z Bí mật Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Thái Lan: Wat Khunaram và nhục thân bất hoại của ngài Loung Pordaeng

Wat Khunaram (chùa Khunaram) tọa lạc tại phía Tây của Hua Thanon và Tây Nam bãi biển Lamai, ở đảo Koh Samui. Mặc dù Wat Khunaram không phải là một trong những ngôi chùa đẹp và hùng vĩ của Thái Lan, nhưng là nơi đáng để mọi người đến hành hương, chiêm bái vì ở đấy có thờ nhục thân bất hoại của một vị tăng sĩ, vị ấy chính là ngài Loung Pordaeng.




Nhục thân bất hoại của ngài Loung Pordaeng tại chùa Khunaram

Ngài Loung Pordaeng được sinh ra trong một gia đình quý tộc tại vùng Koh Samui vào năm 1894 với tên gọi là Dang Piyasilo. Giống như bao nhiêu người nam Phật tử khác ở Thái Lan, vừa bước qua tuổi 20, Dang Piyasilo đã xuất gia tu học trong vòng 2 năm, sau đó trở lại cuộc sống đời thường và kết hôn với một người con gái cùng quê. Dang Piyasilo đã có một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc và có được 6 người con. Sau này, khi các con khôn lớn, Dang Piyasilo đã xuất gia trở lại, năm ấy Dang Piyasilo được 50 tuổi, và phát nguyện cống hiến phần thời gian còn lại của cuộc đời mình cho Phật pháp. Lúc này ngài được đặt pháp danh là Phra Kru Samathakittikhun. Sau một thời gian ở Bangkok để học thiền và học giáo pháp, ngài Phra Kru Samathakittikhun đã trở lại Koh Samui và chuyên tâm thực hành thiền định trong hang động. Sau đó thì ngài trở về Wat Khunaram, đảm nhiệm chức vị trụ trì của ngôi chùa.

Ngài rất giỏi về thiền tập và giáo pháp, cho nên kể từ khi ngài trụ trì Wat Khunaram, rất nhiều người đã đến với ngài để cầu học, và ngài đã có rất nhiều đệ tử. Khi ngài bước sang tuổi 79, ngài biết ngài sắp phải từ giả cõi đời, cho nên ngài gọi các để tử đến và dặn rằng: Sau khi ngài qua đời, nếu như nhục thân của ngài bị phân hủy thì hãy đem đi hỏa thiêu. Còn nếu như nhục thân của ngài không bị phân hủy thì hãy để nhục thân của ngài trong một lồng kính và thờ tại Wat Khunaram để các thế hệ sau nhìn vào nhục thân của ngài mà tăng thêm lòng tin và chuyên tâm thực hành giáo pháp của Phật.



Chùa Khunaram tại đảo Ko Samui, Thái Lan

Trong tuần cuối cùng trước khi ngài Loung Pordaeng từ giả cõi đời, ngài ngưng tất cả mọi sự nói năng, ăn uống, chuyên tâm hành thiền và nhập vào trong thái chánh định cho đến khi ngừng thở. Và ngài đã ra đi trong tư thế thiền tọa. Vâng theo lời ngài chỉ dạy trước lúc qua đời, sau một thời gian tổ chức tang lễ, nhận thấy nhục thân của ngài không hề bị phân hủy, các để tử của ngài đã giữ nhục thân của ngài nguyên trạng trong tư thế thiền tọa và làm một cái lồng kính, đặt nhục thân của ngài vào đấy để phụng thờ. Như vậy là ngài Loung Pordaeng đã viên tịch ở tuổi 79, năm ấy là năm 1973. Gần 40 năm trôi qua, nhục thân của ngài vẫn bất hoại với thời gian, chỉ có đôi mắt của ngài do nhẫn cầu bị khô nên đã bị lọt sâu vào bên trong và chư tăng đã dùng kính râm đeo lên cho nhục thân của ngài để che đi đôi mắt bị lõm.


Nhục thân bất hoại của ngài Loung Pordaeng tại chùa Khunaram

Giờ đây, khi đến thăm Wat Khunaram, khách hành hương, Phật tử vẫn được chiêm bái nhục thân của ngài. Nhục thân của ngài vẫn ngự tại đấy trong tư thế thiền tọa như lúc ban đầu.

Thường thì sau khi chết, thân xác của con người nhanh chóng bị phân hủy ở trong môi trường nóng và ẩm thấp. Tuy nhiên, đâu đó vẫn tồn tại một vài nhục thân bất hoại sau khi chết, và điều này thường chỉ xảy ra đối với các bậc tu hành. Đối với một số người thì cho rằng đây là một phép mầu. Những người khác thì cho rằng, với lối sống ít tiêu thụ thực phẩm nên sự trao đổi chất diễn ra thấp dẫn đến giảm bớt nhu cầu về oxygen, cộng với các kỹ thuật thiền định của ngài Loung Pordaeng là lời giải thích cho việc nhục nhân của ngài có thể giữ nguyên tư thế thiền tọa và bất hoại với thời gian.

Đối với người dân Thái Lan nói riêng và người Phật tử nói chúng, mọi người rất kính trọng nhục thân của bậc chân tu, được chiêm bái nhục thân của các vị là một diễm phúc, là phước báu lớn. Và họ quan niệm rằng, chết là một cơ hội tốt để được tái sinh vào kiếp sau và có một đời sống tốt lành hơn.

Kể từ khi nhục thân của ngài Loung Pordaeng được tôn thờ tại Wat Khunaram thì khách hành hương và Phật tử trong và ngoài nước đến viếng chùa và chiêm bái nhục thân của ngài ngày càng đông. Đặc biệt là từ khi đảo Ko Samui được khai thác và phát triển mạnh về du lịch, thu hút đông đảo du khách phương Tây đến du lịch, thì Wat Khunaram càng trở thành một điểm đến hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách đến viếng thăm. Có người đến viếng chùa vì kính ngưỡng và muốn được chiêm bái nhục thân của ngài, có người thì đến thăm vì tính tò mò. Hình ảnh nhục thân bất hoại của ngài Wat Khunaram đem đến cho mọi người một cái nhìn sâu sắc về đạo Phật và văn hóa Thái Lan.

Theo:  Báo Giác Ngộ

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013

Bí mật của hơi thở - Bhante Henepola Gunaratana

Tối nay, tôi sẽ trình bày về một sự việc rất đơn giản và thực tế, và tuy vậy rất ít người quan tâm đến nó. Tôi muốn nói về sự bí mật của hơi thở, về sự thật ẩn mình trong hơi thở. Mặc dù chúng ta thở suốt cả đời mình, chẳng mấy ai trong số chúng ta quan tâm nhiều đến hơi thở, để có thể khám phá sự thật mà hơi thở có thể hiển lộ ra.



Chúng ta thường nói đến sự quan trọng của việc chú tâm đến hơi thở trong thiền tập. Nếu chúng ta làm như vậy, chúng ta sẽ hiểu được điều gì? Đầu tiên chúng ta có thể nhận thấy rằng hơi thở luôn đến và đi. Kế tiếp, chúng ta có thể nhận thấy rằng đôi khi hơi thở thay đổi, chẳng hạn như ngắn, dài, nông, hoặc sâu. Trừ những điều đó ra, ít ai trong số chúng ta đi sâu vào sự hiểu biết hay quan sát hơi thở một cách chi tiết. Tối nay tôi muốn có một cái nhìn sâu hơn để lưu ý một vài điều mà có thể trước đây chúng ta đã bỏ qua, không quan tâm tới. Chúng ta có thể đã quán chiếu những khía cạnh sâu hơn của hơi thở, nhưng chúng ta không thấy được những điều này do chúng ta đã không chú ý đến chúng. Đức Phật dạy, “ Tất cả mọi hiện tượng chỉ hiện hữu với chúng ta chỉ khi ta quan tâm, lưu ý đến chúng… Chú ý sẽ làm hiển lộ những bí ẩn chưa được phơi bày”.
Sự thật trọn vẹn
Tôi tin rằng chúng ta có thể tìm thấy sự thật trọn vẹn của khổ trong hơi thở. Cho dẫu các bạn không thực tập gì khác, quan sát hơi thở tự thân nó cũng đủ làm cho các bạn nhận rõ được bản chất của khổ. Các bạn có thể hỏi: “Làm sao được ? Làm sao có thể thấy được khổ chỉ qua một việc đơn giản và tự động như thở được chứ?”
Chúng ta hãy nhìn sâu hơn. Để bắt đầu, tôi muốn các bạn ngừng thở trong 10 phút! Tôi nghĩ rằng không một ai có thể làm được điều đó. Tôi muốn lưu ý các bạn, chúng ta hãy cùng xem xét tiến trình thở một cách chi tiết hơn.
Khi các bạn thở vào và thở ra, đơn giản chỉ cần chú tâm hoàn toàn vào hơi thở. Các bạn có nhận thấy rằng khi thở vào các bạn đang kinh nghiệm một sự thỏa mãn - một sự thỏa mãn rất vi tế chăng? Việc gì đang xảy ra? Nếu phổi không có không khí, chúng ta sẽ trở nên bồn chồn, lo lắng. Thông điệp bồn chồn, lo lắng này sẽ đi đến não. Các dây thần kinh đối giao cảm ngay lập tức gửi thông điệp đến phổi yêu cầu chúng kéo không khí vào càng sớm càng tốt.
Nhưng tại sao sự bồn chồn, lo lắng này lại xuất hiện? Bởi vì chúng ta có một khát khao mạnh mẽ được sống. Sự khát khao đó không nằm tại một chỗ nào đó cố định trong não hoặc trong thân thể của chúng ta, mà nó lan tỏa và thấm vào toàn thân và tâm của chúng ta. Mọi tế bào trong cơ thể chúng ta đều sở hữu sự khao khát này. Mọi tế bào đều khao khát được sống, và chúng hợp tác với nhau để gửi thông điệp này đến phổi và não, bởi vì mọi tế bào đều cần đến dưỡng khí. Khi dưỡng khí không còn có sẵn, các tế bào trở nên bị quấy động. Sự quấy động này được truyền đến não và sau đó đến phổi: Hãy thở đi!
Vì vậy các bạn có thể thấy rằng sự khao khát này đã được xây dựng bên trong tự thân của chúng ta. Ngay vào thời điểm vừa được sinh ra, chúng ta đã có sự khao khát này. Khi chúng ta nhìn một đứa trẻ sơ sinh, có thể chúng ta thường hay nói, “ Nhìn đứa bé dễ thương này. Thật ngây thơ làm sao!” Mặc dù chúng quả là ngây thơ, song trong chúng cũng đã có rất nhiều tham ái. Chúng không thể diễn tả sự tham ái này bằng lời, nhưng tiếng khóc của chúng làm được việc này, và lôi kéo sự chú ý của mọi người. Mặc dù đứa bé sơ sinh không có kế hoạch để tham, nhưng khi nó cảm thấy có một nhu cầu nào đó, đói chẳng hạn, ham muốn sinh khởi. Ngay cả trong những đứa bé sơ sinh nhỏ xíu, cơ thể của chúng có hàng tỷ tỷ tế bào, và tất cả những tế bào này đều muốn được cho ăn. Chúng ta được sinh ra với sự khao khát này, với sự ham muốn này. Đó là lý do tại sao Đức Phật dạy,” Hiện hữu là khổ. Sinh ra là khổ”.
Vì vậy ngay cả việc thở của chúng ta có thể thấy là nó bị lệ thuộc vào sự ham muốn được sống và bị lòng tham muốn này dẫn dắt– hết sức vi tế. Vì vậy khi chúng ta thở vào, chúng ta đáp ứng được sự khát khao vi tế này. Nó hầu như là một sự khát khao từ trong vô thức. Trái lại, nếu các bạn không thở, có thể chỉ trong hai phút thôi, các bạn sẽ thấy bối rối, lo lắng và ngay cả sợ nữa. Rồi sau đó bạn sẽ cảm thấy lo lắng, một sự lo lắng có ý thức. Sự lo âu này – cho dẫu là vô thức hay có ý thức đều là dukkha. Nó là khổ.
Cái khổ vi tế
Khổ có nhiều mức độ khác nhau. Sự lo lắng một cách vô thức về việc thở là một mức độ hết sức vi tế của khổ. Chúng ta không luôn luôn kinh nghiệm những nỗi khổ lớn, chẳng hạn như đau ốm, bệnh tật, để có thể hiểu nó. Nhưng mỗi chúng ta có thể kinh nghiệm sư lo âu vi tế liên quan đến việc thở của chúng ta. Khi chúng ta thở vào, sự lo âu đó biến mất. Sau đó chúng ta sẽ kinh nghiệm một sự thỏa mãn và thoải mái trong một chừng mực nào đó, cùng với cảm giác an toàn và ngay cả một lượng hạnh phúc nào đó đi kèm theo. Không phải một lượng lớn hạnh phúc, nhưng chúng ta cảm thấy một có một chút thỏa mãn, tỷ lệ với mức độ lo âu vi tế mà chúng ta đã cảm nhận một cách vô thức, trước khi thở vào.
Sau đó, sau khi chúng ta đã thở vào trong chánh niệm, chúng ta thấy rằng, khi phổi đã đầy dưỡng khí, điều này đã tạo cho chúng ta sự thỏa mãn, bây giờ lại đem đến sự không thỏa mãn cho chúng ta. Tại sao vậy nhỉ? Khi phổi đã đầy không khí, chúng ta không thể nín thở lâu , ngay cả chỉ trong một phút, tối đa là hai phút. Khi chúng ta nín thở, chúng ta cảm thấy một áp lực khó chịu trong phổi của chúng ta.
Chuyện gì xảy ra bên trong? Khi không khí đi vào trong phổi của chúng ta, các tế bào máu hấp thụ oxy. Chúng đi khắp hệ thống cơ thể để đổi khí cacbonic lấy oxy. Bây giờ khí cacbonic lại đầy trong phổi của chúng ta và chúng ta cần không khí trong lành. Phổi của chúng ta không thể giữ thứ khí bây giờ hóa ra đã trở nên cũ này lâu, nó gửi một thông điệp tới não và não phát ra một thông điệp tương ứng ,” Đẩy nó ra! Đẩy nó ra”
Vì vậy, cùng một hơi thở đã từng đem lại cho chúng ta niềm vui sướng, chỉ trong khoảnh khắc kế tiếp nó lại đem đến cho chúng ta một áp lực khó chịu. Đó cũng là khổ. Đó là sự bất toại nguyện. Khi chúng ta thở, chúng ta có được sự toại nguyện. Nhưng hơi thở đó tự thân nó rồi cũng trở nên cũ và vì vậy nó phải chết. Mỗi khoảnh khắc của mọi sự hiện hữu đem lại một khoảnh khắc mới, khiến cho cái khoảnh khắc trước trở nên cũ và suy tàn. Việc này xảy ra cho cơ thể của chúng ta, cho các tế bào của chúng ta, và ngay cả cho hơi thở của chúng ta. Vì vậy, chúng ta kinh nghiệm sự thỏa mãn rồi lại không thỏa mãn khi chúng ta thở vào và thở ra, bởi vì chúng ta có tham ái. Cội rễ của sự ham muốn này không nằm ở trong não của chúng ta, nhưng trong mỗi tế bào của cơ thể chúng ta. Chính ham muốn đó khiến chúng ta đưa không khí vào, chính ham muốn đó buộc chúng ta phải đẩy không khí ra. Chính ham muốn đó làm cho chúng ta sung sướng; chính ham muốn đó làm cho chúng ta buồn. Vì vậy ngay chính trong ham muốn tự thân nó cũng có một khoảnh khắc của buồn bã và sung sướng.
Cái chết với từng hơi thở
Khi chúng ta chú tâm đến hơi thở một cách chánh niệm, chúng ta sẽ khám phá ra một số sự thật. Sự thật thứ nhất là chúng ta luôn có tham ái. Sự thật thứ hai là luôn có sự bất toại nguyện. Và còn một sự thật khác nữa mà chúng ta gọi là sự hóa già. Cái tên khác của nó là anicca, vô thường. Do vô thường, những cảm giác sung sướng hoặc buồn bã sinh khởi. Chính vì vô thường mà chúng ta có sự khao khát thở vào và thở ra. Đầu tiên, chúng ta thở vào, và vì hơi thở là vô thường nên chúng ta phải thở lại. Bản chất của vô thường là buộc thứ gì đó phải lập lại. Khi một cái gì sinh khởi, nó không tồn tại lâu dài, nó hoại diệt và chúng ta phải lập lại nó mãi hoài.
Khi chúng ta quan sát hơi thở một cách chánh niệm, chúng ta rồi sẽ hiểu ra rằng không có thứ gì trong đời mà ta chỉ làm một lần. Vô thường khiến cho mọi vật lập đi lập lại bất tận. Nhưng các bạn có thể đặt câu hỏi: ” Vậy còn sanh thì sao? Chết thì sao?”. Sự thật là sanh ra không xảy ra cho chúng ta chỉ một lần. Chết cũng không xảy ra chỉ một lần. Chúng ta có thể nhận thấy điều này ngay cả khi chúng ta quan sát chúng ta đang thở. Sanh xảy ra mỗi khi chúng ta thở vào. Chết xảy ra mỗi khi chúng ta thở ra.
Chúng ta có thể kinh nghiệm ba loại chết. Cái chết đầu tiên được gọi là “ chết trong từng khoảnh khắc”. Loại chết này xảy ra cho hơi thở. Chết trong từng khoảnh khắc cũng xảy ra cho các tế bào ở trong cơ thể của chúng ta. Mỗi tế bào kinh qua cái chết trong từng khoảnh khắc và sinh ra trong từng khoảnh khắc.
Loại chết thứ hai là cái chết thông thường. Hiểu được bí mật về sự thật của việc chúng ta thở và kinh nghiệm cái chết trong từng khoảnh khắc của hơi thở giúp chúng ta đối mặt với cái chết thông thường. Khi chúng ta nhìn một cái gì đó thật sâu sắc (trong trường hợp này là hơi thở), chúng ta nhận thấy rằng mọi khoảnh khắc nó đang thay đổi. Chẳng có gì ở đó để cho chúng ta phải bám níu. Mọi sự đang thay đổi. Khi chúng ta thấy được sự thật này, chúng ta sẽ hiểu được rằng cái chết thông thường cũng chẳng có gì khác các chết trong từng khoảnh khắc tạm thời này. Khi chúng ta thở vào, chúng ta thực sự không biết chúng ta có chết vào khoảnh khắc đó không. Tương tự, khi chúng ta thở ra, chúng ta có thể không thở vào lại được nữa. Cái chết trong từng khoảnh khắc là hết sức tự nhiên, quá thực, quá nhanh – nó đang xảy ra cho chúng ta trong mọi lúc. Nếu chúng ta quan tâm đến điều này, và chúng ta hiểu được sự thực về nó, khi cái chết thông thường đến gần, chúng ta sẽ không còn sợ hãi.
Cái chết thông thường chỉ đơn giản là sự đi theo một cái chết thông thường khác. Dĩ nhiên, mục tiêu tối thượng của chúng ta là sẽ không bao giờ tái sanh. Thay vào đó, chúng ta tìm đến một cái chết vĩnh viễn, một loại chết thứ ba. Cuối cùng thì chúng ta tìm con đường để đưa sự lập đi lập lại của cái chết trong từng khoảnh khắc và cái chết thông thường đến sự kết thúc. Lòng khao khát, tham ái, và ham muốn phải chấm dứt. Cho đến khi nào mà chúng ta vẫn còn cảm thấy ham muốn, cho dẫu chúng ta làm một việc gì đó thiện hay bất thiện, sự bất toại nguyện và khổ sẽ xuất hiện và cái chết trong từng khoảnh khắc lại tái xuất hiện.
Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng trong tiến trình thở có những bài học để chúng ta có thể học hỏi. Có hai điểm chính tôi muốn nhấn mạnh là có sự ham muốn và vì vậy có khổ gây ra bởi sự ham muốn này.
Chấm dứt khổ
Chúng ta có thể thấy sự chấm dứt khổ, và sự chấm dứt nguyên nhân của khổ qua tiến trình thở. Chúng ta thấy nó khi chúng ta quan sát một cách chánh niệm sự sinh khởi của sự ham muốn được thở vào – và chúng ta chỉ việc để cho hơi thở tự nhiên đi vào mà không có sự ham muốn. Đôi lúc, người ta nghĩ rằng họ không thể tránh được sự ham muốn, họ nói rằng: “ Nhưng tôi phải thở sâu. Tôi phải kiểm soát hơi thở của tôi. Đó là một sự ham muốn tự nhiên”. Điều đó không thật. Khi chúng ta đơn thuần chỉ để cho hơi thở đi vào và đi ra, chúng ta có thể quan sát nó với sự không dính mắc, không ham muốn, không khao khát một điều gì. Khi chúng ta đơn thuần quan sát hơi thở ra vào một cách tự nhiên, chúng ta có thể kinh nghiệm một sự thỏa mãn, toại nguyện lâu dài.
Không có ham muốn là sự an vui thực sự. Không khao khát điều gì, ngay cả điều nhỏ nhặt nhất, là kinh nghiệm được sự an vui. An vui thật sự là sự chấm dứt tất cả sankharas (hành uẩn – những cái tồn tại phụ thuộc vào những cái khác). Hơi thở tự thân nó là một hành uẩn. Việc ngưng lại của hành uẩn này (không nắm giữ nữa) là sự an vui. Tất cả tham ái đều được từ bỏ. Khi chúng ta thở vào và ra, nếu chúng ta cảm thấy một sự ham muốn, khao khát, chúng ta từ bỏ nó.
Bên dưới bề mặt nổi của một cảm thọ dễ chịu là xu hướng tham ái. Bên dưới bề mặt một nổi của cảm thọ khó chịu là xu hướng của sự xua đuổi, chán ghét hay sân hận. Bên dưới bề mặt nổi của một cảm thọ trung tính là xu hướng lẫn lộn. Dĩ nhiên, không phải tất cả những cảm thọ dễ chịu đều có xu hướng tham ái bên dưới, không phải tất cả những cảm giác khó chịu đều có xu hướng sân hận bên dưới, không phải tất cả những cảm giác trung tính đều có xu hướng lẫn lộn bên dưới.
Làm sao để chúng ta có được một cảm thọ dễ chịu mà không có sự dính mắc với tham ái? Khi tham ái sanh khởi nhưng sự nắm giữ không còn, sự an vui sẽ xuất hiện. Cảm giác an vui là một cảm thọ dễ chịu. Trong cái cảm giác an vui đó, không có xu hướng tham ái bên dưới. Đây được gọi là hạnh phúc không có ham muốn hay tham ái. Nó là một sự hạnh phúc về mặt tâm linh.
Tương tự, chúng ta cũng có thể có những cảm thọ khó chịu về mặt tâm linh, không có xu hướng sự sân hận bên dưới. Thí dụ, khi chúng ta tập trung tâm ý vào hơi thở, chúng ta thấy sự vô thường, ham muốn có sinh khởi nhưng chúng ta buông bỏ tham ái của chúng ta v.v… Chúng ta ngồi thiền lâu hơn, tuy vậy chúng ta vẫn không đạt được sự an vui mà ta mong đợi. Nếu điều này xảy ra, chúng ta có thể thấy có những cảm thọ khó chịu sinh khởi do không đạt được sự an vui mong đợi, nhưng không có sự sân hận. Hành giả hiểu rằng “ Thay vì buồn bực và thất vọng, tôi phải cố gắng hơn, tinh tấn hơn” . Kinh nghiệm này có thể là một sự khích lệ để hành giả thực tập chăm chỉ hơn thay vì buồn bực. Đó là lý do tại sao đây được gọi là một cảm thọ khó chịu nhưng không có xu hướng sân hận nằm dưới. Đây là một cảm thọ khó chịu hữu ích thúc đẩy chúng ta tiến lên.
Cái nhìn ngắn gọn về Chánh kiến
Nếu chúng ta tiếp tục theo đuổi sự thực tập này một cách siêng năng, chúng ta có thể kinh nghiệm trong giây lát việc chấm dứt tham ái, sân hận và si mê. Việc này đem lại cho ta một sự an vui lớn lao. Đó là sự chấm dứt đau khổ trong khoảnh khắc. Tạm thời, chúng ta kinh nghiệm được sự hỷ lạc của Níp-bàn, chỉ trong một phần nhỏ của một giây – hé lộ cho ta thấy hương vị của Níp-bàn là như thế nào. Từng khoảnh khắc mà chúng ta từ bỏ ham muốn, tham ái của chúng ta – sự khao khát đối với hơi thở, chúng ta sẽ kinh nghiệm được sự hỷ lạc trong từng khoảnh khắc của Níp-bàn. Chúng ta có thể thấy rằng chỉ bằng cách đơn thuần tập trung tâm ý vào hơi thở, chúng ta đang đi trên con đường đạt tới Níp-bàn.
Việc thực tập này bao gồm trọn vẹn con đường Bát Chánh đưa tới sự giải thoát. Làm sao điều này có thể thành tựu được? Tôi sẽ không trình bày đầy đủ về con đường Bát chánh lần này, nhưng chúng ta có thể nhìn nhanh vào mục số một của con đường này: Chánh kiến. Khi chúng ta hiểu toàn bộ tiến trình của hơi thở chính xác như nó thực là, chúng ta đang phát triển Chánh kiến. Có nghĩa là chúng ta hiểu cái gì được gọi là khổ qua cái mô hình bé tí tẹo của tiến trình thở của chúng ta. Nguyên nhân của khổ là chút xíu tham ái mà chúng ta có. Và sự chấm dứt khổ chính là chút xíu an vui mà chúng ta kinh nghiệm được khi chúng ta từ bỏ tham ái. Sự hiểu biết đó, sự thấu hiểu vào bản chất của tiến trình thở đó, chính là chánh kiến. Chúng ta có thể thấy được điều này trong chính tự thân của hơi thở. Đơn thuần chỉ chánh niệm khi chúng ta đang thở, chúng ta có thể có được một sự hiểu biết về nó.
Khi đi trên con đường Bát Chánh, bạn không phải luôn luôn thực tập từng bước theo trật tự mà chúng được liệt kê ra. Các bạn thực tập từng bước một khi cần thiết. Thí dụ: Chúng ta có khuynh hướng sắp xếp ngăn nắp dụng cụ làm bếp. Muỗng để đong được đặt vào vị trí của nó, vá (môi) múc canh được đặt vào chỗ của nó, son nồi cũng được đặt vào một nơi dành riêng cho chúng. Chúng ta sắp xếp mọi thứ rất gọn gàng, thậm chí rất đẹp. Nhưng khi chúng ta bắt đầu nấu, chúng ta không nhất thiết dùng các dụng cụ theo đúng trật tự mà chúng ta đã sắp xếp. Chúng ta vớ lấy bất cứ thứ gì mà chúng ta cần và sử dụng nó.
Tương tự, đối với Bát Chánh Đạo, Đức Phật đã sắp xếp những dụng cụ về mặt tâm linh của nó theo một trật tự rất đẹp. Từng bước một, Ngài giải thích Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ v.v… Nhưng chúng ta có thể thực tập chúng theo một trật tự khác tùy thời tùy lúc và tùy theo nhu cầu. Sau đây là một thí dụ khác về con đường lớn hơn đang nằm trong công việc đơn giản theo dõi tiến trình thở. Khi chúng ta đi theo con đường, chúng ta có thể bắt đầu với Chánh kiến (bước được liệt kê đầu tiên), nhưng chúng ta sẽ sử dụng bất kỳ yếu tố nào cần thiết vào khoảnh khắc đó. Thí dụ, khi tiến hành thực tập chánh niệm hơi thở, chúng ta có thể bắt đầu với Chánh Kiến, nhưng khi chúng ta thực tập, chúng ta trở nên lơ mơ buồn ngủ, như vậy chúng ta cần phải sử dụng đến Chánh tinh tấn. Rồi chúng ta có thể bị quấy động và vì vậy chúng ta phải lấy lại sự quân bình với Chánh định. Như vậy, chúng ta đưa vào sự thực tập bất cứ yếu tố nào của con đường Bát Chánh mà chúng ta thấy cần thiết.
Khi chúng ta tập trung tâm ý trên hơi thở, chú tâm một cách trọn vẹn, hoàn toàn, nhiều thứ sẽ tự chúng hiển lộ. Khi chúng ta tiến hành sự thực tập, sự hiểu biết và chánh niệm của chúng ta tiếp tục tăng trưởng, tiến triển và mở rộng. Đây là con đường tuyệt vời để có thể thấy được chân lý của sự hiện hữu
Theo: The Secret of Breathing
Người dịch: Supañña

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Chuyện về những người có khả năng siêu phàm

Nhiều người cho rằng khả năng con người là hữu hạn, con người không thể khỏe như voi, không thể chạy nhanh như báo, không thể sống trong những điều kiện khó khăn nhất, không thể dùng trí lực để điều khiển mọi vật…
Nhưng theo nghiên cứu của các nhà khoa học và những trường hợp thực tế đã từng xảy ra trên thế giới thì câu trả lời lại là… có thể.

Người đàn bà bị gắn mác "phù thủy"

Từ năm 1960 tới 1990, nữ "phù thủy" người Nga, Nina Kulagina đã có hàng loạt buổi biểu diễn chứng minh siêu năng lực có một không hai trong lịch sử, đó là bà dùng tâm trí di chuyển đồ vật… Khi quân Đức bắt đầu vây hãm Leningrad, Nina chỉ là một cô bé 14 tuổi. Như bao đứa trẻ Leningrad khác, cô bé đã nhập ngũ cùng cha, anh và chị gái. Cô tham gia Hồng Quân và được gửi tới mặt trận ác liệt nhất. 900 ngày chiến đấu dưới cái lạnh âm 40 độ và nguồn lương thực thiếu thốn, nước khan hiếm, điện bị cắt và thành phố thì đổ nát sau những trận bom của quân Đức, Nina và những đứa trẻ cùng lứa phải trải qua những tháng ngày đen tối nhất trong lịch sử nhân loại. Trước hỏa lực của quân phát xít, Nina bị thương nặng trong khi chiến đấu. Thật may mắn, Nina sống sót sau cuộc chiến thảm khốc và hồi phục. Cô lấy chồng và có con. Có những câu chuyện kể lại rằng cô có khả năng nhìn xuyên thấu vào những chiếc túi của mọi người, khi gặp người ốm cô có thể biết họ mắc bệnh gì. Có một lần khi Nina mở một ngăn tủ trong phòng, chiếc ngăn tủ bị hỏng rồi tung ra khiến mọi thứ văng ra tung tóe. Nina tỏ ra vô cùng bực tức. Cùng lúc đó, những ngọn đèn trong phòng cứ bật rồi tắt, bật rồi tắt liên tục, những đồ vật rơi dưới đất bỗng "nhảy múa" - nói chính xác thì chúng gắn chặt lấy Nina. Nina phát hiện ra một sự thật kỳ diệu, cô có khả năng điều khiển mọi vật.
Nữ phù thủy người Nga Nina Kulagina
Nữ phù thủy người Nga Nina Kulagina (Ảnh: skullbonespark.com).

Nina cũng được phát hiện có khả năng chữa lành vết thương. Nói một cách chính xác, cô dùng tay làm vết thương liền lại. Nhưng để có thể di chuyển đồ vật hay chữa bệnh thì việc chuẩn bị rất tốn thời gian, có khi mất hàng giờ đồng hồ. Nói cách khác, Nina nói rằng cô phải xóa hết các ý nghĩ khác khỏi đầu mình thì mới phát huy khả năng được. Ngoài ra, mỗi lần như vậy cô phải chịu những cơn đau nhức dọc xương sống, mắt cũng mờ đi… Nhà sinh vật học Edward Naumov đã làm bài kiểm tra với Nina. Ông đổ một hộp diêm ra giữa bàn rồi bảo cô dùng khả năng của mình. Nina dùng tay điều khiển từ xa, tất cả các que diêm chụm lại với nhau rồi cùng di chuyển về một góc bàn và rơi từng cái một, lần lượt xuống đất. Trong một lần kiểm tra tại Moscow, các nhà khoa học đã đưa một số vật nhỏ vào trong một cái hộp và bảo Nina phát huy khả năng. Ngay lập tức, những đồ vật trong hộp nhảy từ bên này qua bên kia, không hiểu tại sao. Có lần Nina còn khiến một quả bóng bàn bay lơ lửng được trong vài giây.
Theo rất nhiều tài liệu, bác sĩ Leonid L. Vasiliev, một nhà tâm lý tại Đại học Leningrad, là người đầu tiên có cuộc kiểm tra chính thức với Nina, và liên tục kiểm tra cho tới khi ông chết (1966). Những nhà khoa học khác như Genady Sergeyev, cũng có những ngiên cứu phát hiện "điện" trong não của người phụ nữ này. Các nhà khoa học cho một tấm film chưa từng được biết tới vào một phong bì đen và bảo Nina hãy lôi vật bên trong ra. Thật kỳ diệu, Nina đã dùng khả năng bí ẩn khiến tấm film phải tự đi ra ngoài.

Người đàn ông với quyền năng tối thượng

Tờ báo Indian Express của Ấn Độ ghi lại một trường hợp lạ về một người đàn ông có nhiều tài năng kỳ diệu. Satyanarayana Raju có thể dùng tay không lấy ra từ không khí những đồ vật một cách hết sức tự nhiên. Trước hàng ngàn người, Satyanarayana Raju đã theo lời yêu cầu của bất cứ ai lấy trong không khí ra cái mà họ yêu cầu. Những thứ mà nhiều người yêu cầu ông lấy ra từ không khí rất đa dạng, có khi là những vật mà vào thời gian đó khó tìm thấy, nhưng ông vẫn làm được. Theo các tài liệu trình bày về các năng lực phi thường đầy biến hóa của Satyanarayana Raju thì; từ ngày bộc lộ tài năng này ra cho mọi người biết, ông ta đã lấy được từ không khí ra hàng vạn đồ vật khác nhau: từ chén đĩa, bông hoa, vải vóc, thức ăn, sách vở và cả những thứ ít người nghĩ đến như cái gối , tổ chim, rễ câỵ...
Người đàn ông với quyền năng tối thượng Satyanarayana Raju
Người đàn ông với quyền năng tối thượng Satyanarayana Raju.
(Ảnh: naturalcureforall.blogpost.com)
Các nhà khoa học đã đến quan sát và tìm hiểu. Khi được hỏi rằng do đâu mà Satyanarayana có thể lấy được các đồ vật trong không khí thì ông ta trả lời "Sự thật chẳng có gì là khó khăn khi ta biết rằng trong vũ trụ không gian tích trữ các chất cấu tạo nên mọi vật. Vì thế muốn có được chúng ta chỉ cần lấy từ trong không khí, sự việc tự nhiên như ta thò tay lấy vật dụng trong tủ vậy thôi".
Ngoài khả năng kỳ lạ ấy, Satyanarayana còn có thể nhìn xuyên qua sắt, gỗ, đất, đá. Ông ta có thể ngồi ở vị trí A và để đi đến vị trí B rồi trở lại mô tả tất cả những gì đang xảy ra tại vị trí B. Các tư liệu đề cập đến Satyanarayana Raju có nhiều chi tiết rất lạ. Ngay lúc còn bé, Satyanarayana không chịu ăn thịt mà chỉ thích ăn chay. Thường ngày nhìn những người đói khổ đi ăn xin bằng đôi mắt thương xót, cậu bé đầy lòng từ tâm đã luôn mang gạo và thức ăn trong nhà cho những người này. Nếu bất kỳ ai không tận mắt chứng kiến những gì cậu bé đã làm mà chỉ nghe qua lời kể lại thì chắc chắn sẽ cho đó là chuyện vô lý, huyền hoặc, không thể nào tin được. Nhưng ngay cả các nhà khoa học từ Nga, Ðức, Pháp, Hoa Kỳ... đến Ấn Ðộ và tận mắt xem qua những gì mà cậu bé đã làm thì đều phải kinh ngạc và thừa nhận rằng quả thật cậu bé Satayanarayana không phải là con người bình thường và những gì cậu làm thì không thể nào lý giải được là tại sao lại có thể làm được điều đó…


Từ xưa đến nay, không hiếm những con người kỳ lạ có khả năng nhìn thấy hoặc nghe rõ ở những khoảng cách xa đến hàng vạn dặm.
Vào thời kỳ khoa học chưa phát triển để có thể lý giải được hiện tượng đó thì nhiều người coi họ như thể những nhân vật thần thoại từng được miêu tả trong truyện cổ tích, những câu chuyện về thần tiên, ngay cả trong truyện "Tây Du Ký" với những con người có thiên lý nhĩ (nghe từ xa nghìn dặm) và thiên lý nhãn (nhìn từ xa nghìn dặm)...

Năng lực con người là không giới hạn

Và điều kỳ lạ là càng ngày, trên thế giới càng xuất hiện nhiều những con người có khả năng siêu đẳng lạ lùng vượt xa hẳn những khả năng mà con người thường có được. Những con người ấy không phải là những vị cao tăng, những vị đạo sư, những người sống trên núi non hay rừng rậm hoang vu dày công tu luyện. Những người ấy đang ở ngay trên thành phố văn minh hiện đại hay trên những đất nước mà những gì được gọi là "siêu linh huyền bí" đều bị coi là mê tín dị đoan, nhảm nhí. Những con người kỳ lạ ấy có khả năng tạo ra những nguồn điện lực mạnh mẽ phát sinh từ cơ thể, từ đôi mắt, từ đôi bàn tay hay cả thân mình. Có người có thể dùng năng lực điện trường của mình để sưởi ấm người khác hay làm cho tuyết tan. Có người dùng nhân điện ấy để chữa bệnh hay có thể đốt cháy những vật mà họ chạm vào. Nhiều người có khả năng siêu việt trong phép chữa bệnh qua khoảng cách bằng lời nói và đôi mắt. Có người đưa bệnh nhân về quá khứ để tìm nguồn gốc phát sinh bệnh trạng...
Ben Underwood, "chàng trai có thể nhìn bằng tai"
Ben Underwood, "chàng trai có thể nhìn bằng tai". (Ảnh: Zing).

Những "siêu nhân" thời hiện đại

Ngày nay, mặc dù khoa học chưa "hoàn toàn" giải thích được từng sự kiện nhưng không vì thế mà giới khoa học coi thường cũng như gán ghép sự huyễn hoặc lên sự kiện. Vì thực tế những con người có khả năng siêu phàm đang hiện hữu trước mắt những nhà khoa học nơi những viện nghiên cứu khoa học nổi danh khắp thế giới. Nhưng thực tế, các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu vấn đề một cách vô cùng nghiêm túc. Tính đến nay có đến 6000 nhà khoa học trên khắp thế giới đang ra sức nghiên cứu tìm hiểu những khả năng, những hiện tượng lạ lùng đầy vẻ siêu phàm phát sinh từ những con người bằng xương bằng thịt…
Một dị nhân đầu tiên được nhiều người biết đến là Ben Underwood, hay còn được biết đến với cái tên "Chàng trai có thể nhìn bằng tai". Ben vốn dĩ là một người mù, hai con mắt của anh đã bị bỏ đi năm anh mới lên 3 tuổi vì bệnh ung thư. Ngay từ nhỏ để phục vụ cho cuộc sống của mình Ben đã làm quen với việc định vị mọi vật xung quanh bằng âm thanh và cho đến bây giờ Ben có thể làm tất cả mọi hoạt động như những người bình thường khác mà không cần đến đôi mắt. Các chuyên gia đã tiến hành thử nghiệm và cho biết rằng khả năng định vị bằng âm thanh của Ben đã lên đến mức đỉnh cao, ngang ngửa với độ nhạy âm thanh của loài cá heo, tức là đã vượt qua giới hạn cho phép ở một người bình thường, chính điều này đã "vô tình" biến anh trở thành một trong số những "siêu nhân" được khoa học biết đến.
Hãng tin AP từng đưa tin về một dị nhân khác tên là Wim Hof, người Hà Lan, hay còn được gọi bằng biệt danh "Người đàn ông của băng tuyết". Bởi Wim có thể bơi dưới nước đá, hoặc đứng trong những thùng bằng băng lạnh cắt da mà không hề hấn gì. Anh thường mặc quần soóc và chinh phục khắp các đỉnh núi đầy băng tuyết. Các nhà khoa học không thể giải thích được khả năng của người đàn ông 48 tuổi này. Thậm chí các nhà nghiên cứu còn cho biết thêm, không chỉ không cảm thấy lạnh mà Wim còn phát triển tốt ở những môi trường có nhiệt độ thấp đến nỗi có thể gây tử vong cho những người bình thường khác. Có thể nói khả năng này đã biến Wim từ một người bình thường trở thành một người "đặc biệt", một người nổi tiếng tại Hà Lan.
"Người đàn ông của băng tuyết" Wim Hof
"Người đàn ông của băng tuyết" Wim Hof (Ảnh: BBC.co.uk).
Tờ Mirror từng có loạt bài về năng lực siêu nhiên của con người và đưa ra nhiều trường hợp cụ thể như anh Miroslaw, người có thể dùng ý nghĩ di chuyển đồ vật. Bản thân Miroslaw là một người đam mê lĩnh vực năng lượng tâm linh, anh đã phát triển khả năng của mình đến mức có thể khiến những đồ vật như một cái muỗng hay một bức tượng di chuyển trong không trung, xoay, lắc hoặc đứng yên tại chỗ bằng cách sử dụng tâm trí của mình.
Miroslaw giải thích rằng anh làm được việc đó bằng cách truyền tải năng lượng bản thân mình vào đó đồng thời tập trung nghĩ rằng anh muốn đối tượng di chuyển. Miroslaw đã trải qua rất nhiều xét nghiệm nhưng các nhà nghiên cứu nói rằng họ chưa thể giải thích khả năng đặc biệt của Miroslaw bằng khoa học thông thường.
Tim Cridland từng là thành viên của gánh xiếc
Tim Cridland từng là thành viên của gánh xiếc (Ảnh: thestar.com).
Một người nữa được gọi là người không biết đau, đó là Tim Cridland, với khả năng đặc biệt này, anh từng là thành viên của một gánh xiếc. Anh là chuyên gia nuốt kiếm, đi bộ trên than hồng và ngủ trên giường chông… Tim nói rằng anh làm những việc đó và không cảm thấy gì và cũng không quan tâm đến chuyện cảm giác. Theo các nhà nghiên cứu thì Tim mắc một hội chứng hiếm khiến những gene truyền tải cảm giác đau lên não bị biến đổi và anh không cảm nhận được các cảm giác như đau, nóng hay lạnh... Các nhà nghiên cứu cũng cho biết đây là một hội chứng khá nguy hiểm vì người mắc không biết đau nên cũng sẽ không đánh giá được những tổn hại của các va chạm hay tai nạn đối với cơ thể và có thể tử vong vì điều đó…
Theo PLXH
 
 

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

Về tâm linh: “Nếu chưa biết, xin đừng phủ nhận”

Một chiếc lá cây khi sống tạo ra một trường sinh học quanh nó, khi mất đi trường sinh học đó vẫn được bảo tồn. Với con người, điều đó có tồn tại không? Nếu có, đằng sau sự sống sẽ không còn là cái chết nữa.
Những câu hỏi và logic vấn đề đã đưa GS.TS Đoàn Xuân Mượu, nguyên Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ TƯ nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. Sau hơn 30 năm thai nghén, ông vừa cho ra đời 3 tập sách mang tên: Con người và khoa học về tâm linh.

Hiểu sự huyền bí sẽ không còn mê tín dị đoan

Là giáo sư đầu ngành về vi trùng, virus, tại sao ông lại chuyển sang viết sách nghiên cứu “tâm linh”? Ông không sợ người ta cho rằng thế là mê tín dị đoan?
Virus nhỏ lắm. Nó còn nhỏ dưới mức vi khuẩn, mắt không nhìn thấy được. Trong thế giới tự nhiên đã có lúc ta ghi nhận những thứ không nhìn thấy được là vô hình. Trong quá trình nghiên cứu, tôi thấy thế giới vô hình rất sống động, từ đó tôi liên tưởng đến đời sống con người ở những điều ta không nhìn thấy.
Cùng với quá trình nghiên cứu y học tôi cũng bắt tay nghiên cứu những điều về con người mà xưa vẫn cho là “bí ẩn”, là mê tín dị đoan… Dưới ánh sáng khoa học, những “bí ẩn” đó không còn chỗ nương thân cho những gì gọi là mê tín, kỳ quặc.
Nói như thế theo tôi hiểu ông công nhận thế giới tâm linh là có thật?
Tôi không dám làm trọng tài trong tất cả những vấn đề mà thế giới đang tranh luận, chưa ngã ngũ. Tôi chỉ là người đọc nhiều, tâm huyết đến lĩnh vực “đời người” và cố gắng đưa những gì chưa biết ra ánh sáng.
Ông có thể nói rõ hơn?
3.000 năm qua, chúng ta tìm hiểu vũ trụ nhiều hơn tìm hiểu chính mình. Do đó, vốn hiểu biết về thế giới tự nhiên lớn hơn hiểu biết chính bản thân, kể cả nguồn gốc chính mình và những khả năng đặc biệt của con người.
Trước đây, khoa học chính thống theo mô thức thực chứng duy lý, dựa trên nền tảng vật lý cổ điển của Newton không giải thích được các hiện tượng đặc biệt này. Nó không công nhận thế giới siêu hình và cho rằng nguyên tử là nguyên tố bé nhất.
Đến đầu thế kỷ XX xuất hiện mầm mống thuyết tương đối của Enstein thuyết này nói rằng, ngoài nguyên tử là phần tử nhỏ nhất còn có sóng và hạt. Thuyết lượng tử từ đó cũng lên ngôi.
Vì vậy, về phương diện xã hội nếu quảng đại quần chúng hiểu biết cơ sở khoa học của sự huyền bí thì sẽ không còn chỗ nương thân cho mê tín dị đoan đang lan tràn rộng rãi như hiện nay. Huyền bí không mâu thuẫn với tự nhiên, chỉ mâu thuẫn với sự hiểu biết của con người về quy luật tự nhiên.

GS.TS Đoàn Xuân Mượu: Con người không phải từ linh trưởng mà phát triển lên.
Sóng và hạt đều là những thứ ta không sờ, nắm, nhìn thấy được, phải chăng ông muốn nói đến bên kia cuộc sống của con người vẫn tồn tại một thế giới mà ta không sờ nắm được?
Tôi cho rằng thế kỷ XXI có nhiều vấn đề tâm linh khiến nhiều người quan tâm. Bộ sách 3 cuốn về con người và thế giới tâm linh của tôi ra đời từ đó, ở đó tôi nhìn nhận con người dưới góc độ khác.

Nguồn gốc loài người bắt nguồn từ năng lượng

Với cách nhìn nhận của ông, thủy tổ của loài người không phải là khỉ?
Dựa vào các thuyết về nguồn gốc con người: thuyết tiến hóa của Darwin, thuyết Mundasep và nhiều học thuyết khác thì thấy, con người không phải từ linh trưởng mà phát triển lên. Con người cũng như động vật, thực vật muôn loài đều do tạo hóa sinh ra, từ cái gọi là chân không vật lý mà theo Phật học thì gọi là “sắc sắc không không”.
Mọi sinh vật được tạo hoá sinh ra không phải một cách tình cờ, mà đều có ý định, có mục đích do “Ý thức vũ trụ”. Ý thức có trước, kế hoạch sáng thế có sau, tất cả đều bắt nguồn từ năng lượng. Con người phải do năng lượng sinh ra, bắt đầu từ năng lượng lỏng, năng lượng đặc và thành hình hài con người ngày nay.
Thực tế, bằng phương pháp phóng xạ xương người ở Nam Mỹ cách đây hơn 3 triệu năm, phóng xạ xương của loài linh trưởng sau khi tìm kiếm đều không chứng minh được nguồn gốc con người từ linh trưởng. Từ xa xưa xương bàn tay con người đã có hoạt động khôn khéo rồi. Thế giới nhiều nơi đã công nhận con người là sinh vật do vũ trụ sinh ra, con người là hình chiếu của vũ trụ.
Theo logic của ông, con người sẽ được cấu tạo thế nào?
Con người gồm 7 phần gồm thể xác, năng lượng, cảm xúc và 4 cơ thể tâm thần, trong đó chỉ có thể xác là hữu hình, được y học chính thống giảng dạy (đây là năng lượng đặc), 6 phần còn lại có độ đặc khác nhau. Năng lượng càng loãng càng nghiêng dần về phía linh cảm (năng lượng chưa phải tế vi). Khi sống, phần năng lượng đặc vẫn còn nhưng khi mất đi thì phần năng lượng đặc mất, các phần năng lượng khác vẫn tồn tại.
Có phải nhờ những phần năng lượng không mất đi mà một số người có khả năng ngoại cảm không? Tuyến tùng ở những người đó phát triển cao hơn bình thường?
Người bình thường ai cũng có tuyến tùng như là dấu vết của con mắt thứ 3 ở giống người tiền sử (hay còn gọi là giác quan thứ 6). Khả năng ngoại cảm không phải do một mình tuyến tùng mà còn liên quan đến các thân thể tế vi.
Khả năng ngoại cảm do tạo hoá ban cho, không phải do luyện tập mà có, càng không phải do tuyến tùng phì đại. Khả năng chữa bệnh của một số nhà ngoại cảm, về nguyên tắc và lý thuyết, có thể có. Tuy nhiên không phải đã là nhà ngoại cảm thì đều có khả năng chữa bệnh.
Là bác sĩ Tây y sao ông lại tin tưởng vào cách chữa có vẻ phi khoa học của các nhà ngoại cảm?
Các nhà y học chính thống vốn chữa bệnh cho thân thể vật lý. Tuy nhiên, còn có những dạng bệnh do năng lượng sóng đứng gây nên, chúng đòi hỏi phải có cách tiếp cận khác gọi là y học đa chiều, trong chẩn đoán, tự chẩn đoán, điều trị, tự điều trị, khác với y học chính thống.
Trong thực tế chắc có những người mạo danh ngoại cảm cần phải ngăn cản. Bộ sách của tôi là sự cố gắng lý giải những điều chưa biết. Cái biết vốn dĩ hữu hạn, cái chưa biết là cái vô hạn. Tuy nhiên, không phải vì chưa biết mà phủ nhận tất cả một cách hồ đồ.
Xin cảm ơn ông!
Hà Mi (thực hiện)
Khoa học & Đời sống

Người phụ nữ có nhiều khả năng kỳ lạ

Bà Culaghina (1926 – 1990) chỉ làm công việc nội trợ gia đình, chăm sóc ba con, nhưng mỗi khi chạm tay vào da thịt ai là có thể gây bỏng cho người đó. Nhiều người cho rằng, bà khó khả năng phóng ra nhiệt cao.

Minh chứng là khi Giáo sư Y.Cođarez đề nghị Culaghina chữa giúp chứng viêm rễ thần kinh vùng thắt lưng, bà đỏ mặt lên và “đốt” cho ông một phát vào chỗ đau. Vợ ông đã cạo ra từ vết bỏng một thìa cà phê những chất muối natri và kali thông thường vẫn có trong cơ thể con người. Ngoài khả năng này, bà Culaghina còn có thể xê dịch các vật dụng như dịch chuyển chiếc bút máy, làm quay kim la bàn, làm nghiêng bàn cân…
Điều khiển mọi vật từ xa
Khoảng ba mươi năm trước, tại Liên Xô (cũ), người ta phát hiện bà Culaghina, vợ một kỹ sư đóng tàu, chỉ làm nội trợ gia đình, chăm ba con, nhưng cứ chạm tay vào da thịt ai là có thể gây bỏng cho người đó, rồi hút ra được cả bệnh tật. Bà có thể xê dịch các vật dụng như chuyển chỗ bút máy, làm quay lại kim la bàn, làm nghiêng bàn cân… Đã có rất nhiều nhà báo đến đưa tin, nhiều nhà khoa học đến nghiên cứu về chuyện lạ của Culaghina.
Chồng bà là kỹ sư Culaghin đã tự thực hiện một bộ phim tài liệu về người vợ yêu quý của mình. Khả năng kỳ lạ của bà mỗi ngày một lan xa, người từ Mỹ, Nhật Bản, Úc, Tây Âu… kéo đến để tận mục sở thị tài năng của bà ngày một nhiều. Một hãng truyền hình Nhật Bản cũng đã trả cho Liên Xô 15.000 đô la để được Nhà nước giúp họ quay một bộ phim về Culaghina.

Bà có thể dùng năng lượng nhân điện nâng nhiều vật lên không trung mà không cần chạm vào.
Có lần khi Culaghina mở một ngăn tủ trong phòng, chiếc ngăn tủ bị hỏng rồi bung ra khiến mọi thứ văng ra tung tóe. Culaghina tỏ ra vô cùng bực tức. Cùng lúc đó, những ngọn đèn trong phòng cứ bật rồi tắt, bật rồi tắt liên tục, những đồ vật rơi dưới đất bỗng “nhảy múa” – nói chính xác thì chúng gắn chặt lấy Culaghina. Cũng kể từ đó, bà phát hiện ra một sự thật kỳ diệu: bà có khả năng điều khiển mọi vật.
Đầu những năm 1980, hiện tượng Culaghina được Giáo sư Y. Cođarez cùng Giáo sư P.Gulaez nghiên cứu. Trong buổi thí nghiệm đầu tiên, Culaghina lấy một chiếc la bàn và huơ tay lên phía trên. Một lát sau, kim la bàn động đậy, bà nói: “Đây là bước khởi động”. Để tránh có sự dẫn điện nào đó nhằm tìm ra một câu trả lời chính xác, Giáo sư P.Gulaez đã đặt lên mặt la bàn có trải vải nhựa một chiếc nắp bút bằng kim loại. Sau khi huơ tay vài lần, Culaghina lại làm cho nó chạy theo tay bà đến tận mép bàn…
Từ thực tế này, Giáo sư P.Gulaez cho rằng Culaghina đã “gồng” rất mạnh để tạo ra dòng điện mạnh tới hàng trăm kilôvôn. Vì vậy, lần hẹn sau, Y.Cođarez chuẩn bị sẵn một vôn kế điện tĩnh, rồi đấu nó với nắp bút bằng một sợi dây dẫn dài và vứt lên đèn chùm. Culaghina lại làm cho nắp bút chuyển động như lần trước, nhưng vôn kế không hề nhúc nhích.
Y.Cođarez đã bị Culaghina chinh phục, ông nói: “Tôi có cảm tưởng là để giải thích hiện tượng Culaghina, chỉ có một cách duy nhất là thừa nhận rằng con người có thể tác động lên quy luật của không gian và thời gian bằng sức mạnh của ý chí”.
Để nhiều nhà khoa học được chứng kiến, người ta đã tiến hành tiếp hàng loạt thí nghiệm tại căn phòng rộng của Viện sĩ I. Kicôin. Tại đây, Culaghina đã làm sửng sốt nhiều nhà bác học bằng cách điều khiển cho chiếc ly nhỏ chuyển động mà không cần tới bất cứ một “sợi chỉ” nào.
Chạm tay vào đâu, chỗ đó cháy xém và “hút” ra bệnh
Culaghina còn khiến mọi người đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác bằng thuật điều động từ xa. Đứng trên bục, Culaghina sẵn sàng chiều những khán giả nào muốn bà cho một “liều bỏng”.
Để có thể chạm tay vào đâu là chỗ đó cháy xém rồi “hút” ra bệnh thì việc chuẩn bị rất tốn thời gian, có khi mất hàng giờ đồng hồ. Nói cách khác, Culaghina nói rằng bà phải xóa hết các ý nghĩ khác khỏi đầu mình thì mới phát huy khả năng được. Ngoài ra, mỗi lần như vậy bà phải chịu những cơn đau nhức dọc xương sống, mắt cũng mờ đi… Giáo sư Y.Cođarez đã làm bài kiểm tra với Culaghina.
Khi Giáo sư Y.Cođarez đề nghị Culaghina chữa giúp chứng viêm rễ thần kinh vùng thắt lưng, bà đỏ mặt lên và “đốt” cho ông một phát vào chỗ đau. Vết bỏng của ông nặng đến nỗi mấy ngày sau vẫn chưa liền. Trên vết bỏng ấy, có những hạt ánh như thể được phủ bởi một lớp tinh thể nhỏ li ti. Về sau, vợ nhà khoa học này đã cạo ra ở vết bỏng đó một thìa cà phê những chất như thể muối. Kết quả xét nghiệm cho thấy, đó là loại muối natri và kali thông thường vẫn có trong cơ thể con người.
Giáo sư Y.Cođarez đã miêu tả lại cảm giác khi Culaghina huơ đôi bàn tay của mình vài lần rồi đặt lên chỗ đau đó: “Đôi bàn tay của Culaghina như viên gạch nóng áp vào lưng người tôi. Cảm giác nóng mỗi lúc thêm tăng, chỉ một lát sau chỗ Culaghina đặt tay nóng ran, y như bị bỏng. Vừa day ấn bà ấy vừa thổi ‘phù phù’, gần giống người học huýt sáo để “thu năng lượng. Do sự hiện diện của luồng hạt nhân.
Trong quá trình nghiên cứu, Giáo sư Y. Cođarez bỗng nảy ra sáng kiến, thử nghe những xung điện phát ra từ bàn tay của Culaghina xem sao. Kết quả là ông đã nghe thấy bằng tai, những âm thanh hỗn loạn khi Culaghina “gồng”. “Gồng” càng mạnh thì tiếng phát càng nhanh. Giáo sư Y. Cođarez đã nhiều lần xác minh lại xung âm mà ông tìm ra, nhưng vẫn chưa dám tin rằng tay người có thể phát ra xung âm. Hiện tượng “động từ xa” ở Culaghina là do bàn tay của bà phát ra những siêu âm, đây là một phát hiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, liên quan đến sinh học, sinh lý học, và y học.
Đôi bàn tay của Culaghina còn phát quang và sự bức xạ này được ghi nhận bằng một dụng cụ: đó là một máy khuyếch đại quang điện tử và một máy ghi chỉ số. Để ghi lại tác động đối với máy khuyếch đại quang điện tử, tay của Culaghina sẽ được giữ chặt ở bên trên, tất cả đều được che kín để đảm bảo hoàn toàn tối. Trời nóng làm tay bà vã mồ hôi nên máy vẫn không nhúc nhích. Culaghina lo lắng, bà ra sức “gồng”.
Cuối cùng con số hiện ra và bắt đầu lớn dần. Hết con số chín, nó nhẩy vọt lên gấp hàng nghìn lần của dòng tối. Mọi người đều có cảm giác là bà Culaghina đã đuối sức, nhưng bà không dừng lại được, ngay cả khi có lệnh ngừng.
Ngoài ra, Culaghina còn có thể phát ra xung lượng điện này và các xung âm kể trên là hai mặt của một quá trình.
Trong cả hai trường hợp, khi tay của bà phóng ra những hạt, sau khi mới đi được một đoạn đường ngắn thì đã đập ngay vào màng rung của micrô. Một trong hai khả năng để giải thích cho điều này là: hoặc bản thân các hạt này mang điện tích, hoặc chúng làm ion hoá không khí. Khi rơi vào mặt phẳng kính, chúng làm kính bị mờ, rơi vào bề mặt da, chúng tạo ra ở đó những tinh thể cực nhỏ, kích thích các đầu cuối thần kinh, gây xung huyết bất thường và tạo bỏng giống như cao mù tạc.
Tiếp tục tiến hành các thử nghiệm, Culaghina khiến tất cả giới chuyên môn lẫn những người xung quanh đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Culaghina còn có khả năng làm chua nước, và rõ ràng là những hạt phóng ra từ bàn tay ưa nước, vì thế nó dễ bị hấp thụ và tan vào nước.
Sự hiện diện của luồng hạt nhân này là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, để có được những luận chứng khoa học về thuật điều động từ xa, cần phải đo cơ thể, tính toán các điện trường và khẳng định được rằng hiệu điện của chúng đảm bảo làm xuất hiện các hạt đủ mạnh, để dịch chuyển các đồ vật có trọng lượng đã định trong trường lực.
Người có năng lượng nhân điện quá lớn
Năm 1982, Trung tâm thí nghiệm sinh học bằng phương pháp vô tuyến điện tử, khẳng định Culaghina có khả năng làm tăng khá lớn tính dẫn điện của không khí xung quanh lòng bàn tay mình. Bàn tay bà có thể phát ra ánh sáng và cả âm thanh. Hiện tượng huỳnh quang mạnh đến mức có thể nhìn thấy bằng mắt thường và âm thanh phát ra lớn ngang bằng tiếng động do cá heo phát ra, có thể nghe được mà không cần tăng âm. Hiện tượng Culaghina ngày nay được các nhà vật lý, hóa học, y học nghiên cứu rộng rãi và người ta nhận thấy nhiệt phát ra từ bàn tay Culaghina có tác dụng chữa bệnh đáng ngạc nhiên.
Khoa học hiện đại chỉ ra rằng, trong cơ thể con người ai cũng có nhân điện tối thiểu mới khỏe mạnh không bệnh tật, người có ít người có nhiều, năng lượng nhân điện ấy được cung cấp từ thức ăn và hơi thở. Khi năng lượng dư thừa, nó phát ra bàn tay ấm nóng, nếu dư quá hóa nhiệt làm cao áp huyết.
Nhân điện được cảm nhận bằng nhiệt, nếu bàn tay ấm nóng, mà không có bệnh tim mạch áp huyết hay táo bón, đó là người có nhiều nhân điện. Ngoài cách giải thích bằng ion, người ta còn gọi là tĩnh điện, sẽ trở thành động điện khi bàn tay di chuyển nhanh. Đó là nhân điện tự nhiên không do tập luyện, không chữa bệnh được sẽ bị hao mất điện.
Còn nhân điện do luyện tập có nhiều cách khác nhau và có nhiều trình độ khác nhau: lúc đầu dạy cho người ta vô tâm (chân không, ở thể tĩnh điện), người bệnh thiếu năng lượng thì hút vào, dư năng lượng thì nhả ra, bắt buộc phải tập thiền mới thu nạp được năng lượng nhiều. Một người thiền đúng có rất nhiều năng lượng, nhân điện chỉ là một phần trong số năng lượng ấy.
Tập khí công chuyển hóa khí âm (hơi thở, và khí của thức ăn) thành khí dương, từ khí dương tích lũy chuyển hoá thành điện âm, dư thừa nữa thì khí dương và điện âm chuyển hóa thành điện dương, là điện năng, có những cách tập mà con người dùng tay làm cháy sáng bóng đèn tức là điện sinh quang, hoặc đốt cháy tờ giấy, là điện sinh hỏa, ngoài ra điện phát sinh ra điện từ trường, có thể phát sóng từ trường, cao hơn nữa nhận được sóng thông tin tầm xa ngoài không gian vào não bộ để xử lý.
Trường hợp của Culaghina được xét vào người đặc biệt có năng lượng nhân điện rất lớn. Nguồn năng lượng điện này có thể làm cháy xém da thịt, “cạo” ra bệnh và điều khiển mọi vật dụng từ xa.
Những khả năng tổng hợp ở Culaghina đã được các nhà khoa học thời đó kiểm tra bằng vô số các phép thử ngày càng khó khăn hơn. Kết luận cuối cùng: đây là một khả năng đặc biệt có một không hai trong lịch sử hiện đại. Tuy nhiên, một số người vẫn tranh cãi xung quanh khả năng của người phụ nữ này. Ngày nay, mặc dù khoa học hiện đại rất phát triển nhưng vẫn chưa tìm ra được lời giải thích xác đáng cho hiện tượng kỳ lạ của bà Culaghina.
Theo ĐS&PL
Nguồn: VTC News (Ngày 23/9/2011)


Thông tin tham khảo thêm: (tiếng Anh)


http://en.wikipedia.org/wiki/Nina_Kulagina

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

Hiện tượng nhập vong dưới ánh mặt trời

Năm 2008 tại số 1 phố Đông Tác (Hà Nội), lần đầu tiên các nhà khoa học nhiều ngành được mời chứng kiến hiện tượng áp vong.
Linh hồn người chết nhập vào người sống nói chuyện mình. Hiện tượng đó diễn ra trước mắt các nhà khoa học đã tạo ra một cơn sốt thực sự trong các nhà khoa học lúc bấy giờ. Chỉ sau vài năm, hàng trăm trung tâm giao lưu âm dương, có khả năng gọi hồn, áp vong khiến linh hồn người chết nhập vào bất kỳ người nào. Dựa vào nhu cầu xã hội, áp vong, gọi hồn phổ biến áp dụng trong việc đi tìm mộ thất lạc, mộ người thân và đặc biệt là mộ liệt sĩ.

Chỉ riêng tỉnh Nghệ An đã có tới 15 trung tâm tìm mộ liệt sĩ. Ngoài ra hàng trăm trung tâm khác gọi hồn, bói toán, trừ ma... cũng ứng dụng hiện tượng áp vong, mọc lên như nấm sau mưa. Các trung tâm tìm mộ liệt sĩ trong 4 năm qua đã tìm được hàng vạn mộ liệt sĩ với những tình tiết ly kỳ, nhiều khi đến rùng rợn.


Đã có hiện tượng vong nhập ở trung tâm, dưới sự mời gọi của nhà ngoại cảm, lại có hiện tượng tự nhiên bị vong nhập. Có hiện tượng mấy em học sinh THCS bỗng bị vong nhập chỉ mộ liệt sĩ ngay tại sân trường, có người vong nhập xong không đi, suốt ngày điên loạn, mãi đến khi vào viện tâm thần vong mới đi. Đã có người chết vì vong nhập.


Nhưng đáng lo là trong số hàng vạn mộ liệt sĩ do các trung tâm ngoại cảm tìm thấy có bao nhiêu hàng thật và bao nhiêu hàng giả? Có bao nhiêu nhà mang tổ mối, đất bùn về thờ cúng.... Có nhà ngoại cảm nổi tiếng đã tuyên bố một câu xanh rờn: Nếu thử AND tất cả các mộ mà các nhà ngoại cảm tìm được, chỉ cần chính xác đến 3% tôi sẽ bán toàn bộ gia sản để đền bù!


Chuyện tìm mộ liệt sĩ là chuyện lớn. Cho đến nay còn có 650 ngàn liệt sĩ và bộ đội mất tích chưa tìm thấy mộ. Việc các nhà ngoại cảm tìm mộ liệt sĩ nếu chính xác sẽ được động viên, giúp đỡ. Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội đã trả lời như vậy. Nhưng theo chúng tôi tất cả các mộ liệt sĩ do các nhà ngoại cảm tìm thấy cần phải thử AND sẽ xác định chính xác hơn.


Gọi hồn - vong nhập tâm linh và khoa học


Gọi hồn, vong nhập là hiện tượng linh hồn người khác, có thể là thánh thần, cũng có thể là người đã chết nhập vào cơ thể người sống, điều khiển người sống đưa ra các chỉ dẫn của linh hồn. Hiện tượng này giống như lên đồng (thật), hoặc là nhập hồn.

Theo các tài liệu nghiên cứu tôn giáo, nhập hồn, lên đồng là một hoạt động tôn giáo có nguồn gốc đến hàng ngàn năm trước của con người. Đó có thể là Saman giáo, một dạng lên đồng nhập hồn của vùng đồng cỏ Siberi – Mông Cổ, lên đồng như hợp thể với vũ trụ của Đạo giáo (Trung Quốc) và cũng là gốc của đồng bóng Việt Nam, phù thuỷ, thầy cúng của các văn hoá tiểu đảo...


Vong nhập, lên đồng... là một trạng thái tâm lý đặc biệt, một trạng thái bệnh lý xuất phát từ vô thức, theo danh mục các loại bệnh tâm thần của Tổ chức Y tế thế giới được xếp vào loại hội chứng lên đồng.


Một người bị vong nhập tức là người đó không bình thường, có vấn đề về thần kinh hoặc tâm thần (nhẹ hoặc nặng). Nguồn gốc của hiện tượng vong nhập là sự tương tác của ám thị lạ và tự ám thị. Khi một người đi áp vong, hoặc lên đồng thường ngồi tập trung như ngồi thiền để đầu óc trống rỗng. Trạng thái này đưa bộ não trở về vô thức.


Trong trạng thái khởi đầu vô thức, người đó vẫn nhận biết xung quanh, tiếp nhận các ám thị lạ như về liệt sĩ, về đau thương, về chiến trận qua thầy pháp hoặc nhà ngoại cảm. Khi bộ não chìm vào vô thức các tác động từ bên ngoài sẽ là ám thị lạ  tạo ra sự tự ám thị. Trong trạng thái tự ám thị nhiều khi rất mạnh mẽ đặc biệt đối với những người có thế năng bệnh tâm thần cao, bộ não sẽ nhào nặn, xây dựng thành các kịch bản đặc biệt. 


Cái đáng sợ là hiện tượng vong nhập thường xảy ra ở những người yếu bóng vía hoặc vừa trải qua một cơn biến động tâm lý, ví dụ vừa ốm dậy, hoặc thường có tình trạng bất bình thường, tức là đã có dấu hiệu của bệnh tâm thần.


Thế năng của bệnh đã đủ lớn nhưng do kiềm chế của bộ não bệnh chưa phát ra. Tuy nhiên nếu dự các buổi áp vong và bị vong nhập thì cuộc áp vong giống như giọt nước cuối cùng làm cho thế năng tâm thần được giải phóng và gây bệnh. Đây là quan điểm của bác sĩ Trần Văn Cường, nguyên Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Trung ương. 


Tiêu biểu có đại gia đình ở Phúc Thọ (Hà Nội) đã bị vong nhập khủng khiếp khiến người mất mạng, người phát điên. Cụ thể, người bị vong nhập đến chết là chị Cấn Thị Lâm, con ông Cấn Văn Hùng. Những người khác như chị Cấn Thị Nhung, Cấn Thị Thuỷ (con gái ông Cấn văn Dũng, anh trai ông Hùng) và một người con dâu trong nhà cũng bị vong nhập thành điên khùng.


Không chỉ 4 người phụ nữ bị điên, mà cả 3 anh em ông Hùng, ông Dũng và ông Phi cũng bị vong nhập đến mức nổi điên. Chỉ đến khi gia đình đưa những người này vào Bệnh viện Tâm thần Trung ương và Bệnh viện Bạch Mai chữa trị thì họ mới trở lại bình thường.


Tình trạng các trung tâm giao lưu âm dương nở rộ như cỏ mùa mưa đã làm tăng hàng trăm bệnh nhân tâm thần. Riêng tại Nghệ An đã có trên 20 người sau các buổi áp vong phải vào bệnh viện tâm thần điều trị. Theo Ths. Nguyễn Mạnh Quân, chuyên gia về thôi miên y học, chuyện áp vong bây giờ mới phổ biến ở nước ta là do công tác chống mê tín dị đoan tiến hành mạnh mẽ trong những năm cuối thế kỷ trước. Bây giờ việc tâm linh cũng được cởi mở và phát triển hơn.


Nhưng cách đây hơn 100 năm, tại Mỹ và châu Âu, hiện tượng này cũng nở rộ và gây nên làn sóng mê tín dị đoan với nhiều hậu quả nghiêm trọng. Sau khi hàng loạt các công trình khoa học được công bố, giải mã hiện tượng này người ta mới tin linh hồn không nhập lung tung vào người như vậy.


Có tồn tại linh hồn?


Do các nghiên cứu con người sau chết đang được tiến hành và đã nhận thấy có dấu hiệu của tình trạng thoát “khí” một dạng năng lượng khỏi cơ thể con người, có sự tụ tán theo quy luật của các thể “khí” đó, dẫn đến sự nghi vấn có tồn tại linh hồn.


Mặt khác cũng đã có nhà ngoại cảm tìm được mộ thật được xác định sau khi thử AND, cũng như có những hiện tượng khoa học chưa giải thích được như thần giao cách cảm, giác quan thứ 6, giấc mơ tiên đoán cho nên các nhà khoa học cũng chưa phủ nhận hoàn toàn hiện tượng vong nhập. 

 Tuy nhiên cần xác định rằng hiện tượng vong nhập thật sự (nghĩa là có linh hồn nhập vào người sống, không phải hiện tượng tự ám thị) rất ít. Cũng như các đồng bóng hiện nay mặc dù đã lên đồng nhưng nhập đồng thực sự gần như không có. Họ chỉ diễn đồng thôi.

Nhưng linh hồn có thật không? Phải có linh hồn, tức là vong mới có thể nhập vào ai đó. BS.TTND Nguyễn Xuân Hướng, nguyên Chủ tịch Hội Đông Y Việt Nam cho biết, từ xa xưa Đông y đã luôn công nhận con người gồm hai phần hồn và xác. Vì Đông y lấy thuyết âm dương và khí huyết làm chủ. Con người sống được là nhờ âm dương cân bằng và khí huyết đầy đủ.


Khí là vô hình, huyết là hữu hình. Khi người ta chết, Đông y có câu "hữu hình - hữu diệt, vô hình - bất diệt", nghĩa là những cái nhìn thấy được - hữu hình: Xương, thịt, huyết... mất đi, vô hình - khí tồn tại vĩnh cửu trong không gian.


Theo một số nhà nghiên cứu khác thì phần hồn cũng không thể tồn tại mãi mãi bởi chúng là các hạt điện sinh học. Tùy thuộc mức độ năng lượng sinh học của mỗi vong hồn mà các vong hồn khác nhau có tần số bước sóng sinh học khác nhau, trở thành các vong khác nhau. Các loại tần số này là vô số và tốc độ được xếp từ thấp đến cao và siêu siêu tốc.


Cũng vì thế các siêu linh này không còn khái niệm về thời gian và không gian. Siêu linh có mặt ở khắp nơi, ở mọi không gian không tính thời gian. Nói đơn giản là họ có mặt ở mọi lúc, mọi nơi.


Tuy nhiên lý thuyết của các nhà khoa học này cũng chỉ mới là giả thuyết, chưa thể chứng minh!

Trần Việt/An ninh thủ đô

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Cảm xạ đi bộ trên than hồng là trò bịp?

Các nhà ảo thuật thường châm lửa cho một chậu than dài chừng 3m để chuẩn bị cho màn trình diễn của mình. Tuy nhiên, thật ngớ ngẩn nếu họ ngay lập tức rảo bước trên đám lửa đang bùng cháy ở chậu than. Hãy tưởng tượng bạn đang đun nóng một chảo nướng kim loại trong bữa tiệc barbecue

Màn trình diễn đi bộ trên than hồng nóng hơn 500 độ C ở Hải Phòng đêm 21/5 vừa qua khiến những người chứng kiến phải rùng mình. Không ít người cho rằng, các cảm xạ viên này đang sử dụng một nguồn năng lượng siêu nhiên. Tuy nhiên, theo trang web HowStuffWorks Express, đây chỉ là “trò lừa”.




Màn đi trên than hồng đêm 21/5 được 150 cảm xạ viên từ những lớp cảm xạ đến từ Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng… biểu diễn. Theo VTC, trước khi biểu diễn đi trên than hồng, các cảm xạ viên đã luyện tập bài hút năng lượng từ cây trên núi Thiên Văn ở quận Kiến An (Hải Phòng).
Trang web này cho rằng, thông thường, trong suốt buổi trình diễn này, người xem luôn luôn để mắt tới chậu than đang cháy hồng. HowStuffWorks Express khẳng định, những hòn than nóng rực lửa trên chiếc chậu kim loại này hoàn toàn là “hàng thật” và con người quả thực đặt chân trần trên đó.

Tuy nhiên, sở dĩ các “ảo thuật viên” có thể đánh lừa người xem là bởi đặc điểm vật lý khác thường của chính những viên than.

“Các nhà ảo thuật thường châm lửa cho một chậu than dài chừng 3m để chuẩn bị cho màn trình diễn của mình. Tuy nhiên, thật ngớ ngẩn nếu họ ngay lập tức rảo bước trên đám lửa đang bùng cháy ở chậu than. Hãy tưởng tượng bạn đang đun nóng một chảo nướng kim loại trong bữa tiệc barbecue. Giờ thì thử nghĩ xem bàn chân trần của những người trình diễn là những miếng thịt băm. Nó chắc chắn sẽ bị cháy xém chỉ trong một phần nghìn giây”, HowStuffWorks Express nhấn mạnh.
HowStuffWorks Express cho rằng, các chậu than thường được đốt cháy trước khi biểu diễn.
Ảnh: Zing/VTC


Vậy làm sao các ảo thuật gia có chịu nổi nhiệt khi đi qua những chậu than dài tới 3m? Theo trang web này, những người trình diễn thực ra không đi trên lửa. Chính xác hơn, họ đi bộ trên những hòn than đang tàn lửa bởi những chậu than được châm lửa từ trước khi biểu diễn rất lâu để đảm bảo rằng, đến thời gian trình diễn, các hòn than không còn lửa cháy.

Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy, các buổi biểu diễn đi bộ trên than này luôn luôn diễn ra vào buổi tối bởi nếu được thực hiện dưới ánh sáng ban ngày, người xem có thể dễ dàng nhận thấy, chậu than không khác gì một đám tro. Không chỉ vậy, các nhà ảo thuật còn rắc một lớp bụi trên các viên than để hạ nhiệt. Tuy nhiên, ánh sáng nhập nhèm của buổi đêm khiến người xem khó có thể phát hiện.

Thêm vào đó, các ảo thuật gia cũng không bao giờ mạo hiểm dậm chân tại chỗ trên chậu than. HowStuffWorks Express giải thích, những hòn than được đem ra trình diễn có xuất phát điểm là những mảnh gỗ, nhưng vì nó được đốt cháy trước khi biểu diễn nên những hòn than này biến thành một loại carbon nhẹ, như than củi. 
Người biểu diễn thực ra chỉ đi bộ trên những hòn than đang tàn lửa. Ảnh: Zing/VTC


Nếu cầm trong tay một trong những viên than carbon này, bạn sẽ thấy nó rất nhẹ. Carbon là một nguyên tố nhẹ nên trong lượng của các khung xe đạp làm từ sợi carbon hay vợt tennis đều không lớn.

Cấu trúc của carbon nhẹ này là một chất dẫn nhiệt rất kém. Sẽ mất rất nhiều thời gian để nhiệt có thể truyền từ hòn than đang tàn tới da người. Trong khi đó, tro bụi lại là một chất cách nhiệt rất tốt. Như vậy, quá trình dẫn nhiệt của những hòn than với lớp bụi phủ trên đó còn bị "giảm tốc" hơn nữa.




Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tiến trình dẫn nhiệt không diễn ra. Nếu đứng một chỗ, than có thể đốt cháy da chân người biểu diễn. Do đó, ảo thuật gia phải "lướt" rất nhanh trên chậu than để không bị bỏng.

Theo Trà My/baodatviet.vn

(theo http://tongiaovadantoc.com/c1044/20110525172242637/cam-xa-di-bo-tren-than-hong-la-tro-bip.htm) 

Đi trên than hồng là chuyện bình thường:

http://hcm.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/di-tren-than-hong-la-chuyen-binh-thuong-c46a381029.html
Theo các chuyên gia thì hiện nay trên thế giới và Việt Nam việc đi trên than hồng đã được nhiều người thực hiện, do chân chỉ tiếp xúc với than hồng trong một thời gian nhất định, rồi bước đi tiếp nên việc đi trên than hồng là điều đơn giản...
Xuất phát từ tín ngưỡng

Ở một số dân tộc vùng cao của Việt nam như xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì, Hà Giang thường tổ chức những cuộc thi đi trên lửa vào dịp đầu năm mới. Ngày tổ chức lễ hội được các già làng, trưởng họ hay Thầy Tào xem xét kỹ lưỡng, từ mồng 2 - 5 tháng Giêng âm lịch. Để đi trên lửa, người dân đã đốt những đống củi to ngay từ rất sớm, khi củi cháy hết người dân sẽ lấy than hồng rực để rải thành "tấm thảm".

Những người "đùa với lửa" sẽ ngồi "hầu lễ" ngay từ đầu buổi, họ lấy que tre gõ liên tục vào những ống vầu đã chuẩn bị từ trước và Thầy Tào sẽ khấn vái xin "thần lửa" về cùng chung vui với dân làng. Khi "thần lửa" đồng ý, từng đôi một sẽ vào nhảy trên những đống than bằng những bước chân trần. Khi đôi trước  nhảy xong, đôi tiếp theo sẽ vào hầu lễ rồi tiếp tục vào nhảy, cứ như thế cho đến hết lễ hội.

Những lễ hội này thường thu hút rất đông thanh niên chưa có gia đình, họ đến đây với mong ước sẽ tìm được người hợp duyên để kết duyên với nhau thành vợ, thành chồng. Đến mùa xuân sau, họ lại dìu dắt nhau đi lễ hội mong thần lửa phù hộ cho tình yêu, hạnh phúc, mùa màng tươi tốt, ấm no...
Đi trên than hồng là chuyện bình thường, Tin tức trong ngày, di tren than, cam xa, bong, cam xa vien, chan tran, than hong, tin tuc 24h
Học viên lớp cảm xạ học Tạ Quang Thanh bước qua than hồng như đi trên mặt đất
Không chỉ ở Việt Nam, mà ở một số quốc gia trên thế  giới cũng có những lễ hội đi trên than hồng. Ở Ấn Độ người ta đã có những bằng chứng, chứng minh rằng lễ hội đi trên than hồng đã có từ 1.200 năm trước Công nguyên. Cho đến nay, những lễ hội kiểu này vẫn được duy trì. Chúng thường gắn với một số tín ngưỡng tôn giáo nào đó, chẳng hạn, mỗi người phải đi trên lửa ít nhất một lần, phải bê cục than hồng trên tay rồi chuyển cho người khác... Những hành động này nhằm chứng minh cho hành động của những người thực hành nghi lễ là tốt về bản chất, hoặc thể hiện sức mạnh siêu nhiên của thần thánh, cầu mong sự ban ơn của đấng tối cao cho con người ấm no, hạnh phúc.

Chuyện bình thường

TS Vũ Thế Khanh, Giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ Tin học Ứng dụng UIA cho biết: Việc đi chân trần trên than hồng được những người luyện tập trong bộ môn yoga, cảm xạ học thực hiện là bình thường. Ở Trung Quốc nhiều người có khả năng biểu diễn nung các thanh sắt nóng hàng nghìn độ để quệt vào các vị trí trên cơ thể. Để có thể có khả năng đặc biệt như thế những người này phải trải qua một quá trình tập luyện rất công phu và kiêng kỵ nhiều thứ.
Đi trên than hồng là chuyện bình thường, Tin tức trong ngày, di tren than, cam xa, bong, cam xa vien, chan tran, than hong, tin tuc 24h
Nhiều người có thể đi trên than hồng vì khi da chân tiếp xúc với than chỉ trong thời gian ngắn, rồi chân được nhấc lên
Theo ông Khanh, các cảm xạ viên ở Hải Phòng có thể đi trên than hồng ở nhiệt độ trên 500 độ C một cách bình thường như đi trên mặt đất nhờ một phần tập luyện khí công, kết hợp phương pháp tập yoga. Nhiều người có thể đi trên than hồng vì khi da chân tiếp xúc với than chỉ trong thời gian ngắn, rồi chân được nhấc lên. Lòng bàn chân chỉ tiếp xúc với than trong khoảng thời gian ngắn như thế, lớp da chân sẽ không chịu sự tác động của than ở nhiệt độ cao. Giống như khi người ta biểu diễn chạy trên các tấm cót dưới nước. Trước khi chạy họ phải vận khí công, chỉ được tiếp xúc nhanh, khẽ chạm trên những tấm cót này để chạy qua một cách nhẹ nhàng.

Theo ông Nguyễn Phúc Giác Hải, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người,  trong chương trình Chuyện lạ Việt Nam, đã từng có người biểu diễn đi trên than hồng ngay tại trường quay S9 Đài Truyền hình Việt Nam năm 2005. Khi đó những cục than đá được nung đỏ, trải ra một tấm thảm có chiều dài là 5m, người đi qua dải than hồng đó không có sự hỗ trợ nào cả, chỉ đi bằng chân trần nhưng người đó đã đi qua, đi lại 3 lần.
Sự tin tưởng tuyệt đối là sẽ không bị bỏng cộng với điệu nhảy tốc độ là bí quyết của việc đi trên thảm lửa. Các chuyên gia của Đức đã xác định chính xác được nhiệt độ mà đôi chân trần phải chịu trong một lần tổ chức lễ hội của thổ dân đảo Fiji. Lúc cao nhất, nhiệt độ dưới bàn chân người nhảy múa lên tới 80 độ C trong khi than nóng những 330 độ C.
Ở đây chúng ta cần xét hai yếu tố. Thứ nhất, xét trên trạng thái cơ thể, không phải lúc nào cơ thể chúng ta cũng có thể làm những việc khác thường như thế được. Mỗi người có khả năng khác nhau như một số người có thể dùng lưỡi liếm dao đã nung đỏ. Ta có thể gọi đó là trạng thái xuất thần của cơ thể. Thứ hai, trước khi họ thực hiện cần phải đọc một câu thần chú, xin phép một ai đó để thực hiện và phải làm một số động tác như múa may quay cuồng, trạng thái lâng lâng, để cơ thể trở về vô thức.

Ông Hải cho hay, ông đã từng tự tay mình bốc than hồng lên để truyền từ tay nọ sang tay kia một cách bình thường mà tay không bị bỏng. Và trường hợp những người đi trên than hồng với nhiệt độ trên 500 độ C cũng vậy. Việc chuẩn bị về mặt tinh thần, nâng khí lên cơ thể và tập luyện về mặt sức khoẻ, quyết tâm bước qua những đống than hồng là những điều cần thiết cho mỗi người. Thực ra đây cũng là việc không có gì lạ lắm. Nếu chúng ta quan sát kỹ khi người đi trên than hồng, tiết diện bàn chân chỉ chạm nhẹ với than hồng rồi nhấc chân lên để bước đi tiếp. Như thế có thể bước đi bình thường trên mặt than hồng mà không sợ bị bỏng chân. Chúng ta đều có thể bước trên than hồng nhưng không thể đứng một chỗ, như thế chắc chắn chân sẽ bị nướng thành than.
BS Đặng Văn Quế, nguyên chuyên viên pháp y Bệnh viện Việt Đức cho biết, việc đi trên than hồng không để nhằm mục đích chính là chữa bệnh ra mồ hôi chân hay chân bị hôi thối. Việc đi trên than hồng giúp cho con người ta khỏe mạnh, rèn luyện tinh thần, chiến thắng mọi khó khăn trong cuộc sống.

Khi ai đó đi được trên than hồng là kết quả của quá trình tập luyện. Chúng ta biết rằng việc một số người bị bệnh ra mồ hôi, hôi thối tay chân là do bị tổn thương thần kinh, stress, cũng có thể là do tuyến cường gián đoạn... điều này chúng ta có thể điều trị bằng các phương pháp nội khoa. Nhưng nhờ quá trình đi trên than hồng cơ thể sẽ chế ngự được những thứ bệnh tật liên quan đến hệ thần kinh ở ngoài da.

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2011

Bí ẩn về chết lâm sàng

Trong thực tế đã có những người chết đi sống lại, sau đó có khả năng đặc biệt như chữa bệnh không cần dùng thuốc, có khả năng giao tiếp với "người cõi âm", bỗng nhiên nói được nhiều thứ tiếng… Y học gọi đó là chết lâm sàng. Vậy chết lâm sàng là gì? Có mối liên hệ nào giữa chết lâm sàng với những khả năng đặc biệt?Tỷ lệ chết lâm sàng là 2/10.000 ca

Theo BS Đặng Văn Quế, phó giám đốc Bệnh viện Mắt Quốc tế thì chết lâm sàng là tình trạng tim, phổi ngừng hoạt động hoặc hoạt động rất yếu, các tri giác mất hoàn toàn, chân tay mềm nhũn, lòng tử mắt giãn ra, một số hoạt chất như axitlactic và phốt pho tăng lên, hiện tượng giáng hóa và tổng hợp trong cơ thể bị đảo lộn.

Bằng một số phương pháp như điện tim, điện não đồ có thể thấy được một người chết lâm sàng thường xuất hiện đường đẳng nhiệt, tức là không có dấu hiệu của việc tim hay não hoạt động. Như vậy có thể nói chết lâm sàng là ranh giới giữa sự sống và cái chết.


Còn theo TS Vũ Thế Khanh, tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ Tin học ứng dụng (UIA), chết lâm sàng vẫn xảy ra trong thực tế dù tỷ lệ rất thấp, chiếm khoảng 2/10.000 ca.


"Trước đây, khi cải mả (tiến hành sau khi người chết đã chôn được 3 năm), người ta thấy bộ xương người trong tư thế nằm sấp xuống, hoặc xương ống chân chống lên, dù trước đó tay, chân đã được buộc cố định trong quan tài. Đó là bằng chứng của việc người đã chết nhưng sống lại, họ đạp, đẩy nhưng không thành vì chết ngạt", ông Khanh lý giải.


Cũng theo ông Khanh, thông thường, chết lâm sàng dễ rơi vào những trường hợp chết nghẹn, nhất là khi người đó còn trẻ vì ngày trước việc tổ chức tang ma cho người trẻ thường diễn ra rất nhanh. Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa chết lâm sàng với hiện tượng "quỷ nhập tràng". "Chết lâm sàng là việc người ta sống lại khi tưởng như đã chết, còn "quỷ nhập tràng" là hiện tượng người đã chết rồi, có con mèo nhảy qua, do có điện tích trái dấu nhau đã làm cho xác người chết ngồi bật dậy nhưng không thể sống lại được", ông Khanh nhấn mạnh.


Chết sau 10 - 12 giờ có khả năng sống cao nhất

Vậy chết lâm sàng diễn ra trong khoảng thời gian là bao lâu? Theo ông Khanh, thông thường, sau khi một người xác định là đã chết sẽ phải mất khoảng 10 - 12 giờđể thần thức ra khỏi cơ thể (hồn lìa khỏi xác). Trong thời gian này, mặc dù tim, phổi ngừng đập nhưng não bộ vẫn hoạt động, họ vẫn nhận biết được các hoạt động xung quanh. Bất kể một sự va chạm nào vào phần xác của người chết cũng gây ra sự đau đớn. Đây là giai đoạn có nhiều người hồi sinh và hồi sinh dễ nhất. Cũng có người sống lại sau 8, 9 ngày tưởng như đã chết nhưng về cơ bản, sau khi chết được 12 tiếng thì khó hồi sinh hơn vì khi đó thần thức đã hoàn toàn ra khỏi cơ thể.




Trong thời gian chết lâm sàng, bệnh nhân vẫn nhận biết được các hoạt động xung quanh.
Ông Khanh lấy dẫn chứng trường hợp của anh Nguyễn Văn Chiều (Gia Lâm, Hà Nội) bị điện giật cháy đen. Sau 9 ngày nằm viện, anh Chiều tỉnh lại và kể rằng, anh bay lơ lửng trong không trung, nhìn thấy xác mình đen lại thì rất sợ, xung quanh là người thân khóc lóc. Sau đó, có người cứ đẩy anh về phía cái xác đen thui kia và rồi anh sống lại. "Anh ấy bị điện giật khoảng năm 1994 - 1995 và mới mất cách đây chừng 5 năm", ông Khanh cho biết.

Mối liên hệ giữa chết lâm sàng với khả năng đặc biệt


Với nhiều ca chết lâm sàng được ghi nhận thì sau khi sống lại họ có khả năng đặc biệt. Ông Khanh cũng khẳng định điều này là có thật. Ông lập luận "ngay với trường hợp của anh Chiều, sau khi tỉnh lại anh có khả năng chữa bệnh mà không cần thuốc. Sau đó, anh sáng lập và làm giám đốc Trung tâm Tâm năng dưỡng sinh phục hồi sức khoẻ (thuộc UIA) cho đến khi mất".


Thật thú vị khi chúng tôi được biết chính TS Vũ Thế Khanh cũng đã từng rơi vào trạng thái chết lâm sàng. Ông kể lại, hồi ông chừng 10 tuổi, giữa trưa hè tháng sáu ông có ra đồng bắt cua. "Mệt quá, tôi lên bờ nằm. Đáng lẽ phải tìm đến một gốc cây nào đó nhưng giữa cánh đồng làm gì có cây to. Thế nhưng, lạ là tôi dần dần có cảm giác mát mẻ vô cùng, thấy mình như đang bay và nhìn thấy người mình đang nằm, úp chiếc nón lên mặt. Tôi còn thấy cảnh cả nhà đổ xô đi tìm rồi vác tôi về nhà. Sau lần đó, tôi bị ốm một trận "thập tử nhất sinh" trong ba tháng, tóc tre rụng dần, thay vào đó là tóc tơ mềm. Tôi cảm giác việc học hành cũng sáng dạ hơn, lớp 5 mà tôi đã có thể giải toán của các anh chị lớp 7", ông Khanh nhớ lại.


Tuy nhiên, theo BS Đặng Văn Quế, mặc dù vẫn có những trường hợp chết đi sống lại rồi có khả năng đặc biệt như gọi hồn gọi cốt, bỗng nhiên nói được rất nhiều thứ tiếng (một trường chết lâm sàng ở Nga suốt 17 năm, sau khi sống lại người này đã nói được cả tiếng Đức, Anh, Mỹ...) song điều đó cũng chưa thể chứng tỏ việc chết lâm sàng sẽ đem lại cho con người những khả năng đặc biệt. Bởi trên thực tế thì y học vẫn có thể can thiệp để đưa một người bình thường về trạng thái chết lâm sàng trước khi phẫu thuật cho an toàn, ví dụ như giảm thân nhiệt của cơ thể, làm giảm nhịp đập của tim, phổi khiến con người không còn thở nữa, hoặc thở rất ít.


"Tôi có để ý một số trường hợp phẫu thuật não khi còn làm ở Bệnh viện Việt Đức. Đó là trong quá trình phẫu thuật, phẫu thuật viên có thể tác động đến một vùng vào đó của não gây ra một sự thay đổi nhất định mà chính họ cũng không biết. Lấy ví dụ như trường hợp tác động lên vùng trung tâm nói của cơ thể nằm trong bán cầu não trái, việc này có thể khiến một người từ đang nói bình thường trở thành câm, liệt nửa người bên phải và ngược lại. Có thể quá trình phẫu thuật đó đã vô tình kích thích một vùng nhạy cảm nằm trong hệ thần kinh dẫn đến phát sinh khả năng đặc biêt. Nhưng đó chỉ là giả thiết thôi, còn về góc độ y khoa thì chưa thể giải thích được hiện tượng này", BS Quế nói.


Đã có nhiều nhà khoa học dày công nghiên cứu về mối liên hệ giữa chết lâm sàng với những khả năng đặc biệt. Thế nhưng vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Và mối liên hệ giữa chết lâm sàng với những khả năng đặc biệt vẫn còn là điều bí ẩn.



"Chúng ta cần phân biệt chết lâm sàng với chết sinh vật. Chết sinh vật là triệu chứng tim vẫn đập, vẫn thở nhưng hệ thống thần kinh không hoạt động. Trong một số tai nạn thì nạn nhân vẫn có thể rơi vào trạng thái chết lâm sàng, nhưng chỉ diễn ra trong một thời gian rất ngắn, khoảng vài giây. Nếu được cấp cứu kịp thời, nạn nhân hoàn toàn có thể trở về trạng bình thường và tránh được những cái chết oan uổng".

"Trong dân gian vẫn dùng những cách thử để xem người chết có rơi vào trạng thái chết lâm sàng, chưa chết hẳn hay không. Đó là dùng một mảnh gương đặt sát miệng hoặc dùng một sợi tóc đặt trước mũi người chết. Nếu thấy mảnh gương mờ đi hoặc sợi tóc vẫn động đậy chứng tỏ người đó chưa chết hẳn".


BS Đặng Văn Quế

(Theo Bee.net.vn)

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Những khám phá mới về cơ thể con người


Trên thế giới của chúng ta có vô vàn điều kỳ lạ mà con người chưa khám phá hết, trong đó có những điều thuộc về con người. Nhân kết thúc năm thập kỷ đầu thế kỷ 21, Mạng tin khoa học tự nhiên (MNN) của Mỹ đã giới thiệu những khám phá mới nhất cũng như những thành tựu khoa học tiêu biểu mà con người đạt được trong quá trình “nâng cấp” cơ thể con người, đặc biệt là những thành tựu trong lĩnh vực y sinh chữa bệnh và làm đẹp.

Vô vàn điều kỳ lạ về cơ thể con người
Một tế bào não người có thể lưu giữ lượng thông tin gấp 5 lần dung lượng của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học còn phát hiện ra nhiều điều thú vị về não. Đầu thập niên 80, nhà thần kinh học Marian Diamond thuộc Đại học California (Mỹ) đã tiến hành phân tích một số lát cắt lấy từ thùy trên đỉnh sọ và vùng vỏ não trước trán của Einstein và phát hiện thấy, tỷ lệ tế bào đệm trên tế bào thần kinh của Einstein lớn hơn những người bình thường. Một trường hợp đặc biệt khác, sau khi nghiên cứu não cụ bà Hendrikje van Andel-Schipper (Hà Lan) - người qua đời ở tuổi 115 hồi tháng 8/2008, các chuyên gia ở Đại học Y khoa Groningen đã phát hiện thấy số lượng tế bào não tương đương tế bào trong não của những người trong độ tuổi 60 - 80.
Các xung thần kinh của não di chuyển tốc độ 170 dặm/giờ (khoảng trên 270 km/giờ), cao hơn tốc độ của những chiếc xe hơi đời mới và nhờ có tốc độ nhanh như vậy mà cơ thể nhận biết được nhanh các tín hiệu đau khi bị chấn thương. Não người tạo ra năng lượng giống như bóng đèn 10W, hoạt động mạnh cả vào ban đêm và khi ngủ, sử dụng 20% ôxy đi vào cơ thể qua đường máu. Tuy chỉ chiếm 2% trọng lượng cơ thể nhưng não lại là bộ phận tiêu thụ rất nhiều ôxy và là bộ phận dễ bị tổn thương nhất nếu bị cạn kiệt ôxy, vì vậy thở sâu có tác dụng tăng cường sức khỏe cho não. Về logic, khi người ta ngủ, não cũng nghỉ thế nhưng thực tế não lại làm việc nhiều hơn, chính vì vậy mà con người mới có những giấc mơ, thậm chí có rất nhiều giấc mơ phức tạp mà đến nay khoa học vẫn chưa tường hết. Mặc dù não là trung tâm điều hành, cảm nhận các tác động bên ngoài nhưng bản thân não lại không có các thụ thể cảm nhận đau nên nó không thấy đau. Não là bộ phận mềm có nhiều màu nhưng chủ yếu vẫn là màu xám, 80% là dịch lỏng vì vậy việc cung cấp đủ nước cho cơ thể đóng vai trò quan trọng, giúp não khỏe mạnh và làm việc tốt.
- Trong vòng 30 phút, cơ thể chúng ta có thể phát nhiệt đủ đun sôi một nửa galông nước (2,27 lít).
- Người tóc vàng có số lượng tóc nhiều hơn những người tóc đen. Theo các phát hiện mới thì màu tóc quyết định số lượng tóc. Trung bình một người tóc đen có khoảng 100.000 chân tóc, người tóc vàng có tới 140.000 chân tóc. Lông mặt mọc nhanh hơn các loại lông khác trên cơ thể. Đàn ông nếu không cạo râu thì râu cằm sẽ mọc dài tới 30 feet (trên 9 mét) trong cả cuộc đời, trung bình mỗi ngày trên đầu rụng mất 60 - 100 sợi tóc.Tóc phụ nữ nhỏ hơn một nửa so với tóc nam giới và một sợi tóc nam giới sẽ kéo được một vật nặng 3,5 aoxơ (100g), tuổi thọ của một sợi tóc từ 3 - 7 năm.
- Hầu hết, trẻ nhỏ sinh ra đều có mắt xanh.
- Hắt hơi có lượng gió phát ra với tốc độ 100 dặm/giờ (160km/giờ).
- Axít dạ dày khoẻ đến mức có thể "hóa lỏng" một chiếc lưỡi dao bào.
- Bộ phận lớn nhất của nội tạng con người là ruột non.
- Những người thuận tay phải có tuổi thọ dài hơn những người thuận tay trái tới 9 năm. Tuy nhiên, những người thuận tay trái thông minh hơn. Đó là kết luận của một nghiên cứu mới nhất do các chuyên gia Viện nghiên cứu khoa học tiến hoá Montpellier của Pháp thực hiện. Theo nghiên cứu này thì nhóm người thuận tay trái tồn tại là do có ưu thế tiến hoá. Đồng thời, tay phải của những người thuận tay trái cũng rất linh hoạt, thậm chí hai tay đều linh hoạt ngang nhau. Nếu trong gia đình có cả bố lẫn mẹ đều thuận tay trái, tỷ lệ con cái sinh ra cũng sẽ thuận tay trái tới 50%, ở những gia đình cả bố mẹ đều thuận tay phải thì tỷ lệ con cái thuận tay trái chỉ có 2%.
- Móng tay mọc nhanh nhất là ngón tay giữa.
- Trứng của cơ thể người phụ nữ là tế bào lớn nhất còn ở đàn ông tinh trùng là lại tế bào nhỏ nhất của cơ thể.
- Trẻ sơ sinh ra đời có tới 300 xương khác nhau trong khi đó người lớn chỉ có 206 xương.
- Khi di chuyển, cơ thể chúng ta sử dụng tới 200 cơ quan khác nhau cho một bước đi.
- Bàn chân của con người có thể sản xuất 1 pint (0,47 lít) mồ hôi mỗi ngày.
- Cứ 27 ngày, da con người lại thay mới một lần, trên 90% bệnh tật mà con người mắc phải là do stress. Rất đa dạng, như stress áp lực công việc, vì hôn nhân, tình yêu, vì gánh nặng gia đình con cái, vì thua kém bạn bè, vì ganh đua nơi làm việc...

Các tế bào thần kinh có chức năng lưu trữ ký ức về thời gian trong não.
Những tiến bộ trong lĩnh vực phẫu thuật, cấy ghép
- Năm 1954, lần đầu tiên cấy ghép thận thành công cho Richard Herrick, 23 tuổi, hiến thận cho người em trai song sinh của mình là Ronald. Họ là anh em song sinh giống hệt nhau về mặt di truyền học, vì vậy đã không có bất cứ vấn đề đào thải nào xảy ra.
- Năm 1966: Cấy ghép ca tụy thành công đầu tiên
- Năm 1967: Thực hiện thành công hai ca phẫu thuật tim và gan.
- Năm 1983: Thực hiện thành công ca phẫu thuật phổi.
- Năm 1998: Phẫu thuật thành công nối bàn tay.
- Năm 2005: Phẫu thuật cấy ghép một phần mặt cho người bệnh thành công.
- Năm 2008: Thực hành thành công ca phẫu thuật đầu tiên cấy ghép cả cánh tay cho con người. Đó là ca phẫu thuật do các chuyên gia ở Đại học Munich, Đức thực hiện, ghép thành công hai cánh tay cho ông Karl Merk, 54 tuổi, người bị mất cả hai tay trong một tai nạn khi mới 6 tuổi. Chỉ hai tháng sau cuộc phẫu thuật, Karl Merk đã có thể tự mở cửa và bật tắt đèn bằng chính đôi tay mới của mình. Cũng trong năm 2008, ca phẫu thuật cấy ghép thành công khí quản bằng cách dùng chính tế bào gốc của người bệnh, đưa một "giàn giáo" khí quản vốn là một bộ phận hiến tặng kết hợp với các tế bào gốc của một cậu bé bị mắc căn bệnh liên quan đến hô hấp. Ca phẫu thuật thực hiện tại Bệnh viện Great Ormond Street ở London (Anh) vào ngày 15/3/2010. Sau phẫu thuật, bệnh nhân có thể thở và nói chuyện một cách bình thường. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử con người thực hiện thành công ca cấy ghép nội tạng bằng cách dùng chính tế bào gốc của cơ thể người bệnh.

Phát hiện thú vị về cơ thể con người

Bạn nhìn mọi người và nhìn bạn trong gương sẽ thấy cơ thể chúng ta có vẻ như rất đối xứng: trên mặt, hai bên có hai tai, hai mắt, mũi ở giữa… Vậy thực ra cơ thể chúng ta có đối xứng hay không? Bạn bảo có, tôi bảo không. Đọc bài dưới đây xem ai đúng nhé.
Hình thức có vẻ đối xứng, nhưng chất lượng thì không
Chúng ta cùng xem xét từ trên xuống dưới để xem cơ thể chúng ta đối xứng và không đối xứng thế nào.
Tai phải xử lý thông tin tốt hơn tai trái: nghiên cứu của TS. Luca Tommasi và Daniele Marzoli thuộc Đại học Chieti (Italia) tiến hành quan sát thái độ của hàng trăm người về cách họ lắng nghe và cách họ phản ứng, cho thấy, con người thích nghe ở phía tai phải hơn bởi khi đó họ dễ xử lý thông tin hơn và dễ thực hiện yêu cầu được đề ra. Các nhà khoa học tin rằng “lợi thế tai phải”, là thông tin nhận qua tai phải được xử lý bằng bán cầu não trái có xu hướng giải mã thông tin bằng lời nói logic hơn và tốt hơn bán cầu não phải. Vì vậy, bí quyết để muốn ai đó thực hiện theo yêu cầu đặt ra là hãy nói vào tai phải của họ.
Mắt phải tinh hơn mắt trái: nghiên cứu của Đại học Vinhius (Liên Xô cũ) cho mỗi người thử nhìn ba vật thể khác nhau lần lượt bằng mắt phải, rồi mắt trái, cuối cùng là bằng cả hai mắt nhìn độc lập với nhau (dùng một tấm ngăn giữa hai mắt). Kết quả là ở tất cả mọi người, mắt phải đều xác định vật thể tốt hơn mắt trái. Từ đó kết luận rằng: Bán cầu não phải nhận thông tin thị giác nhanh nhạy hơn bán cầu não trái. Một thực tế là khi tập bắn súng, chúng ta dễ thấy hai mắt không đồng đều và có sức nhìn rất khác nhau. Nheo mắt phải thấy gượng, khó khăn và không kín bằng mắt trái. Nhưng mở mắt phải mà ngắm thì dễ bắt mục tiêu và bắn trúng hơn là nheo mắt phải, ngắm bằng mắt trái. Rõ ràng là mắt phải tinh hơn nhiều.
Năng lực của lỗ mũi bên trái và lỗ mũi bên phải có một số khác biệt tinh tế, nhất là cảm thụ mùi của lỗ mũi trái và phải không hoàn toàn giống nhau. Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi dùng lỗ mũi phải để ngửi ta thường có sự đánh giá “xông xênh” hơn. Nếu dùng lỗ mũi trái để phân biệt mùi thì kết quả sẽ chính xác hơn. Điều này được lý giải vì bán cầu não phải điều khiển cảm tính nên lỗ mũi phải chịu pha trộn sắc thái cảm tính. Lỗ mũi bên trái bị chi phối bởi bán cầu não trái nên sẽ nghiêng theo lý tính và thực tế.
Qua hình thức bề ngoài đối xứng, cơ thể giấu kín sự không đối xứng bên trong. Hai bán cầu não có hình dạng tương tự, song nửa não phải có những trung tâm chỉ huy các chức năng khác với chức năng do nửa não trái đảm nhiệm. Trái tim chỉ có một và không tròn trĩnh, lại còn đặt lệch sang ngực trái. Phổi phải to hơn phổi trái và có nhiều thùy hơn. Có một buồng gan thì lại xếp lệch sang bên bụng phải. Một lá lách, xếp lệch bên trái, một tụy tạng để lệch ở bên phải. Ruột non, ruột già sắp xếp ở hai bên phải trái chả cân đối tí nào. Hai quả thận thì quả to quả bé, thận trái cao hơn thận phải một đốt sống. Hai tinh hoàn ở nam cũng “kẻ 8 lạng người nửa cân”. Ở trình độ phân tử, đơn cử chất hữu cơ anilin tổng hợp thì có cả hai dạng phân tử quay phải và quay trái, nhưng trong cơ thể sống chỉ tồn tại một dạng phân tử anilin quay trái mà thôi.
Đại thể thì đối xứng nhưng chi tiết lại so lệch
Hai tay về đại thể rất cân xứng, nhưng về chi tiết, đường nét thì không: Nếu bạn thuận tay phải thì tay phải bao giờ cũng to hơn tay trái và ngược lại, bạn thuận tay trái thì tay trái rõ ràng to hơn tay phải. Bàn tay và các ngón tay, đường chỉ tay, đường vân tay khác nhau rất nhiều giữa hai bên phải trái. Bình thường, huyết áp ở hai cánh tay có thể chênh lệch nhau 10mmHg. Còn khi mắc bệnh, huyết áp hai tay hơn kém nhau tới 50mmHg, nhất là ở phụ nữ bị nhiễm độc thai nghén. Hai chân cũng y chang như thế. Nhìn chung, nửa người bên phải mạnh hơn nửa trái: hàm bên phải nhai nhiều và khỏe hơn, chân tay phải cũng cứng cáp hơn chân tay trái. Quả thận trái hay bị ứ nước và viêm bể thận hơn quả thận phải do các mạch máu vào thận trái được bố trí khác thận phải. Ở phụ nữ, tử cung thường vặn từ trái sang phải, làm cho dây chằng rộng bên trái căng hơn, cản trở tuần hoàn máu, do đó khi mang thai, chân trái hay bị phù hơn chân phải.
Có chuyện kể rằng, một em bé đi theo cha vào rừng kiếm củi, mải mê với tiếng chim kêu vượn hót không may bị lạc. Người cha trở lại chỗ con đứng lúc trước, rồi cứ xiên tay trái mà đi, quả nhiên tìm thấy con. Một người nhắm mắt hay bịt mắt mà đi thì thế nào cũng hướng về bên trái, vì chân phải khoẻ hơn chân trái, đẩy xuống đất mạnh hơn nên đã lái người sang trái. Còn có một giả thuyết cho rằng, ưu thế của nửa người phải là do một lực sinh ra khi trái đất quay. Minh chứng cho điều này, người ta thấy số người thuận tay trái ở Bắc bán cầu chỉ có khoảng 3%, nhưng ở Nam bán cầu lại rất nhiều, chẳng hạn ở Nam Phi tới 26%.
Như vậy là ý kiến của bạn và tôi đều đúng nhưng chưa đủ. Chúng ta lấy ý kiến của bạn và tôi bổ sung cho nhau là nhận thức đúng về cơ thể vừa đối xứng vừa không đối xứng của mình.