Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Sự quan trọng của Chánh niệm (Kinh Đại Niệm Xứ) - Thiền Sư U Sīlānanda

Vài lời giới thiệu

Từ lâu tôi luôn nghĩ rằng thực hành thiền Minh Sát là thực hành chánh niệm. Tôi nhận xét rằng tất cả những phương pháp hành thiền của những thiền sư hiện đại đều dạy thực hành chánh niệm trong kinh Tứ Niệm Xứ.
Mỗì một thiền sư danh tiếng tự chọn cho mình một “chuyên môn” theo kết quả kinh nghiệm cá nhân, nhưng chung quy vẩn dạy chánh niệm trong thiền Tứ Niệm Xứ hay thiền Minh Sát, hay Vipassana. Hiện nay danh từ Vipassana thường dùng để chỉ thiền Minh Sát, hay Tứ Niệm Xứ, rất phổ thông trong cộng đồng tu thiền.


May mắn thay mớì đây tôi có dịp đọc một quyển sách nhỏ tựa đề là “The Importance of Mindfulness,” phía dưới đề là “The Mahasatipatthana Sutta” của Hòa Thượng U Silananda Miến Điện viết. Tôi vô cùng hoan hỉ vì sự giảng giải ngắn gọn nhưng rõ ràng minh bạch về nghĩa lý hàm chứa trong kinh.

Tuy là quyển sách nhỏ, nhưng nó rất căn bản và là một kim chỉ nam cho những ai mới bắt đầu học thiền và hành thiền và cũng rất lợi ích cho những thiền sinh kinh nghiệm.

Nita Truitner
Minnesota
Mùa Đông 2003
Lời tựa

Quyển kinh “Sự Quan Trọng Của Chánh Niệm” là bảng ghi âm lại của những bài Pháp thoại Hòa Thượng U Silananda giảng tại Seven Bridge, Ontario, Canada với tựa đề “Bốn đối tượng đặt nền tảng của Chánh Niệm.” Đây là một bài giảng về sự quan trọng của chánh niệm do Đức Phật giảng trong kinh “Đại Niệm Xứ” tiếng Pali là kinh “Mahasatipatthana Sutta.”

Hòa Thượng U Silananda là Thiền Sư trụ trì tu viện Dhammananda Vihara ở Half Moon Bay California.  Ngài cũng là vị lảnh đạo tinh thần tối cao của Thiền Viện Dhammachakka ở Berkeley, California.

Năm 1979, Ngài sang Hoa kỳ với Đại Lão Hòa Thượng Mahasi Sayadaw, vị Thiền sư danh tiếng bậc nhất ở Miến Điện. Sau đó Ngài được Hòa Thượng Mahasi Sayadaw chọn ở lại Hoa Kỳ để hoằng Pháp ở Hoa Kỳ cũng như ở những nơì khác.

Hòa Thượng U Silananda hoằng dương giáo pháp, giảng dạy rất rành mạch Pháp môn thiền quán cho quần chúng tu tập hành thiền, nhứt là thiền Minh Sát trong kinh Đại Niệm Xứ.

Những bài giảng, Pháp thoại được thu thập và đúc kết thành một tuyển tập được xuất bản trong quyển sách tựa đề là “Kinh Đại Niệm Xứ”  “The Four Foundations of Mindfulness” (nhà xuất bản Wisdom Publications, Boston, 1990, ed. Ruth-Inge Heinze).

Bài Pháp thoại nầy trước kia được in thành sách do Buddha Sasana Yeiktha ấn tống năm 1999.

Đoạn mở đầu kinh Đại Niệm Xứ

Nầy Chư Tỳ Khưu, đây là con đường độc nhứt để thanh lọc tâm chúng sanh, chấm dứt lo âu phiền muộn, diệt trừ khổ ưu, đạt Thánh đạo, và chứng ngộ Niết Bàn, đó là Tứ Niệm Xứ.

Thế nào là bốn:

Nây Chư Tỳ Khưu, ở đây thầy Tỳ Khưu sống quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Thầy Tỳ Khưu sống quán thọ trên thọ, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Thầy Tỳ Khưu sống quán tâm trên tâm, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Thầy Tỳ Khưu sống quán pháp trên pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Đoạn trên trích ra từ một trong những bài kinh của Đức Phật tựa là “Bốn đối tượng chánh niệm,” Theo Phạn ngữ Pali, kinh nầy là “Mahasatipatthana Sutta” Đại Niệm Xứ.

Tuy là đoạn mở đầu, đoạn kinh nầy đã tóm tắt cốt tủy của toàn bài kinh.

Chính Đức Phật đã thực hành và công nhận rằng có sự lợi ích sẽ đem lại cho hành giả. Sau đó Ngài khuyến khích các thầy tỳ khưu và các đệ tử của Ngài thực hành pháp môn Tứ Niệm Xứ, và trong suốt 45 năm truyền bá giáo pháp, Đức Phật luôn luôn đề cập, dẩn chứng và nhấn mạnh tầm quan trọng của Kinh Tứ Niệm Xứ.

Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, các phương pháp thực hành được góp nhặt và ghi chép lại trong tạng kinh Pali.

Những ai thực hành Tứ Niệm Xứ hay thiền Minh sát phải hiểu một cách thật rõ ràng và chính xác đoạn kinh nầy. Thực vậy, tất cả những bài giảng dạy, chỉ dẩn phương pháp hành thiền trong các khóa thiền Vipassana đều căn cứ trên kinh Đại Niệm Xứ. Cho nên để được gặt hái trọn vẹn sự lợi ích, các thiền sinh thực hành thiền Minh Sát nên đọc và hiểu rõ ràng, thấu triệt bài kinh quan trọng nầy.

Bốn đối tượng đặt nền tảng của chánh niệm

Theo kinh Tứ Niệm Xứ, có bốn đối tượng của chánh  niệm.  Bốn đối tượng ấy như sau:
1)    Thân

Danh từ “thân” trong kinh Tứ Niệm Xứ không chỉ có nghĩa là toàn thể thân vật chất mà còn có nghĩa một nhóm của những phần thuộc về vật chất.  Nó bao gồm những phần khác nhau của thân thể hay tất cả những gì liên quan đến thân thể vật chất. Thí dụ  hơi thở cũng được gọi là thân.

2)    Cảm Thọ

“Cảm thọ” là gì? Cảm thọ là một tâm sở một trạng thái  tâm. Có ba thứ cảm thọ - lạc thọ, khổ thọ và thọ vô ký. Lấy sự đau nhức làm thí dụ. Ta kinh nghiệm sự đau nhức của thân bằng cái tâm của ta. Cho nên khi có thân đau nhức, thì tâm cảm giác sự đau nhức. Trong kinh Tứ Niệm Xứ  Đức Phật dạy  “Thầy Tỳ Khưu quán thọ trên thọ,” có nghĩa là thầy Tỳ Khưu đang quán cảm thọ. Trong khi thực hành chánh niệm, khi kinh nghiệm thân đau nhức, ta phải (chánh) niệm cảm giác có sự đau nhức trong thân.

3)    Thức

Tiếng Pali của thức là “citta”. “citta” thường thì được dịch là “tâm”. Nhưng Sư nghĩ chữ “thức” là chữ dịch đúng nghĩa hơn chữ tâm.  Tuy nhiên, dù dịch là “thức,” nó vẩn không phải là chữ dịch thật chính xác nghĩa của “citta.” Thức” được định nghĩa là sự hay biết một đối tượng. Chỉ khi nào có sự hay biết một đối tượng mới có thể nói rằng có một sự tiếp xúc với đối tượng, cảm giác đối tượng, ưa thích đối tượng , không ưa thích đối tượng, vân, vân….Những nhóm tâm sở nầy phụ thuộc vào thức. Chúng cũng là những phần tử của tâm.

Nhiều khi có sự lầm lẩn giữa hai danh từ “tâm” và “thức”. Trong Vi diệu pháp, tâm gồm có bốn nhóm tâm sở, thức uẩn là một trong nhóm đó, và ba nhóm tâm sở khác (thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn)

Theo định nghĩa trên, thức là sự hay biết đối tượng. Sự hay biết ở đây không gìống như sự hay biết trong khi hành thiền. Nó chỉ là một sự hay biết suông. Thí dụ như tôi đang hay biết có người nào đó, mặc dù tôi đang nhìn ở nơi nầy.  Sự hay biết đó gọi là thức. Ít ra sự hay biết đó được gọi là thức trong Vi diệu pháp. Một thí dụ khác, khi ta hành thiền, ta niệm “khổ, khổ”; ta có một sự hay biết (hay thức) đi với cái khổ.  Đó là một sự niệm thức. Khi ta niệm “giận, giận,” ta cũng đang niệm thức.

Các tâm sở khác gồm có tâm xúc, cảm thọ, hành uẩn, chú tâm, ưa thích, không ưa thích, vân, vân…Theo Vi Diệu Pháp, có tất cả năm mươi hai tâm sở, và năm mươi hai tâm sở nầy được chia nhóm vào ba nhóm tâm sở chánh - thọ uẩn, tưởng uẩn, và hành uẩn.

4)    Pháp

Chữ “Dhamma” tiếng Pali là một danh từ Pali rất khó dịch ra ngôn ngữ khác cho đúng nghĩa.  Danh từ nầy có nghĩa khác nhau trong mỗi trường hợp. Nơì đây Sư xin gìới thiệu danh từ “Pháp là đối tượng” (dhamma objects).

Nếu bạn chú tâm hay quán niệm sự giận, bạn đang quán pháp. Ở đây chữ Pháp không có nghĩa là giáo Pháp hay giáo lý của Đức Phật.  Nếu bạn thấy vật gì và bạn niệm sự thấy, đó là bạn đang niệm Pháp. Ở đây Pháp là đối tượng của chánh niệm như các Pháp chướng ngại, năm uẩn, mười hai xứ, Thất Giác Chi hay Tứ Diệu Đế. Pháp là đối tượng quán niệm thì rất sâu rộng. Trong bài kinh nầy, tất cả các đối tượng của chánh niệm đều được gọi là niệm Pháp. Vì thế cho nên cứ để ngưyên danh từ Dhamma để tránh sự lầm lẩn.

Không thể nào dịch chữ “Dhamma” ra một chữ tiếng Anh, như vậy bạn sẽ sai. Thường thì Dhamma object được dịch là “mind object”  tiếng Việt là “tâm là đối tượng”, hay “mental object” tiếng Việt là  “Tâm đối tượng”.

Nhưng nếu dùng riêng mỗi cách dịch như vậy cũng không thỏa doán. Nếu dịch là “tâm là đối tượng” thì những đối tượng khác không phải là “tâm” thì sao? Còn nếu dịch nó là “tâm đối tượng” thì tất cả các đối tượng được liệt kê trong kinh Niệm Xứ đều là đối tượng của tâm? “Thân”cũng là đối tượng của tâm? Vì ta không thể dịch chữ Dhamma trong phần kinh nầy một cách thỏa đáng và thích hợp, tốt hơn hết là cứ dùng danh từ tiếng Pali là Dhamma  không nên dịch ra tiếng  Anh (hoặc d ịch ra tiếng Việt).

Ý nghĩa của câu “con đường độc nhứt” ekayano


Trong phần bằng tiếng Pali, kinh nầy bắt đầu bằng câu “ekayano”, “con đường độc nhứt.” Tiếng Pali, chữ nầy gồm có hai phần, “eka” và “ayana”. “Eka” có nghĩa là “một,” hay duy nhứt, và “ayana” có nghĩa là “cách thức”, “con lộ,” hay  “con đường.” “Ekayano” nghĩa đen là “một con đường.” Một con đường duy nhứt không có lối rẻ, không có chi nhánh. Chỉ có một con đường và nếu bạn dấn bước trên con đường nầy chắc chắn bạn sẽ đến đích.  Không có sự lầm lẫn sai lệch trên con đường nầy.

Một cách diễn đạt khác của “ekayano”là con đường mà mỗi cá nhân chọn lựa đi một mình.  Có nghĩa là khi đã chọn đi trên con dường nầy, bạn đi một mình đơn độc, bạn sẽ không có bạn đồng hành đi chung. Dù có tiến bộ hay không tiến bộ, tất cả đều do khả năng riêng của bạn.

Còn một cách diễn đạt thứ ba của câu “Ekayano” là “Con Đường của một Đấng Độc Nhứt.” “Đấng Độc Nhứt” ở đậy chỉ Đức Phật.  Đức Phật là bậc toàn mỹ toàn thiện trong nhân loại, và Ngài được gọi là Đấng Độc Nhứt.   Ngài là người đã khám phá ra và truyền dạy Tứ Niệm Xứ cho nên Thiền Tứ Niệm Xứ được gọi là “Con Đường của Bậc Độc Nhứt.”

Đây là con đường độc nhứt


Câu đầu trong kinh được dịch là:  “Nầy các thầy Tỳ Khưu, đây là con đường độc nhứt đưa đến sự thanh lọc (tâm) chúng sanh…đó là Tứ Niệm xứ.

Chính ngay phần đầu của kinh Đức Phật đã nhấn mạnh “Đây là con đường độc nhứt.” Tứ Niệm Xứ là một con đường độc nhứt đưa đến sự thanh lọc tâm chúng sanh. Nhưng những chi của Bát Chánh Đạo cũng là con đường đưa đến sự thanh lọc tâm chúng sanh? Xin trả lời rằng những chi trong Bát chánh đạo sẽ không hiệu quả nếu không có chánh niệm. Cho nên khi nhắc đến chánh niệm, thì bảy yếu tố của Bát chánh đạo cũng được nhắc đến.

Không có con đường nào khác?


Người Tây Phương thường đặt câu hỏi: “Tại sao Đức Phật nói rằng: “Đây là con đường độc nhứt”? Không có con đường nào khác để dẩn đến sự thanh lọc tâm chúng sanh?  Họ lý luận rằng có nhiều con đường khác mà ta có thể đi để đến một khu xóm hay thành phố. Nếu có nhiều đường dẩn đến một thành phố tất nhiên phải có nhiều phương pháp khác nhau chúng sanh hành theo để thanh lọc tâm hay đưa đến Niết bàn.

Bạn nên nhớ là có nhiều sự so sánh không hoàn toàn đúng hay thích hợp. Đúng vậy, có nhiều con đường để dẩn đến một khu xóm hay thành phố. Ta nói rằng con đường lộ là một phương tiện duy nhứt để ta đi đến một thành phố. Tuy có nhiều đường lộ dẩn đến một khu phố, nhưng những phương tiện đó cũng vẩn là đường lộ.

Cùng thế ấy, mặc dù có nhiều phương pháp khác nhau để thực hành chánh niệm. nhưng chung quy những phương pháp đó đều là phương pháp thực hành chánh niệm. Chỉ có chánh niệm mới có thể đưa ta đến sự chứng ngộ Niết Bàn.

Ta cần tập thể thao để các bắp thịt được săn cứng và nở nang. Như vậy, nếu bạn muốn cho các bắp thịt được nở nang, bạn phải tập thể thao. Nhưng tập thể thao cũng có nhiều phương cách khác nhau, ví dụ như tập tạ, hay dùng các dụng cụ máy móc vân vân…Cùng thế ấy, chỉ có chánh niệm mới đưa chúng sanh đến sự chứng ngộ Niết Bàn, nhưng chánh niệm được thực hành dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật dạy rằng chánh niệm được thực hành theo 21 cách khác nhau. Có 21 cách để thực hành chánh niệm mà ta chọn. Nhưng dù bạn chọn cách nào, chung quy cũng vẩn là thực hành chánh niệm, đó mới là điều quan trọng vì chỉ có chánh niệm mới là phương pháp thanh lọc tâm chúng sanh.

Trong kinh Pháp cú (274) - Đức Phật nói rõ ràng thêm về chánh niệm, “Chỉ có chánh niệm, mà không có một phương pháp nào khác để thanh lọc trí tuệ.” Chính Đức Phật nhấn mạnh câu khẳng định nầy, thế nên chúng ta phải chấp nhận rằng chánh niệm là con đường duy nhứt dẩn đến sự thanh lọc tâm chúng sanh.

Chánh niệm là sự bảo vệ tâm


Chánh niệm cũng giống như một người cận vệ.  Khi người cận vệ bị dời đi nơi khác thì những cửa của giác quan không được bảo vệ. Chỉ khi nào có sự hiện diện của chánh niệm ở các cửa của giác quan, tâm ta mới được trong sạch.  Những trạng thái tâm phiền não bất thiện sẽ không xâm nhập vào tâm ta được vì có chánh niệm gìn giữ ở các cửa của giác quan. Chỉ khi nào chánh niệm bị mất đi, hay khi ta ít chánh niệm thì có những phiền não đủ loại sẽ phát sanh. Chỉ có chánh niệm mới giúp giữ tâm trong sạch. Nên lưu ý, chánh niệm ở đây chỉ một chi của Bát Chánh Đạo.

Những đối tượng của chánh niệm
Chánh niệm trên nhiều đối tượng – chánh niệm trên thân, chánh niệm trên cảm thọ, chánh niệm trên thức, chánh niệm trên Pháp.  Thực hành chánh niệm là một phương pháp duy nhứt để thanh lọc tâm chúng sanh.

Sự quan trọng của sự thanh lọc tâm


Tại sao có sự nhấn mạnh về tâm? Đức Phật luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thanh lọc tâm. Điều nầy không có nghĩa là ta xem nhẹ việc vệ sinh và giữ gìn sức khoẻ của cơ thể. Nhưng quan trọng hơn chính là sự thanh lọc tâm của chúng ta.

Sự sạch sẽ của thân quan trọng như thế nào?  Trong chú giải có nói rằng vệ sinh cá nhân hay sự sạch sẽ của cơ thể cũng như sự sạch sẽ của nơi ăn chốn ở cũng vô cùng quan trọng vì chúng rất cần thiết để hổ trợ trong sự đạt đến định và phát sanh trí tuệ. Ta cần phải giữ gìn thân thể sạch sẽ và chăm sóc nơi hành thiền cho tươm tất gọn ghẽ. Hàm ý ở đây là khi ta không chểnh mãng trong sự giữ gìn thân thể sạch sẽ tức nhiên ta phải nổ lực nhiều trong sự làm cho tâm trong sạch.

Những lợi ích nào gặt hái được khi thực hành chánh niệm?

1.    “Thanh lọc tâm”

Trong kinh Đức Phật kể những lợi ích mà ta gặt hái được khi hành chánh niệm. Lợi ích thứ nhứt là sự thanh lọc tâm

2.    Chấm dứt lo âu phiền muộn và uất ức than khóc


Lợi ích thứ hai là sự chấm dứt lo âu phiền muộn và uất ức than khóc. Ở đây lo âu phiền muộn là trạng thái của tâm. Uất ức thổ lộ trong tiếng khóc than.

3.    Diệt trừ khổ ưu

Đau đớn ở đây chỉ về đau thân. Sầu bi ở đây chỉ về sự ưu phiền ở tâm, trầm cảm, ác tâm, sân hận. Thực hành chánh niệm giúp ta vượt khỏi mọi sự khổ thân và khổ tâm và làm cho chúng tan biến đi. Nhưng dù bạn không thể chiến thắng sự đau đớn (ở thân) hay không thể hoàn toàn tiêu diệt nó hẳn, bạn cũng có thể sống với sự đau đớn và chấp nhận nó nếu bạn thực hành chánh niệm. Tâm của bạn sẽ không bị phiền nhiễu hay quấy rầy bởi cái đau ở cơ thể. Khi tâm bạn không thấy bị phiền nhiễu bởi cái đau ở thể xác, thì cái đau nầy không hiện hữu.

Tâm không thể nào cùng một lúc mà chú ý nhiều hơn một đối tượng. Tâm chỉ có thể cùng một lúc bắt một đối tượng mà thôi. Nhờ dùng đặc tánh nầy của tâm, ta sẽ diệt trừ được phiền não khi ta thưc hành chánh niệm. Lấy sự giận làm thí dụ. Thí dụ ta giận ông A. Khi nào tâm ta còn để trên ông A, sự giận của ta sẽ tăng thêm và ta càng giận ông A thêm vì ta lấy ông A là đối tượng của tâm ta. Nhưng một khi ta để tâm vào sự giận, thay vì vào ông A, thì ông A sẽ không còn hiện hữu trong lúc đó. Ngay trong lúc ta để tâm vào sự giận và khi cái nguồn góc của sự giận (ông A) không còn hiện hữu thì cái giận cũng sẽ biến mất luôn.

Cùng thế ấy ta nên chăm sóc tâm bằng chánh niệm, một chánh niệm đơn giản nhưng mạnh mẽ. Ta phải dùng chánh niệm mạnh mẽ để đối trị với những cảm xúc như tham ái sân hận oán ghét, trầm cảm, và sầu bi. Khi có những trạng thái tâm phát sanh, ta chỉ dùng chánh niệm và tâm ghi nhớ. Khi tâm chánh niệm mạnh, những trạng thái tâm phiền não sẽ biến mất.   Vì thế nên Đức Phật dạy, “Đây là con đường độc nhứt để vượt khỏi sự sầu não, diệt trừ khổ ưu trên đời.”

4.    Đây con đường độc nhứt đạt đến Đạo cao thượng

a.    Nghĩa của “con đường.” hay “Đạo tâm”.

Khi bạn đọc sách về Đạo Phật bạn sẽ gặp chữ “Đạo” Path rất thường xuyên. Có khi chữ đó viết với chữ “p” nhỏ, nhưng thường thì chữ đó viết với chữ hoa “P”.Chữ con đường hay “Đạo” là một thuật ngữ dùng để chỉ nhóm tám yếu tố của Bát chánh đạo -  Chánh kiến, chánh tư duy, vân, vân…chúng phát sanh cùng lúc với tâm chứng ngộ. Cái tâm thức đi chung cùng phát sanh với những yếu tố trên gọi là “Đạo Tâm.”

b.    Nghĩa của chữ “giác ngộ”


Chữ “giác ngộ” là một chữ khác rất quan trọng mà nghĩa của nó cũng rất khó hiểu. Người đời thường dùng chữ nầy một cách tự do, nhưng chỉ một số ít người mới thật hiểu nghĩa của nó một cách trọn vẹn. Chữ nầy đối với nhiều người hay đối với nhiều tôn giáo thì mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Như thế, nghĩa của chữ “giác ngộ”đối với một Phật tử rất khác đối với “giác ngộ” của một người Thiên Chúa giáo. Cho nên khi nói đến chữ giác ngộ, trước hết ta nên định nghĩa nó cho được rõ ràng.

Đối với đạo Phật, “giác ngộ” có nghĩa là sự diệt trừ phiền não và chứng ngộ Niết Bàn, thấy và nhận diện Niết Bàn cùng một lúc. Khi một hành giả hành thiền Minh Sát và có tiến bộ từ giai đoạn nầy đến giai đoạn khác, đến tầng cao hơn, kết quả của sự tinh tấn hành thiền, trong một khoảnh khắc, một loại tâm thức phát sanh trong tâm mà hành giả chưa từng bao giờ kinh nghiệm trước kia. Tâm nầy đồng sanh khởi với những tâm sở khác vô cùng mãnh liệt chúng có thể tiêu diệt hoàn toàn những ô nhiễm và không bao giờ để ô nhiễm nầy phát sanh lại trong tâm. Đồng thời tâm thức nầy lấy Niết Bàn làm đối tượng. Thế nên khi ta nói giây phút “giác ngộ” đó là cái tâm thức phát sanh ngay trong giây phút đó hay ngay trong khoảnh khắc đó – cái khoảnh khắc phát sanh cái tâm thức có thể diệt tận mọi phiền não và lấy Niết Bàn làm đối tượng. Cái tâm thức nầy được gọi là “Đạo Tâm.”

Ngay sau “Đạo Tâm” phát sanh, có hai hay ba “Quả Tâm” cùng phát sanh. Bạn phải hiểu Vi Diệu Pháp mới có thể hiểu rõ vấn đề nầy.  Nhưng để nói một cách giản dị, đạt đến Đạo cao thượng là một cách để được giác ngộ. Khi nào bạn đạt đến Đạo cao thượng khi đó bạn mới giác ngộ, và bạn mới có thể diệt trừ ô nhiễm trong tâm và lúc đó tâm lấy Niết Bàn làm đối tượng.

5.    Đây là con đường độc nhứt để chứng ngộ Niết Bàn


Đây có cùng một nghĩa với đạt đến Đạo cao thượng. Khi một hành giả đạt đến Đạo cao thượng và khi Đạo tâm sanh khởi nơi tâm của hành giả và cái tâm đó lấy Niết Bàn làm đối tượng người ấy đã đạt Niết Bàn. Thế nên đạt đến đạo cao thưọng và chứng ngộ Niết Bàn có cùng một nghĩa.

Đức Phật dạy rằng thực hành chánh niệm nghĩa là thực hành Tứ Niệm Xứ là phương pháp độc nhứt để vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, đạt Thánh Đạo và chứng ngộ Niết Bàn.

Ý nghĩa của Tứ Niệm Xứ?

Hai chữ quan trọng ở đây là “xứ” hay “nền tảng” (dịch từ chữ “foundation”) và “chánh niệm.” Trước khi ta nói về Bốn đối tượng chánh niệm, ta nên hiểu “chánh niệm” là gì.  Tuy chúng ta thực hành chánh niệm lâu năm, khi bị hỏi “chánh niệm là gì” ta không thể trả lời một cách thỏa đáng.

a.    Nghĩa của chữ niệm “sati”


“Chánh niệm” là chữ dịch từ tiếng Pali “sati”.  Bài kinh nầy gọi là Kinh Niệm Xứ (Satipatthana.) “Sati” được dịch là “chánh niệm.” Có lẽ không có danh từ nào đúng hơn trong tiếng Anh để dịch chữ đó. Nghĩa đen của “sati” là “nhớ.”  Nhưng sati gồm nhiều nghĩa hơn là “nhớ.” Theo nguồn gốc ngôn ngử để phân tách thì “sati” có nghĩa là “nhớ” nhưng khi theo thông dụng thì “sati” còn hàm chứa nhiều nghĩa hơn. “Sati” theo định nghĩa trong Chú giải là “nhớ” và đặc tánh hàm chứa của nó là “không hời hợt” “không nổi lềnh bềnh trên mặt.” Nếu đúng là sati nó không giả tạo, mà nó đi sâu vào đối tượng. Thế nên Sư luôn nói rằng “sati” hàm chứa nghĩa:  “hay biết hoàn toàn đối tượng,” hay “hay biết thấu triệt đối tượng.” “Sati” còn có nghĩa là có chức năng không làm mất đối tượng. Khi có chánh niệm, ta không mất đối tượng, ta không quên đối tượng.  Chánh niệm không phải là sự hay biết hời hợt giả tạo, mà là một sự hay biết sâu đậm và thấu đáo một đối tượng.

b.    Nghĩa của “Đặt nền tảng chánh niệm”
(dịch từ “foundation of mindfulness)

Bây giờ ta nên bàn đến câu “ nền tảng chánh niệm.” Nó có nghĩa là “sắp đặt” nền tảng chánh niệm hay “thiết lặp chặt chẽ chánh niệm” hay  “chánh niệm được thiết lập vững chắc”. Tiếng Pali Satipatthana được dịch là “lãnh vực nền t ảng chánh niệm” nhưng thực ra nó có nghĩa là “sự sắp đặt một chánh niệm vững chắc” hay “thiết lập một chánh niệm vững mạnh.” trên đối tượng.
c.    Thực hành Tứ Niệm Xứ

Trong kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật dạy rằng có bốn đối tượng để đặt nền tảng chánh niệm   Khi bạn thực hành thiền Minh Sát bạn phải thực hành chánh niệm trên tất cả bốn đối tượng nhưng khi thực hành chánh niệm bạn thực hành một cách tự do không theo thứ tự đối tượng nầy trước hay đối tượng nầy sau theo thứ tự viết trong kinh. Bởi vì khi bạn thực hành thiền Minh Sát bạn phải chánh niệm đối tượng phát sanh trong giây phút hiện tại. Đối tượng trong giây phút hiện tại có thể là một trong bốn đối tượng – có khi đó là thân, có khi đó là cảm thọ, có khi đó là tâm thức, có khi đó là Pháp. Bạn phải chánh niệm những đối tượng ngay khi chúng vừa phát sanh vì bạn không có sự lựa chọn. Bởi thế nên thiền Minh Sát được gọi là “sự hay biết (chánh niệm) không lựa chọn. (choiceless awareness). Nghĩa là bạn không có sự lựa chọn, bạn chỉ ghi nhận hay chánh niệm những gì phát sanh đến với bạn.  Bạn chánh niệm bốn đối tượng không theo một thứ tự nào cả, đối tượng nào phát sanh, bạn chỉ chánh niệm, đó là cách hánh thiền Minh Sát.

“Nầy các thầy Tỳ Khưu, ở đây thầy Tỳ Khưu sống quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.”

Câu trên đây có nhiều nghĩa quan trọng, Sư sẽ bắt đầu phân tích những nghĩa của nó một cách chi tiết như sau:

Bốn Đối tượng chánh niệm là gì?

Bốn đối tượng chánh niệm là:

1)    (Chánh) Niệm thân trên thân
2)    (Chánh) Niệm thọ trên thọ
3)    (Chánh) Niệm tâm trên tâm
4)    (Chánh) Niệm pháp trên pháp

Ta phảì thực hành chánh niệm như thế nào?

Trong đoạn mở đầu của kinh Đại Niệm Xứ, Đức Phật dạy rằng trong mỗi quán niệm trên, bạn phải tinh cần, tinh tấn, phải tỉnh giác, và phải chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

1.    “Chánh niệm thân trên thân”

Khi thực hành chánh niệm trên thân, thầy Tỳ khưu hay người cư sĩ hành giả phải niệm cho thật chính xác. Hành giả chỉ chánh niệm thân trên thân mà thôi, người ấy không chánh niệm cảm thọ trên thân hay trên thân con người…Để cho có một đối tượng thật rõ ràng Đức Phật lập lại những chữ thân trên thân, thọ trên thọ, tâm trên tâm, pháp trên pháp trong câu kinh trên.  Nghỉa là Đức Phật vô cùng chính xác trong sự chánh niệm thân, thọ, tâm, pháp. Khi thực hành chánh niệm, hành giả phải tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm.

2.    Phải tinh cần trong sự thực hành


Danh từ “tinh cần” không phải là chữ dịch đúng nghĩa của chữ Pali “atapi”.Khi một chữ từ ngôn ngữ nầy được dịch sang ngôn ngữ khác, thế nào cũng bị mất ít nhiều ý nghĩa.  Chữ “atapi” tiếng Pali lấy từ chữ “atapa”. “Atapa” có nghĩa “sức nóng của mặt trời.”Ta biết rằng mặt trời có thể đốt nóng những vật cho đến khi những vật ấy trở nên héo úa và có khi thiêu đốt. Cùng thế ấy cái nỗ lực mà hành giả áp dụng vào sự hành thiền làm nóng và đốt cháy mọi phiền não trong tâm. Người mà có atapa tinh cần thì được gọi là “atapi”, chữ “i” chỉ sự làm chủ. “Atapi” chỉ người có cố gắng trong sự hành thiền, không dễ duôi. Người thực sự cố gắng để chánh niệm và hiểu biết thầu đáo. Khi đọc kinh bằng tiếng Pali và thấy chữ “atapi” ta nên hiểu chữ đó có nghĩa thực sự như vậy. Ta phải thấy sự tinh tấn sẽ đốt cháy được phiền não.

3.    Phải nhiều tinh tấn


Khi Đức Phật còn là một vị Bồ Tát, Ngài ngồi dưới cội bồ đề hành thiền để trở thành Phật, Ngài đã phát nguyện mạnh mẽ trong tâm “dù cho chỉ còn da, gân, xương, dù cho thịt và  máu có khô cạn ta quyết không bao giờ ngưng hay bỏ mọi nỗ lực phi thường cho đến khi ta thành Phật. Ta sẽ cố gắng tinh tấn để đạt đên mục đích.” Sự nỗ lực như thế gọi là chánh tinh tấn.

Để có chánh tinh tấn bạn phải có nhiều nỗ lực thật sự, chớ không phải chỉ nỗ lực hời hợt. Nỗ lực ở đây cũng là chánh tinh tấn, một trong tám chi của Bát Chánh Đạo.

Chánh tinh tấn nghĩa là sự nỗ lực để diệt trừ hay tránh xa những bất thiện tâm, và để trau dồi và gặt hái những thiện tâm. Muốn chống lại những trạng thái tâm bất thiện, bạn cần có sự nỗ lực. Nếu bạn không nỗ lực bạn không thể chống lại những điều bất thiện. Cùng thế đó, bạn cần có sự cố gắng thật sự, mạnh mẽ để thực hành thiền Tứ Niệm Xứ.

4.    Tỉnh giác

Tỉnh giác có nghĩa là thấy rõ ràng. Đối tượng nào mà hành giả đặt chánh niệm hành giả thấy nó thật rõ ràng. “Rõ ràng” có nghĩa là gì?  Nghĩa là hành giã thấy thấu đáo thông suốt thấy với trí tuệ. Khi hành giã niệm hơi thở, vị ấy thấy hơi thở rõ ràng. Vị ấy thấy hơi thở vào rõ ràng phân biệt với hơi thở ra, và thấy hơi thở ra rõ ràng phân biệt với hơi thở vào. Hành giã cũng thấy hơi thở phát sanh và thấy nó diệt. Hành giã chỉ thấy hơì thở và sự biết hơì thở, không có gì khác mà thông thường được cho là con người hay một chúng sanh. Sự hiểu biết đó gọi là “tỉnh giác.”

Khi bạn có sự tỉnh giác về một việc gì, bạn biết việc ấy và những trạng thái của nó. Cũng theo giáo Pháp của Đức Phật bạn biết rằng chỉ có vật được quan sát và cái tâm quan sát vật ấy, ngoài ra không có gì gọi là một người hay một cá nhân, đàn ông, đàn bà. Nhìn sự vật như thế được gọi là tỉnh giác. Sự tỉnh giác nầy sẽ đến với bạn sau một thời gian thực tập, không phải đến ngay khi bạn mới bắt đầu hành thiền.

Khi mới bắt đầu hành thiền bạn có thể không thấy hơi thở rõ ràng. Có khi thấy những hơì thở nầy xáo trộn nhau và rất mơ hồ. Nhưng từ từ, với sự phát triển của tâm định và có tiến bộ trong sự thực hành, bạn sẽ thấy đối tượng càng ngày càng rõ ràng thêm và thấy luôn cả sự sanh và diệt của hơi thở, vân, vân…Như thế sự tỉnh giác nầy phát sanh không phải ngay lúc bắt đầu hành thiền, nhưng chỉ sau một thời gian bạn có được kinh nghiệm.

Muốn có sự tỉnh giác phát sanh, ta cần một yếu tố nữa tuy rằng trong kinh nầy không có đề cập tới. Ta cần có tâm định. Nếu không có tâm định, tỉnh giác sẽ không thể phát sanh.

5.    Phải cần phát triển tâm định


Tâm định là gì? Tâm định là một tâm sở để giữ những tâm sở khác trên một đối tượng và không cho chúng chạy sang các đối tượng khác. Tâm định là một thứ tâm sở có thể ở trên đối tượng một thời gian khá lâu. Thí dụ, lấy hơi thở làm đối tượng, tâm định của bạn luôn luôn ở trên hơi thở và tâm của bạn không phóng đi nơi khác. Ở mỗi khoảnh khắc tâm định giữ tâm và các tâm sở khác trên đối tượng. Tâm định nầy rất cần thiết cho sự tỉnh giác phát sanh.  Không có tâm định, bạn không hy vọng thấy sự vật một cách rõ ràng và cũng không hy vọng có được sự tỉnh giác.

Khi ta đạt được tâm định, tâm của ta lắng xuống và trở nên vắng lặng. Đây là lúc ta bắt đầu thấy rõ sự vật. Nó giống như nước dơ hay nước bùn trong một ao hồ. Khi có đất cát dơ hay bùn sình trong nước ta sẽ không thấy đáy của ao hồ. Nhưng khi đất cát dơ hay bùn sình được lắng đọng xuống và mặt nước trở nên trong ta mới có thể thấy xuyên qua nước.  Cùng thế đó tâm ta cũng giống như nước bùn hay nước dơ vì nó chứa đồ dơ bẩn hay những ô nhiễm. Khi tâm ta còn bị nhiễm độc bởi những ô nhiễm ta không thấy sự vật một cách rõ ràng.Ta phải đè nén hay để những ô nhiễm của tâm lắng đọng xuống trước khi ta có thể thấy sự vật một cách rõ ràng. Những ô nhiễm nầy gọi là những chướng ngại trong tâm

Khi ta phát triển định tâm, ta sẽ có thể đè nén những chướng ngại tạm thời ở một bên. Khi những chướng ngại được khắc phục, tâm ta sẽ trở nên rõ ràng trong sáng. Khi đó tỉnh giác hay sự hiểu biết thật sự mọi sự vật sẽ phát sanh.

Tuy khái niệm về tâm định không được nhắc đến trong kinh Đại niệm xứ, ta nên hiểu sự cần thiết của tâm định được hàm chứa trong kinh bởi vì nếu không có tâm định thì sự tỉnh giác không thể phát sanh. Sư cho một thí dụ giản dị như sau. Một người thợ săn đang đuổi theo một con nai. Người ấy thấy có một tảng đá bằng phẳng và thấy dấu chân của con nai ở hai bên đối diện nhau của tảng đá, nhưng không phải ở trên mặt phẳng của tảng đá hay chung quanh tảng đá. Do sự quan sát nầy, người ấy suy diển rằng con nai phải đi ngang trên bề mặt phẳng của tảng đá để đi từ bên nầy sang bên kia. Có nghĩa là người ấy thấy phần đầu và phần cuối, và suy diển phần giữa có nghĩa là con nai phải chạy ngang qua tảng đá. Tương tự như thế, chánh niệm cũng như ở đoạn đầu, và tỉnh giác ở đoạn cuối. Ở giữa phải là tâm định vì nếu không có tâm định thì sẽ không có tỉnh giác.

Bốn thứ tâm sở căn bản cần thiết

Có bao nhiêu tâm sở rất cần thiết cho sự hành thiền chánh niệm mà ta đã đề cập đến? Có tất cả là bốn và chúng kết hợp lại thành bốn tâm sở rất căn bản và cần thiết trong sự thực hành chánh niệm. Đó là tinh cần, tỉnh giác, định và chánh niệm. Bốn tâm sở nầy là những phần tử của sự hành thiền chánh niệm. Khi ta thực hành thiền bốn tâm sở nầy làm việc chung và hòa hợp với nhau. Nhưng còn một tâm sở nữa không được nêu lên ở đây, đó là đức tin.

Cần có đức tin

Đức tin hay sự tin tưởng cũng là một yếu tố quan trọng trong sự hành thiền vì nếu ta không có sự tin tưởng nơi pháp môn của Đức Phật ta sẽ không thực hành theo lời Phật dạy. Nếu không có sự tin tưởng tức nhiên sẽ không có sự thành công trong bất cứ việc làm gì. Trong đạo Phật, không có đức tin mù quáng.  Không có nghĩa là ta không có đức tin. Ta có đức tin hay sự tin tưởng nơi Đức Phật và giáo lý của Ngài.Ta tin rằng nếu chú tâm quán niệm những đối tượng của kinh Tứ Niệm Xứ, ta sẽ thấy đặc tánh thật của những đối tượng nầy – là vô thường, chúng dẫn đến đau khổ và chúng vô ngã.

Đức tin là một tâm sở quan trọng sự hành thiền tuy nó không vận hành tích cực khi hành thiền chánh niệm, nó vẫn có mặt và làm việc điều hòa với những tâm sở khác. Cho nên nếu ta thêm yếu tố đức tin vào các tâm sở mà ta đã bàn tới trên đây, bây giờ ta có năm tâm sở mà chúng được gọi là Ngũ căn, tiếng Pali là Indriyas (Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn, Tuệ căn.) Các thiền sư khi hướng dẫn các khóa tu học thường thích dạy về Ngũ căn nầy. Ngũ căn nầy phải làm việc cùng một lúc và điều hòa với nhau nếu ta muốn có một sự hành thiền tốt đẹp. Nếu chúng không làm việc hòa hợp với nhau thì ta sẽ mất thiền.

Thăng bằng giữa tinh tấn và định

Khi ta thực hành thiền sự thăng bằng giữa tinh tấn và định rất quan trọng. Nếu chúng không thăng bằng, nghĩa là nếu một trong hai cái quá nhiều ta sẽ kinh nghiệm nhiều khó khăn trong khi hành thiền. Ta phảì có tinh tấn vừa đủ, không nhiều quá và cũng không ít quá. Ta tinh tấn nhiều quá vì ta nóng lòng muốn đạt được điều gì. Kết quả là ta mất thăng bằng. Thế nên quá nhiều tinh tấn không đem lợi ích cho ta.  Ngược lại việc gì xảy ra nếu có ít tinh tấn? Ta sẽ trở nên buồn ngủ, lười biếng, ta không thể chú tâm và không hành thiền được. Cho nên ta phải tinh tấn vừa đủ không nhiều quá và cũng không ít quá. Khi tinh tấn nhiều quá thì định tâm lại ít đi. Nếu tinh tấn ít quá, thì định tâm cũng sẽ không có đủ vi mất sự thăng bằng.

Giả thử như bạn hành thiền và bạn được sự định tâm tốt. Sau khi được định tâm tốt bạn sẽ giảm bớt sự tinh tấn bạn sẽ trở nên lười biếng hay buồn ngủ. Khi việc nầy xảy ra, bạn phải cố gắng nhìều hơn và chú tâm chánh niệm nhiều hơn. Có khi bạn phải chú tâm đến những đối tượng khác và chánh niệm trên mỗi đối tượng riêng rẽ. Tinh tấn và định phải thăng bằng mới giúp hành giả có sự hành thiền tốt đẹp và phát sanh sự tỉnh giác.  

Có khi bạn đang hành thiền có tâm định tốt thình linh bạn mất đi sự định tâm. Tại sao?  Một trong những lý do có thể là bạn để quá nhiều tinh tấn. Do mong muốn sự hành thiền tốt đẹp hơn, ta nỗ lực quá nhiều. Kết quả sẽ ngược lại sự mong muốn của ta. Có khi trong khi hành thiền bạn có được sự định tâm tốt và mặc dầu được tâm định tốt bạn cảm thấy buồn ngũ và ngũ gật. Tại sao vậy? Có thể là bạn có quá nhiều định tâm. Bạn nên giảm bớt sự định tâm và tăng thêm sự tinh tấn.

Thế nên hành thiền không phải dễ. Sư không muốn bạn nãn lòng chớ sự thật là hành thiền không phải dễ. Nó rất tinh tế. Chỉ một chút mất thăng bằng của tâm cũng có thể làm mất sự định tâm mà bạn đã công phu bồi đấp bằng nhiều nỗ lực. Thế nên năm tâm sở hay Ngũ căn kể trên phải làm việc song song và hòa hợp với nhau. Sự thực hành thiền cũng như một cái máy. Có nhiều bộ phận trong một cái máy và mỗi bộ phận phài làm việc chính xác ăn khớp với nhau. Nếu một bộ phận không chạy thì cả cái máy cũng không chạy. Cùng thế ấy, nếu một yếu tố của tâm không làm việc chính xác thì cả sự thực tập thiền quán sẽ mất đi sự thăng bằng. Thế nên Ngũ căn phải hiện diện và làm việc chính xác và hòa hợp với nhau.

Giá trị của Chánh Niệm

Bây giờ ta hãy suy nghiệm một cách nghiêm túc về giá trị của chánh niệm. Chánh niệm là một tâm sở có chức năng điều hành. Chánh niệm giữ cho sự tinh tấn không quá độ và chánh niệm cũng giúp cho sự định tâm không quá độ vân vân…Vì vậy chánh niệm là một tâm điều hành trong ngũ căn khi hành thiền. Tâm chánh niệm vô cùng cần thiết.  Không bao giờ nói rằng có quá nhiều chánh niệm.  Chánh niệm vô cùng cần thiết trong mọi lúc giống như muối là một gia vị cần thiết để nấu ăn, hay như một ông quan lớn làm tất cả nhiệm vụ cho một ông vua. Tuy chánh niệm là một tâm quan trọng trong ngũ căn, nhưng những tâm sở kia trong ngũ căn cũng rất quan trọng và những tâm nầy phải làm việc đồng đều chính xác và thăng bằng với nhau.

Tham ái


1.    Chế ngự tham ái và sân hận ở đời


Khi ngũ căn làm việc chính xác và thăng bằng hành giả phát sanh sự tỉnh giác? vậy kết quả là gì? Kết quả là sự vượt khỏi hay chế ngự tham ái và sân hận ở đời.Trí tuệ tỉnh giác phát sanh là do kết quả của sự tinh tấn hành thiền. Ở đây, khi được dịch ra tiếng Anh, sự phiên dịch nầy có điều thiếu sót về nghĩa của nó. Thông thường thì được dịch là đã được vượt khỏi hay đã được chế ngự tham ái và sân hận ở đời. Ta đặt câu hỏi thực hành thiền để làm gì? Thực hành chánh niệm để làm gì? Thực hành thiền hay tu thiền là để diệt trừ tham ái và sân hận ở đời. Tham ái nghĩa là sự bám níu chấp giữ, sân hận là sự ác tâm, oán giận vân vân…Thực hành thiền Minh Sát hay Tứ Niệm Xứ là để “vượt khỏi hay chế ngự” tham ái và sân hận. Chính vì mục đích trên mà ta thực hành chánh niệm. Nhưng nếu ta đã đạt được mục đích trên rồi thì ta đâu cần phải thực hành thiền. Để được chính xác, ở đây ta nên dịch câu viết trong kinh “chế ngự tham ái và sân hận ở đời” là “chế ngự tham ái và sân hận đang phát sanh ở đời, chớ không nên dịch là “đã phát sanh”.  Hay nói cách khác, “đang chế ngự tham ưu ở đời, mới chính xác hơn là “đã chế ngự tham ưu ở đời (người dịch thêm ở đây cho dễ hiểu hơn).

Sư muốn các bạn nên để ý đến điểm nầy. (Ở đây nên dùng văn phạm tiếng Pali để giãng nghĩa sẽ được rõ ràng hơn, nhưng vì rất dài dòng nên Sư phải bỏ qua ở đây.)

Vượt khỏi tham ái và sân hận ở đời có nghĩa là tránh xa sự tham lam hay dính mắc, sân hận hay ác tâm đối với đối tượng mà hành giả đang chánh niệm. Câu viết trong kinh “ở đời” nghĩa là các ô nhiễm “ngũ ngầm” trên các đối tượng thân, thọ, tâm và pháp. Khi ta thấy một vật gì và ta bám níu vào vật ấy. Nếu ta kết luận rằng vậy ấy đẹp, hay tốt, ta sẽ bám níu vào vật ấy.  Ngược lại ta có thể phát sanh sự sân hận hay oán ghét vân, vân…vật đó nếu ta cho đó là xấu xa hay ghê tỡm. Thế nên phiền não có thể phát sanh trong tâm khi ta kinh nghiệm một việc gì.

2.    Nghĩa sâu rộng của “tham ái”.

Khi Đức Phật dạy rằng “để chế ngự tham ưu ở đời ,“ có nghĩa là hành giả ngăn ngừa đề phòng không cho tham ái sân hận phát sanh ở đối tượng mà hành giả đang chánh niệm.

Ở đây tham ái hay ái dục bao gồm tất cả những ô nhiễm như bám níu, tham lam, ái dục, và những trạng thái tâm tương tợ như vậy, và ưu phiền có nghĩa sầu não, sân hận, ganh ghét, đau buồn, sầu khổ v.v…Có ba nguồn gốc của tâm bất thiện, đó là tham, sân và si. Trong ba tâm bất thiện đó, có hai tâm được nêu lên ở đây. Tham ái là tâm đầu tiên, là sự bám níu, tiếng Pali gọi là “lobha”, tâm thứ hai sân hận gọi là “dosa”. Tham ái có nghĩa bao gồm trong lobha, và sân hận có nghĩa bao gồm trong dosa.  Si tiếng Pali là “moha” không được gồm chung ở đây, bởi vỉ moha “si” rất khó để ngăn ngừa và tiêu diệt. Vì thế cho nên Đức Phật dạy các thầy Tỳ Khưu nên tinh tấn chánh niệm, phát triển tâm định và trí tuệ tỉnh giác khi hành giả quán thân trên thân để chế ngự tham ưu không để cho chúng phát sanh. Đây cũng là phương pháp được áp dụng khi hành giả quán niệm cảm thọ, tâm và Pháp.

Bảo vệ ngăn ngừa các tâm ô nhiễm phát sanh

Để ngăn ngừa không cho những tâm ô nhiễm phát sanh, ta cần có phương pháp để bảo vệ tâm. Cách bảo vệ nầy chính là chánh niệm.  Khi ta chánh niệm thì những ô nhiễm đó không có cơ hội để phát sanh trong tâm ta.  Khi ta chánh niệm, khi ta tỉnh giác ta sẽ thấy mọi sự vật một cách rõ ràng, ta biết rằng chúng đến rồi đi, chúng vô thường. Ta cũng hiểu biết rõ ràng rằng ta không nên bám níu vào chúng.  Cho nên ta có thể tránh xa tham ái, bám níu, sân hận hay oán ghét đối với đối tượng do sự thực hành chánh niệm.

Khi ta nói “vượt khỏi” hay “diệt trừ” thật ra ta đang tránh hay ngăn ngừa không để ô nhiễm phát sanh. Không có nghĩa là ta vượt khỏì hay diệt trừ sau khi chúng phát sanh. Nghĩa chính xác của nó là ngăn ngừa tham ái và sân hận không cho chúng phát sanh trong tâm ta. Nếu ta không chánh niệm trên đối tượng đó, thì chắc chắn tham ái hoặc sân hận sẽ phát sanh.  Những tâm ấy có thể phát sanh nhưng nếu ta chánh niệm kịp thời ta có thể ngăn ngừa không cho chúng phát sanh. Ngăn ngừa không để chúng phát sanh trong tâm chính là ý nghĩa câu “vượt khỏi ô nhiễm.” (Nhưng nếu chúng phát sanh, thì ta lại dùng chúng là đối tượng của chánh niệm để diệt trừ chúng.)

Khi ta nói đến giác ngộ, ta thường dùng câu ‘trong giây phút giác ngộ”những ô nhiễm sẽ được tiêu diệt. Những tâm ô nhiễm nào sẽ được tiêu diệt trong lúc đó? Hiện tạì, quá khứ hay tương lai? Quá khứ thì đã qua, ta không cần làm gì cả để tiêu diệt chúng. Còn tương lai những ô nhiễm chưa phát sanh ta không làm gì được cả. Còn hiện tại? Nếu ô nhiễm có mặt thì sẽ không có sự giác ngộ.Tại sao? Bởi vì tâm giác ngộ là một tâm trong sạch và ô nhiễm là tâm không trong sạch.Tâm trong sạch và tâm không trong sạch sẽ không cùng hiện hữu.

Chúng không hiện diện chung. Cho nên những ô nhiễm mà ta cho là được tiêu diệt trong lúc giác ngộ không phải ở quá khứ, hay tương lai, hay trong hiện tại.

1 . Những ô nhiễm nào được tiêu diệt?

Để nói cho thật chính xác thì những ô nhiệm bị tiêu diệt không gọi là ô nhiễm hay kilesas trong tiếng Pali.Chúng được gọi là “ngủ ngầm” hay anusayas trong tiếng Pali.  “Anusayas nghĩa là tiềm năng để phát sanh.  Cái mà tâm giác ngộ tiêu diệt đó chính là cái tiềm năng (ngủ ngầm.) Thí dụ như hút thuốc lá. Giả thử bạn là một người hút thuốc lá.  Ngay bây giờ bạn không có hút thuốc lá. Giả thử Sư hỏi bạn “bạn có hút thuốc lá không? Và bạn trả lờì rằng “Bạch Sư, tôi có hút.” Có nghĩa là bạn đã có hút thuốc lá trong quá khứ, và bạn sẻ hút thuốc lá trong tương lai. Tóm lại là bạn không có bỏ hút thuốc lá. Tuy rằng bạn không hút thuốc lá ngay trong lúc bây giờ, bạn trả lời “tôi có hút thuốc lá.”

Cùng thế ấy, ngay trong lúc bây giờ, Sư nói rằng Sư không có ô nhiễm trong tâm và bạn cũng không có ô nhiệm trong tâm của bạn.  Nhưng sau buổi nói Pháp, bạn đi về và bạn đạp phải một vật nhọn hay có người nào đó xô đẩy bạn, thế là bạn nổi giận. Sự ô nhiễm nầy đươc dịp sanh khởi vì nó có điều kiện để sanh khởi.  Chính cái tiềm năng phát sanh ô nhiễm nầy sẽ bị tiêu diệt bằng tâm giác ngộ.

2. Làm thế nào ngăn ngừa ô nhiễm phát sanh?

Những ô nhiễm được diệt trừ trong giây phút giác ngộ không gì hơn đó là tiềm năng ngủ ngầm có thể phát sanh. Khi chúng phát sanh thì chúng đã hiện diện rồi. Cùng thế đó, nói rằng vượt khỏi tham ái và sân hận nghĩa là tránh hay ngăn ngừa không để chúng phát sanh trong tâm. Bằng cách nào? Bằng cách thực hành chánh niệm. Nếu ta có tinh tấn, và nếu ta áp dụng chánh niệm và nếu ta có tâm định, ta sẽ thấy sự vật thật rõ ràng. Nếu ta thấy sự vật thật rõ ràng, thì các ô nhiễm sẽ không có cơ hội để phát sanh. Ta nói rằng thực hành thiền Minh Sát hay thực hành chánh niệm để diệt trừ phiền não.

Sự diệt trừ ô nhiễm nầy có phải là sự diệt trừ vĩnh viễn không?


Sự diệt trừ ô nhiễm nầy chỉ có tánh cách tạm thời vì nó chỉ là một sự thay thế tạm thờì thôi.  Chỉ một giây phút sau là chúng trở lại. Nó chỉ kéo dài một thời gian ngắn mà thôi. Sự diệt trừ nầy được gọi là sự diệt trừ bằng sự thay thế.  Nghĩa là bạn trừ bỏ những tâm bất thiện bằng sự thay thế những tâm thiện. Khi có sự hiện diện của tâm thiện thì sẽ không có sự hiện diện của tâm bất thiện. Bạn đặt những tâm thiện ở một chổ trong tâm thì những tâm bất thiện sẽ không còn chổ để phát sanh. Sự diệt trừ ô nhiễm nầy được gọi là sự diệt trừ bằng sự thay thế. Nhưng trạng tháì tâm đó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn mà thôi. Chỉ một lúc sau ô nhiễm lại trở lại. Khi thực hành thiền Minh Sát tham ái và sân hận được tiêu diệt bằng cách đó. Khi bạn ra khỏi thiền và bạn gặp những điều kiện thuận lợi cho những ô nhiễm phát sanh, chúng sẽ phát sanh trở lại.

1.    Diệt trừ ô nhiễm tạm thời


Có một sự diệt trừ ô nhiễm gọi là “tạm thời.”  Đó là sự diệt trừ bằng cách đẩy lui chúng đi.  Khi bạn đẩy lui một vật gì sang một bên, nó sẽ ở chổ đó một thời gian, hoặc nó không trở lại ngay, giống như cây nổi trôi trên mặt nước.  Nếu bạn đẩy gạt nó đi, nó sẽ đứng yên ở chổ đó một thời gian, nhưng từ từ nó cũng sẽ trở lại chổ cũ. Sự diệt trừ nầy gọi là sự diệt trừ tạm thời. Trạng thái tâm nầy được đạt tới khi hành giả đang ở trong tâm phỉ lạc. Khi hành giả có được phỉ lạc hay kinh nghiệm phỉ lạc, hành giả có thể đẩy lui ô nhiễm trong tâm trong một thời gian. Có thể chúng sẽ không trở lại trong tâm hành giả trọn ngày hay có thể cả tuần hay cả tháng nhưng sau cùng chúng cũng sẽ trở lại trong tâm hành giả.

2.    Diệt trừ ô nhiễm toàn diện
Sự diệt trừ ô nhiễm thứ ba gọi là diệt trừ toàn diện. tiếng Pali gọi là “samuccheda” = cắt đứt, nghĩa là diệt trừ bằng sự cắt đứt. Nếu bạn chặt đứt gốc rể của một cây, nó sẽ không mọc trở lại. Sự diệt trử toàn diện gọi là sự diệt trừ bằng sự cắt đứt. Sự diệt ô nhiễm toàn diện nầy được đạt đến trong lúc chứng ngộ. Những ô nhiễm được diệt trừ trong lúc giác ngộ là toàn diện và chúng sẽ không bao giờ trở lại trong tâm của hành giả.

3.    Người nào đã diệt trừ được mọi phiền não?


Chỉ có A La Hán là người hoàn toàn diệt trừ mọi ô nhiễm. Ngài không còn bám níu, không còn sân hận, không còn ngã mạn, không còn ganh tị hay những trạng thái tâm bất thiện khác. Cả những khi Ngài bị thách đố, Ngài cũng không hề nổi giận. Cả những khi Ngài nhìn vật gì hấp dẫn hay tốt đẹp, Ngài cũng không cảm thấy bám níu hay mong muốn vật ấy. Các bậc nầy đã hoàn toàn tiêu diệt ô nhiễm bằng cách chặt đứt mọi ô nhiễm trong tâm các Ngài.

4.    Diệt trừ ô nhiễm tạm thời bằng thiền Minh Sát

Những sự vật mà ta gặp phải cũng có thể gây ra sự tham ái hay sân hận trong tâm ta. Nếu ta không chánh niệm trên vật đó, ta sẽ phát sanh sự bám víu hay sân hận đối với vật ấy. Việc nầy xẩy ra cho phần đông trong chúng ta.

Nếu bạn hành thiền Minh Sát tốt đẹp và bạn có kinh nghiệm để tránh được tham ái và sân hận đối với vật được quan sát, bạn cũng có thể ngăn ngừa không cho phát sanh cả những vật mà bạn không quan sát. Đó được gọi là “tạm thời diệt tận ô nhiễm bằng thiền Minh Sát.”

Thiền Minh Sát
Thiền Minh Sát có thể đạt được hai sự tiêu diệt phiền não, đó là sự diệt trừ từng chập hay sát na diệt trừ, và sự diệt trừ tạm thời. Nhưng thiền Minh Sát không thể đạt được sự tiêu diệt phiền não thứ ba đó là sự diệt trừ toàn diện, sự diệt trừ nầy chỉ có thể thực hiện được khi chứng ngộ hay chứng Đạo tâm.

Nhiều khi hành giả nghĩ rằng nếu họ không chánh niệm trên đối tượng chánh họ không thực hành đúng. Nhiều khi họ nói rằng, “À, ta đã để thời gian hay phí thời gian theo dõi tâm đi chỗ nầy chỗ kia và ta không để nhiều thời gian chánh niệm trên đối tượng chánh.” Bất kỳ bạn chánh niệm trên đối tượng chánh hay đối tượng phụ, khi bạn có chánh niệm, tức là bạn hành thiền đúng rồi. Bạn đang thực sự hành thiền hay thực hành thiền Minh Sát. Điều quan trọng trong thiền Minh Sát thứ nhứt là sự chánh niệm trên đối tượng trong giây phút hiện tại.Có khi bạn quên chánh niệm và bạn nên dùng cái quên nầy làm đối tượng chánh niệm của bạn. Bây giờ bạn chánh niệm cái “quên”và đem tâm về đối tượng chánh.

Chánh niệm dẫn đến sự chứng ngộ chân lý vô thường


Bạn phải luôn luôn chánh niệm. Nếu bạn có thể giữ chánh niệm tích cực, bạn sẽ tiến bộ rất nhanh và bạn sẽ bắt đầu thấy đặc tánh thật sự của mọi sự vật. Chỉ có khi đó bạn mới bắt đầu thấy sự vật sanh và diệt.  Khi bạn thấy chúng sanh và diệt, bạn sẽ thấy chúng vô thường, bạn cũng sẽ thấy đặc tánh khổ và đặc tánh vô ngã của chúng. Bạn sẽ nhận thấy rằng bạn không điều khiển được chúng, và chúng sanh và diệt theo ý chí tự do của chúng. Khi bạn thấy sự vật “như là”, bạn mới có khã năng thấy rõ ràng ba đặc tánh chung của tất cả các pháp hữu vi có điều kiện. Thấy được ba đặc tánh vô thường, khổ, vô ngã của các pháp hữu vi, đó là tinh yếu của thiền Minh Sát. Nếu bạn thực hành thiền Minh Sát bạn phải thấy ba đặc tánh đó, bởi vì chữ “Vipassana” có nghĩa là “thấy sự vật bằng nhiều cách,” thấy sự vật bằng nhiều cách có nghĩa là thấy dưới ánh sáng của vô thường, khổ, và vô ngã.

Điều quan trọng của sự thực hành thiền Minh Sát là phải thấy ba đặc tánh đó, và để được thấy ba đặc tánh đó ta cần phải quan sát, cần nhìn thật sâu thật rõ và chú tâm chánh niệm đối tượng trong giây phút hiện tại. Muốn chú tâm chánh niệm đối tượng trong giây phút hiện tại ta cần nhiều nỗ lưc hay tinh tấn. Không có sự nỗ lực tinh tấn thì sẽ không đạt được những gì có giá trị. Vì thế nên Đức Phật dạy rằng phải tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm. Khi ta thực hành và áp dụng những tâm sở trên trong sự hành thiền và thêm sự định tâm, ta mới có thể vượt khỏi tham ái và sân hận đối với sự vật mà ta quan sát chánh niệm.

Lời nhắn nhủ


Trên đây Sư đã giảng một cách ngắn gọn bài kinh rất quan trọng của Đức Phật, đó là kinh Đại Niệm Xứ Maha Satipatthana Sutta. Nếu bạn hiểu được những gì Sư đã giảng ở trên, Sư nghĩ rằng bạn đã nắm vững phương thức thế nào là sự thực hành chánh niệm. Bạn cũng hiểu phương pháp hành thiền như thế nào. Điều quan trọng là bạn nên theo đúng những lời chỉ dẫn với sự tinh tấn và áp dụng chánh niệm để bạn thấy sự vật một cách thật rõ ràng.

Sư cầu mong cho tất cả quí vị được vượt khỏi mọi tham ái và sân hận ở đời.
Chuyển ngữ sang tiếng Việt: Nita Truitner

Vượt qua buồn chán và trầm cảm - Ajahn Jagaro


Vượt qua  buồn chán và trầm cảm xem ra là một chủ đề thú vị. Tất nhiên, bạn chẳng bao giờ biết sau khi vượt qua nó xong,  kế tiếp sẽ là gì - thậm chí kết quả có thể  còn tồi tệ hơn - nhưng tôi chắc chắn rằng hầu hết mọi người đều mong đợi “vượt qua” mang một ý  nghĩa  tốt đẹp hơn.

Bài pháp thoại này chủ yếu là một sự suy niệm dựa trên những kinh nghiệm rất phổ biến của con người mà chúng ta ai cũng có.
Buồn chán là một kinh nghiệm phổ biến cho tất cả mọi người,  nhưng tôi nghĩ kinh nghiệm này  đang trở nên càng phổ biến hơn đối với những người sống trong xã hội hiện đại, đặc biệt là giới trẻ. Trầm cảm cũng là một vấn đề đối với nhiều người, vì vậy tôi nghĩ rằng chủ đề này sẽ là một nền tảng khá thú vị cho sự suy niệm của bạn. Chắc chắn tôii  không muốn tự cho mình là một chuyên gia. Tôi không phải là bác sĩ tâm thần hoặc nhà tâm lý học, vì vậy các định nghĩa của tôi đưa ra không phải là các định nghĩa theo tinh thần của y học, mà mang vẻ của các báo cáo hơn, báo cáo của một con người đã quan sát và quán chiếu  các cảm  giác, cảm xúc và trạng thái của tâm, và đã cố gắng để hiểu các trạng thái này  và cách làm thế nào để đối phó với chúng.

Buồn chán  và trầm cảm thực sự là hai trạng thái hoàn toàn khác nhau. Buồn chán là một trạng thái tương đối đơn giản của tâm. Trạng thái của trầm cảm là một vấn đề hoàn toàn khác, nó thuộc về phạm vi phức tạp hơn nhiều của cảm xúc . Đối phó với trầm cảm thực sự khó khăn hơn nhiều trong cả hai lãnh vực thảo luận và điều trị thực tế. Tuy nhiên, tôi sẽ cố gắng  làm việc với cả hai trong cuộc nói chuyện ngắn này.

Buồn chán chỉ đơn giản có nghĩa là chúng ta không quan tâm. Trong tình huống này, sự việc  không làm cho ta cảm thấy thú vị. Chúng ta nói rằng chúng ta chán, hay nói theo cách mà  chúng ta thường nói, "Cái này chán quá!  Đây là một nơi thực sự  chán phèo! Phim này nhạt quá! Cuộc nói chuyện này thật là vô vị! Cuốn sách này lãng nhách. Con người đó tẻ nhạt  quá!" v.v…. cứ vậy, đủ thứ để chán. Chúng ta thường xem buồn chán  như là một cái gì đó đến từ bên ngoài.  Đây là điều đầu tiên tôi muốn chúng ta xem xét lại. Tôi không đồng ý với cách nói buồn chán là một cái gì đó đến từ bên ngoài. "Chẳng có gì buồn chán cả" nói như vậy mới thực sự chính xác, điều này cũng tương tự như nói  là "Tất cả mọi thứ đều chán như nhau." Cả hai lối nói này đều đúng với thực tại.

Buồn chán là kết quả đến từ tâm của chính mình mà ra chứ không phải từ nơi nào khác.  Không có gì là buồn chán, nhưng có những cái tâm buồn chán. Tâm buồn chán. Đây là điều này là rất quan trọng mà chúng ta phải hiểu và xem xét, nếu không chúng ta sẽ luôn luôn nói rằng, "Đây là một nơi nhàm chán, chốn này có cái gì sao sao ấy!. Cuốn sách này nhạt nhẽo quá,  hãy kiếm cuốn khác đi. Xử lý cuốn sách tẻ nhạt bằng cách ném nó  ra  bên ngoài và kiếm được một cuốn khác, thú vị hơn. " Đó là cách chúng ta tiếp cận cuộc sống. Chúng ta  xử lý sự buồn chán bằng cách thay đổi hoàn cảnh, cố gắng để làm cho nó trở nên thú vị hơn. Chúng ta không bao giờ thực sự nhận diện  nguyên nhân hoặc bản chất thật sự của vấn đề.
Buồn chán là sự chủ quan
Để minh họa điều này sẽ đưa ra một kinh nghiệm của chính tôi. Như tôi thỉnh thoảng từng nói, tôi rất thích khoa học viễn tưởng. Bữa nọ, tôi  xem một bộ phim khoa học viễn tưởng trên truyền hình, và tôi  thực sự say mê. Bộ phim thật hào hứng, adrenaline chảy trong máu và đầu óc tôi tỉnh như sáo. Rồi, tôi nhận thấy người đàn ông ngồi cạnh tôi - ông đang ngủ gật! Làm sao mà hắn ta có thể ngủ được chứ? Bộ phim rất thú vị, nhưng ông ta thì chán. Đó là một điều rất thú vị, phải không? Nó cho thấy rằng không phải  đối tượng là chán, mà chính là tâm   của chúng ta buồn chán, tâm không cảm thấy hứng thú với  tình huống, điều kiện,  hoặc kinh nghiệm đó. Sự buồn chán là một kinh nghiệm rất chủ quan, một trạng thái rất riêng của mỗi cá nhân. Bạn sẽ thấy rằng điều này là  lẽ  thực của hầu hết mọi thứ trên đời. Bạn đọc một cuốn sách và thấy nó thú vị, nhưng người khác không thể đọc hết  trang đầu tiên. "Thật là  chán, làm sao mà bạn có thể đọc được hết cuốn sách này chứ?"
Vậy buồn chán  là  gì? Đó là một kinh nghiệm mang tính chủ quan xảy ra khi tâm không có sự quan tâm, hứng thú hoặc không có sự hào hứng,  không thích những gì đang có  trong hiện tại. Bạn muốn một cái gì khác vì bạn đang chán. Bạn nói, "Cái này chán!  Cái này không chán!", Nhưng chính xác hơn thì phải nói, "Tâm đang chán". Tâm đang chán bởi vì nó không muốn tình huống này, nó muốn cái gì khác, nó muốn được ở một nơi khác, nó muốn có cái gì khác, muốn trải nghiệm một cái gì  khác, với một người khác, với  một nơi khác ...

Rất quan trọng để chúng ta   hiểu rằng cội nguồn  của sự buồn chán nằm trong  chính tâm  của chúng ta . Hậu quả của việc không hiểu được điều này là bạn sẽ mãi mãi cố gắng để thoát khỏi sự buồn chán bằng cách tìm những tình huống mới, kinh nghiệm  thú vị mới.

Nhưng nếu bạn cứ tìm cách thoát khỏi sự buồn chán đó mãi thì nó sẽ đưa bạn đi đến đâu? Đã bao giờ bạn nhận thấy rằng với giới trẻ ngày nay, mười lăm và mười sáu tuổi, mọi thứ đều trở nên quá nhàm chán? Việc gì nếu kéo  dài lâu hơn năm phút thì đều trở nên buồn chán. Quả là một thảm họa đối với giáo viên  bởi vì họ rất khó  để giữ sự chú tâm của học sinh. Tại sao chúng phải chú tâm đến năm mươi phút để học một cái gì đó? Vì vậy, họ phải tìm đủ mọi mánh lới.  thủ thuật, trò chơi và những trò giải trí khác để tiết dạy của  họ có thể kéo dài 50 phút.

Các giáo viên nói với tôi điều này khi họ mời tôi đến nói chuyện tại một trường học. Họ nói rằng khoảng thời gian thu hút được sự chú ý của học sinh rất ngắn, tôi không nên thất vọng nếu chúng trở nên bồn chồn và bắt đầu nói chuyện vì chúng luôn luôn như thế.  Đó không phải là một điều tốt đẹp để nói về các học sinh của mình, phải không? Trên thực tế, khi tôi nói chuyện, học sinh luôn luôn tỏ ra khá quan tâm bởi vì tôi nhìn quá kỳ lạ. Các giáo viên luôn luôn hỏi, "Sư có mang theo một cái gì đó cho học sinh xem để duy trì sự chú ý của chúng chứ?" Tôi không có bất cứ thứ gì ngoại trừ bản thân mình, thế là đủ. Tôi ngồi đó rất lạ trong chiếc y này, với cái đầu trọc, nói về một cái gì đó không thông thường, và điều đó thường giữ được sự quan tâm, chú ý của bọn học sinh. Năm mươi phút không quá dài đối với chúng trong tình huống đó, nhưng quá dài cho những bài học thông thường: Xã hội học,  số học, tiếng Anh, hóa học v.v…, rất khó  cho giáo viên kéo dài tiết dạy trong 50 phút. Tôi nghĩ rằng họ đang cố gắng giảm thời gian của tiết học xuống chỉ còn  30 phút.

Tại sao các em học sinh dễ dàng buồn chán? Bạn đã bao giờ xem xét những gì mà chúng đang tiếp thu? Bạn có bao giờ xem xét tốc độ của sự kích thích các giác quan và sự ham muốn mà  giới trẻ hiện đang hấp thu? Hãy thử xem truyền hình đi. Tôi không thường xuyên xem truyền hình, nhưng khi tôi xem, tôi  thấy các giác quan của mình đang bị tấn công tới tấp bởi vì mọi thứ diễn ra quá nhanh.  Cảnh tượng, màu sắc, và âm thanh, đặc biệt là trong các thước phim quảng cáo, ánh sáng nhấp nháy, âm thanh dồn dập,  mọi thứ diễn ra quá là nhanh. Có quá nhiều điều xảy ra trong vòng ba mươi giây. Bạn có biết  có bao nhiêu thứ đã được cô đọng lại trong 30 giây này không? Bạn đang lao vào không gian, lướt trên những con sóng - tất cả trong ba mươi giây!  Các bộ phim cũng rất nhanh, một loại trải nghiệm nhanh gọn, rất kích động và giật gân, được cô đọng vào trong một khoảng  thời gian ngắn như vậy. Vì vậy, các học sinh khi phải ngồi nghe một người nào đó nói về phản ứng hóa học, chúng  hoàn toàn buồn chán. Chỉ cần  nghĩ đến việc phải làm một cái gì đó mất đến một giờ thì thật là quá chán. Chỉ đơn   giản là chúng không còn quen   với nhịp độ chậm hơn bởi vì thời đại hiện nay cung cấp những kích thích  giác quan với tốc độ quá nhanh.
Khi bạn thức dậy vào buổi sáng và mở đài phát thanh, bạn có thể nghe thấy những gì đang xảy ra trên toàn thế giới. Trong mười phút, bạn biết được những gì đã xảy ra trong 24 giờ qua. Bạn có thể xem  được bao nhiêu kênh truyền hình? Tôi không biết, nhưng với truyền hình thế hệ  mới thì quá nhiều thứ sẵn sàng để xem. Và âm nhạc! Khi bạn mở đài phát thanh, có đủ mọi loại âm nhạc, và nó dồn dập,  với một sự hoạt động  tràn đầy năng lượng.

Tất cả điều này chỉ đơn giản có nghĩa là bạn bắt đầu trở nên mệt mỏi, các giác quan của bạn trở nên cùn nhụt. Do chịu tác động của quá nhiều sự kích thích , các giác quan không còn nhạy cảm, bằng không nó bị áp đảo bởi các sự kích thích. Với tôi, xem truyền hình là một sự áp đảo đối với các giác quan. Chỉ sau nữa giờ đồng hồ xem TV là tôi cảm thấy  mệt mỏi vì những kích thích  giác quan quá  mãnh liệt.  Khi xem truyền hình thường xuyên,  bạn sẽ phải trở nên ít nhạy cảm hơn. Kết quả của việc này là bạn phải mất nhiều thời gian hơn để phản ứng với các kích thích  tương tự, với cùng một sự quan tâm . Bạn thậm chí  còn cần nhiều thời gian  hơn nữa để tạo ra sự quan tâm, hứng thú, và cảm giác hưng phấn  trong cuộc sống.
Để minh họa cho điều này, tôi muốn bạn  hướng sự  chú ý của mình đến  một việc mà bạn cho là  bình thường. Bạn về nhà, bạn có một chiếc truyền hình, đài phát thanh và một chiếc ô tô. Bạn sẽ lái xe về nhà hoặc có thể bạn sẽ đi xe lửa, xe buýt hoặc xe điện. Bạn nghĩ rằng điều đó chẳng có gì đặc biệt cả, phải không? Một việc khá bình thường - một chuyến đi nhàm chán trên xe điện. Về đến nhà bạn mở tủ lạnh, bạn lấy đồ uống ướp lạnh, trái cây ra. Bạn bật công tắc và ánh sáng xuất hiện. Bạn đi vào nhà vệ sinh, giật nước, và  mọi thứ được dội sạch sẽ. Bạn mở vòi nước - nước tuôn ra, nóng và lạnh. Tất cả những thứ đó đều rất bình thường, phải vậy không? và chẳng có gì là  thú vị cả.

Bây giờ hãy tưởng tượng một người của khoảng 100 năm về trước ở trong cùng một tình huống -  đôi mắt của người ấy sẽ vọt ra ngoài : "Nhìn kìa! Cái đó là gì vậy? Một chiếc xe! Bạn có thể lái nó! Một cái truyền hình, tủ lạnh, điện ... tuyệt quá! Kỳ diệu quá! ".  Nó thật là kỳ diệu.  Bật công tắc và các ngọn đèn sáng lên.  Bạn thậm chí không cần đứng lên để mở công tắc, chỉ cần ngồi một chỗ bấm nút điều khiển. Thật là kỳ diệu, ngồi tại chỗ, bấm nút điều khiển và truyền hình, video, âm thanh stereo được kích hoạt. Bạn có thể  kích hoạt rất nhiều thứ từ chỗ ngồi của mình. Bạn có thể lái xe về nhà, bật công tắc và cánh cửa mở ra giống như trò ảo thuật vậy!

Những người không quen với những món này sẽ thấy chúng vô cùng hấp dẫn – Họ thực sự  bị áp đảo. Họ sẽ không thấy buồn chán chút nào hết. Họ có lẽ sẽ không ngủ được do sự phấn khích. Hãy tưởng tượng họ bước đi trong ngôi nhà của bạn: Họ sẽ thấy vui thích với tất cả các đồ dùng, tất cả những gì bạn có trong nhà của bạn, họ có thể sẽ không ngủ được tối nay. Bạn có nghĩ rằng họ sẽ cảm thấy buồn chán không? Ngôi nhà của bạn có chán không? Đã bao nhiêu lần bạn cảm thấy chán ngấy  trong ngôi nhà của mình? Thực tế là, hầu hết mọi người cảm thấy buồn chán khá thường xuyên.

Vấn đề nằm ở chỗ là  tình huống bản thân nó không  nhất thiết là nhàm chán, nhưng chính cái trạng thái của tâm  trở nên buồn chán khi nó thấy  tình huống đó bình thường, không còn hứng thú, không còn thú vị để nó quan tâm nữa. Tình huống không tạo sự hứng khởi, không khơi dậy bất kỳ sự quan tâm nào của chúng ta, vì vậy chúng ta rơi  vào một trạng thái thụ động buồn chán, nghĩ rằng, "Tôi muốn một cái gì  khác, tôi muốn trải nghiệm một cái gì khác, tôi muốn được ở một nơi nào khác. Tôi chán.” Đây là một kinh nghiệm rất phổ biến.

Cách mà  chúng ta thường đối phó với tình huống này là  tìm kiếm những trải nghiệm mới, tìm kiếm một cái gì đó mới. Đó là những gì chúng ta đang được khuyến khích để làm, tìm  một cái gì đó mới. Bạn buồn chán, do đó, bạn đi ra ngoài và kiếm một  cái gì đó mới: váy mới, tủ quần áo mới, ô tô mới, video mới, bộ phim mới. Để không cảm thấy buồn chán, bạn cứ việc tiếp tục mua sắm một thứ gì đó mới.

Tiến trình này là gì và nó sẽ dẫn chúng ta đến đâu? Nó gây ra cho chúng ta điều gì? Nó làm cho chúng ta  càng ngày càng ít nhạy cảm hơn, càng ngày càng ít hài lòng hơn, và càng ngày càng ít có khả năng cảm nhận được niềm say mê của việc mình đang được sống, ngoại trừ trong một số tình huống hiếm hoi khi chúng ta tìm thấy được một cái gì đó mới, khi chúng ta đi một nơi nào đó khác lạ. Kết quả của việc này là hầu như trọn cuộc sống của chúng ta là một sự nhàm chán. Cuộc sống sẽ càng ngày càng trở nên nhàm chán nếu bạn cứ tiếp tục đi theo xu hướng này.

Người giàu, những người đã ở khắp mọi nơi và làm mọi thứ, cảm thấy buồn chán khá thường xuyên . Thật khó tìm được một thứ gì đó để làm cho họ phấn khích, Một khi bạn đã ăn tất cả các loại món ăn, một khi bạn đã đến tất  cả các nhà hàng ở Melbourne, chắc hẵn bạn sẽ thấy nhàm chán. "Tôi có thể đi đâu để có một đêm thú vị?" Một khi bạn đã xem thấy tất cả các chương trình .. . "Ôi trời, chẳng có gì hay ho trên truyền hình cả. Quá chán!." Bạn   ngày càng trở nên  buồn chán hơn vì ngày càng trở nên mệt mỏi hơn, ngày càng trở nên kém nhạy hơn cảm, và lệ thuộc vào những thứ kích thích sự hưng phấn của bạn càng nhiều hơn. Giới trẻ ngày nay đau khổ vì điều này.Không phải chỉ riêng có giới trẻ, nhưng giới trẻ chịu tác động nhiều hơn, bởi vì họ đang được nuôi dưỡng trong môi trường với một sự kích thích ở mức độ cao.

Người ta thường hay hỏi tôi về cuộc sống của các tu sĩ, đặc biệt là khi tôi  nói chuyện với học sinh tại các trường học. Họ hỏi tôi  làm những gì. Vâng, chúng tôi dậy vào lúc bốn giờ sáng và chúng tôi hành thiền.
“  Quý sư làm gì khi  hành thiền?”
“ Ồ, chúng tôi chỉ ngồi yên nhắm mắt”
“Sau đó thì quý sư làm gì?”
“Chúng tôi uống trà và rồi làm một số công việc lặt vặt, quét tước và dọn dẹp, chúng tôi ăn một ngày  một bữa, đọc một chút vào buổi chiều.

“Thế quy sư có chơi thể thao không?”

“Ồ không, chúng tôi không chơi thể thao”
“Có giải trí không?”
“Không chúng tôi không được phép giải trí, không ca hát, nhảy múa, không nghe nhạc, không xem TV, không xem phim …”
“Không xem phim!  Vậy quý sư có thấy chán không?  Chán lắm phải không? Quý sư ngồi suốt ngày trong rừng phải không?  Quý sư có tổ chức tiệc tùng không?”
“Không có tiệc tùng gì hết”.
“Chán quá phải không? Sư có thấy chán không?”
"Ồ, vâng, thông thường mà nói thì rất là chán, hoàn toàn buồn chán. Cuộc sống tu viện được thiết kế để sống hoàn toàn nhàm chán, một cuộc sống nhàm chán hoàn hảo cho đến khi bạn trở thành một vị thầy, sau đó –thật không may- bạn sẽ không có thời gian để  được chán nữa. "
Các vị sư  có thấy chán không? Chắc chắn, tất cả những ai đến ở tại tu viện đều thấy đời sống ở đó chán phèo, và chuyện gì xảy ra? Chúng tôi có  chơi nhạc  hoặc đưa họ ra ngoài đi xem phim để thoát khỏi sự buồn chán không? Không. Tại sao?  Buồn chán là một trạng thái của tâm, và việc rất quan trọng là  con người  phải hiểu được tâm  của mình. Bạn không cần phải tìm sự giải trí để  giúp cho bạn vượt qua buồn chán  Nếu bạn chưa hiểu buồn chán là gì, nó sẽ còn gây rắc rối cho bạn. Cội nguồn  của sự buồn chán nằm  trong tâm, trong cái cách muốn tìm một cái gì khác, cần cái gì khác, muốn một cái gì đó mới. Đây là sự khao khát mà trong   trong Phật giáo, chúng ta gọi là  tanha, tham ái.

Điều gì đáng được khát khao nhất trên đời?Tham ái sinh khởi khi các giác quan bị kích thích  và sự  khao khát này không bao giờ có thể được thỏa mãn.  Với bạn,  điều đáng được khát khao nhất là gì?  Điều này rất chủ quan, mọi người sẽ có một câu trả lời khác nhau.
Một lần tôi từ Thái Lan trở về, trên đường đến sân bay Bangkok và -  ai cũng biết- Bangkok nổi tiếng với nạn kẹt xe khủng khiếp. Chúng tôi kẹt cứng trong chiếc ô tô trên một đoạn đường cao tốc, lúc đó tôi đang bị tiêu chảy nặng. Có một tai nạn giao thông xảy ra và chúng tôi bị mắc kẹt trong một rừng xe ô tô chật như nêm. Con đường nghẹt cứng xe ô tô và chẳng có một lối nào để đi, không có bụi cây, không có gì cả- tôi đã kẹt cứng ở đó. Hãy nghĩ về những gì có thể xảy ra các bạn cũng có thể hiểu đó là một tình huống rất khó chịu và căng thẳng . Tôi có thể nói hết sức trung thực là điều khao khát nhất đối với tôi lúc đó là được vào một nhà vệ sinh. Đó là điều mong muốn nhất trên đời đối với tôi tại thời điểm đó, điều duy nhất mà tôi thực sự muốn. Mọi thứ khác đã bay  biến khỏi tâm trí của tôi.

Vì vậy, điều khao khát nhất chính điều mà bạn muốn ngay bây giờ. Nhưng tất nhiên sự khao khát này không bao giờ tồn tại lâu, nó thay đổi. Bất kể bạn muốn gì, một khi bạn có được nó, bạn không còn muốn nó nữa. Bạn muốn một cái gì  khác hơn. Thậm chí nếu bạn không có  được nó, sự khao khát đó có thể kéo dài  hơn một chút, nhưng chẳng bao lâu sau bạn sẽ muốn một cái gì đó khác.

Tham ái là không bao giờ trung thành với đối tượng của nó. Nó luôn luôn muốn cái gì khác, đó là bản chất của nó, tham ái là vậy đấy- khao khát, ao ước một cái gì khác, không bao giờ muốn  những gì bạn đã có. Đó là lý do tại sao bạn cảm thấy chán với mọi thứ và tất cả. Cho dẫu đối tượng có thú vị hoặc hấp dẫn bao nhiêu, bạn cũng sẽ cảm thấy chán  nó, cũng giống như bạn thấy chán với việc lái xe, với truyền hình, với phim ảnh, với tủ lạnh, ngay cả với điện. Bạn thậm chí còn phát chán với những bài  Pháp thoại. Bạn phát ngấy với nó, chán! Đi máy máy bay cũng trở nên nhàm chán. Nếu bạn có một cơ hội  phóng tên lửa lên mặt trăng mỗi tuần, bạn cũng sẽ phát chán với điều đó luôn. Tham ái không trung thành với một đối tượng nào cả. Nó luôn luôn muốn một cái gì khác mới lạ hơn.

Bạn sẽ trở nên nhàm chán với tất cả mọi thứ, bởi vì tâm có căn bệnh đưa đến sự nhàm chán. Bệnh đó là tham ái. Hãy cố gắng để nhận ra rằng tham ái sẽ trở thành một loại nghiện. Sự kích thích các giác quan giống như một loại thuốc gây nghiện:  sử dụng càng nhiều,  bạn càng nghiện nó và phải sử dụng liều cao hơn. Lúc đầu bạn hút thuốc chỉ có mười điếu thuốc lá, chẳng bao lâu sau bạn sẽ hút hai mươi điếu. Bạn uống hai tách cà phê mỗi ngày, chẳng chóng thì chầy bạn sẽ cần bốn tách mỗi ngày Tôi có thể nói từ  kinh nghiệm của chính mình vì tôi thích cà phê. Vâng, bạn sẽ quen với liều lượng sử dụng, sau đó để có được cùng một sự kích thích bạn cần phải tăng thêm liều lượng một chút nữa. Mọi thứ đều y như vậy.

Hễ chúng ta còn bị tham ái chi phối, còn khao khát tìm sự kích thích các giác quan,  chúng sẽ luôn cảm thấy buồn chán và luôn cần một thứ gì mới.  Nếu điều này không được hiểu rõ, không được nhận thức một cách khôn ngoan và cặn kẽ, càng ngày chúng ta sẽ trở nên kém hài lòng, kém nhạy cảm và khả năng vui thú với cuộc sống cũng kém dần đi, và chúng ta càng ngày càng thấy buồn chán hơn.
Bạn có bao giờ suy xét kỹ để thấy rằng có lẽ chúng ta không nhất thiết phải cảm thấy nhàm chán với bất kỳ tình huống nào. Nếu chúng ta có một ít hiểu biết và khả năng kiểm soát tâm, có lẽ chúng ta không có gì để buồn chán. Không cần thay  đổi các điều kiện, chúng ta vẫn có thể vượt qua sự buồn chán. Đơn giản chỉ là vấn đề thay đổi thái độ của chúng ta.  Đơn giản chỉ cần sự vật hiện nay như thế nào thì cứ nhìn  chúng y như vậy và chấp nhận chúng đúng với bản chất của chúng, không để cho chúng ta bị áp đảo bởi một sự khao khát cho  một cái gì đó mới một cách quá mức.  Và rồi khi mà chúng ta đã chấp nhận sự vật đúng với bản chất của chúng trong hiện tại, chúng ta sẽ có thể kinh nghiệm được sự thỏa mãn và an vui.

Mọi thứ đều thú vị nếu bạn nhìn nó thật gần và mở tâm của bạn ra với nó. Sự  tuyệt diệu có thể được tìm thấy ngay trong những điều nhỏ nhất: một hạt cát, một bông hoa, ánh sáng mặt trời chiếu qua những hàng cây, những ngôi sao lấp lánh trong đêm,  sự thinh lặng trong tiếng ồn ào, huyên náo. Tất cả đều có thể là  điều thú vị khi tâm khơi gợi lên sự thú vị ấy. Hãy chú ý rằng tâm khơi gợi lên sự thú vị   chứ không phải khơi dậy sự ham muốn đối với một cái gì khác. Tâm có thể tạo ra sự thích thú một cách dễ dàng tương đương với khả năng nó khơi dậy sự ham muốn. Nếu bạn tạo ra sự thích thú, bạn có sự hài lòng với sự thích thú. Nói cách khác, nếu bạn cảm thấy mình đang sống, bạn sẽ cảm thấy có sinh khí, bạn thậm chí có thể cảm thấy sự hứng khởi.

Tôi luôn luôn nói về điều này khi dạy thiền, bởi vì một trong những kỹ thuật mà chúng tôi dạy là chú tâm trên hơi thở. Thường thì mọi người nhận xét rằng  thiền tập kiểu như vậy thì buồn chán làm sao và chẳng có một chút gì gọi là  siêu phàm thoát tục hết. Tại một buổi thuyết Pháp ở Perth với chủ đề "Giới thiệu về thiền Phật giáo", tôi đã dạy về quán niệm hơi thở. Vào cuối buổi nói Pháp, một người phụ nữ nói, "Tại sao Sư không dạy cho một kiểu thiền gì cho nó “siêu siêu” một chút, hơi thở tầm thường quá?" Tôi nghĩ rằng tôi  phải trả lời  theo cách mà câu trả lời của tôi khiến cho người hỏi phải đặt tiếp thêm  một câu hỏi khác. Vì vậy, tôi nói, "Ồ, nhưng hơi thở thiêng liêng nhất đó chứ." Bà ta trả lời: "Ồ, vậy sao!." và không hỏi thêm bất cứ điều gì khác, thật là thất vọng!

Bà ta đã chấp nhận câu trả lời của tôi một cách mặc nhiên, nhưng hơi thở không tầm thường chút nào. Nó có thể là rất là thú vị, thậm chí còn đưa chúng ta đến sự giải thoát . Nếu bạn khơi dậy được sự thích thú,  hơi thở sẽ là thứ thú vị nhất. Khi bạn khơi dậy sự thích thú, bạn sẽ chú tâm, dần dần sẽ duy trì được sự tập trung  tâm ý, và  bạn có thể kinh nghiệm được sự hỷ lạc, niềm vui và hạnh phúc. Những thứ này sinh khởi từ sự thích thú mãnh liệt của tâm mà  không bị lệ thuộc vào đối tượng.  Đây là một kinh nghiệm sinh khởi trong tâm của bạn và bạn có thể tạo ra nó. Một đối tượng trung tính như hơi thở có thể đem lại cho bạn sự hỷ lạc, giúp bạn nếm trải niềm vui và hạnh phúc mà những trải nghiệm hấp dẫn nhất do các sự kích thích giác quan đem lại cũng không thể sánh bằng.

Vượt qua buồn chán

Vậy thì  làm thế nào để   vượt qua nhàm chán? Nó đòi hỏi chúng ta  phải phát triển nguồn nội lực, phát triển  khả năng  phát ra nguồn năng lực tiềm tàng, khả năng để có thể khơi dậy sự thích thú trong tâm của mình và không để mình trở thành  nạn nhân bị sự khao khát  một thứ gì đó ám ảnh.

Trong ta luôn luôn khao khát một cái gì khác, một người khác,  một nơi chốn khác, không bao giờ thỏa mãn với những gì đang có mặt ngay đây trong giờ phút  hiện tại. Bạn có thể đang thưởng thức một bữa ăn tuyệt vời với các món ăn ngon, nhưng bạn lại đang nghĩ về bộ phim mà bạn sẽ đến xem sau đó. Bạn đi đến một công viên có những bông hoa xinh đẹp và bạn ngắm nhìn chúng. Ban đầu, bạn bị màu sắc và hình dạng của chúng làm cho ngất ngây, nhưng chỉ   một vài khoảnh khắc sau đó thôi, bạn lại nghĩ về một cái gì khác. Khoảng thời gian chú ý của chúng ta thật ngắn ngủi  làm sao!  Những thứ đẹp đẽ chỉ có thể giữ sự chú ý của chúng ta trong một vài phút. Vậy thì các đối tượng bình thường còn có hy vọng gì lôi kéo được sự quan tâm của chúng ta?

Chúng ta cần phải phá vỡ sự ham muốn một thứ gì mới luôn ám ảnh chúng ta này . Nó chỉ là một thói quen, vậy thôi, chỉ là một thói quen, một phản ứng có điều kiện của tâm. Nó có thể thay đổi, chúng ta có thể phá vỡ thói quen đó. Chúng ta thể khơi dậy sự thích thú ở  bất cứ thứ gì mà chúng ta quan tâm. Chúng ta có thể khơi dậy sự thích thú và duy trì nó . Đó là một trong những bước thực hành căn bản trong thiền tập. Chúng ta tự  huấn luyện mình để khơi dậy sự thích thú, duy trì sự thích thú,  duy trì sự chú ý vào một cái gì đó, thường là điều bình thường nhất.

Đó là lý do tại sao trong thiền Phật giáo chúng tôi không cho cho bạn các các đề mục thiền hấp dẫn. Chúng có gì tốt chứ? Chúng chẳng giúp bạn phát triển được gì từ bên trong chính mình. Bạn có thể tập trung vào một bộ phim mới thú vị, điều đó không thể chối cãi. Hầu hết chúng ta có thể ngồi bị cuốn hút trong một bộ phim hai giờ đồng hồ mà không hề nhận thấy thời gian trôi qua. Tuy nhiên, bạn chẳng nhận được gì từ nó, ngoại trừ một cái đầu lộn xộn, một mớ ký ức, và không phát triển được một chút xíu nào hết cái khả năng có thể tạo ra sự hứng thú mà  không bị lệ thuộc vào đối tượng.  Tuy nhiên nếu bạn có thể khơi dậy sự hứng thú,  sự chú tâm mãnh liệt - chỉ  trong năm phút thôi - trên một đối tượng trung tính như hơi thở chẳng hạn, bạn sẽ thấy có một cái gì đó rất mạnh mẽ bên trong bạn. Bạn có một nguồn năng lượng tốt để sử dụng và mang lại niềm vui và hạnh phúc cho cuộc sống của bạn. Điều này là rất quan trọng. Sự buồn chán là một trạng thái của tâm xảy ra khi tâm trí đã bị mất khả năng quan tâm, nhạy cảm, không có khả năng hài lòng với những gì đang hiện hữu.

Một cách tương đối mà nói thì   có những tình huống kích thích giác quan của chúng ta mạnh  hơn những tình  huống khác. Tôi không phủ nhận điều đó, nhưng nguồn gốc của vấn đề là ở bên trong. Nếu chúng ta tiếp tục theo con đường mỗi ngày  tìm kiếm sự kích thích giác quan một nhiều hơn, chúng ta sẽ càng khó khăn hơn để có thể tìm được ý nghĩa của niềm vui, của sự hạnh phúc, ý nghĩa của sự đang sống. Thay vào đó, chúng ta sẽ càng ngày càng trở nên buồn chán và mệt mỏi hơn.

Cách để chỉnh lại tâm là thay đổi thái độ của chúng ta. Tại sao là cuộc sống của một tu sĩ được thiết kế để sống thật đơn giản trong đó mọi người thường trải nghiệm sự buồn chán? Điều đó rất tốt, bởi vì nhờ đó mà họ sẽ hiểu sự buồn chán, tìm ra  căn nguyên của sự buồn chán và vượt qua nó, chứ  không phải khắc phục sự buồn chán bằng cách thay đổi các điều kiện.  Vượt qua sự buồn chán bằng cách thay đổi thái độ trong tâm và phẩm chất của tâm, đây là điều rất quan trọng mà chúng ta phải hiểu. Một khi chúng ta hiểu điều này, chúng ta có thể tránh được buồn chán ngay cả trong những tình huống chẳng có gì hấp dẫn. Ít nhất, chúng ta có thể hài lòng và có được sự bình yên.

Mãn nguyện có nghĩa là có được sự yên ổn trong tâm, sống có trách nhiệm, không lười biếng và thờ ơ.  Sự mãn nguyện theo tinh thần Phật giáo có nghĩa là thanh thản, an vui với mọi sự, nhạy cảm và cởi mở một cách hoàn hảo với mọi đối tượng cho dẫu chúng dễ chịu hay khó chịu, có  kích thích hay không kích thích các giác quan của chúng ta.

Đây là một cách để huấn luyện tâm và thiền tập là một công cụ để giúp cho sự huấn luyện đó. Chúng ta phải chịu trách nhiệm đối với tâm   thức của chúng ta. Sức mạnh gây nghiện của tham ái  điều khiển chúng ta, buộc chúng ta tiếp tục suy nghĩ, "Tôi không thích điều này, tôi cần một cái gì đó khác." Đó là một sự sáng tạo của tâm. Tà kiến và tà tư duy  tạo ra những trạng thái khao khát và nhu cầu này. Chúng ta có thể thay đổi điều đó nếu chúng ta chế ngự được tâm, nếu chúng ta phát triển một khả năng  đủ để kiểm soát suy nghĩ của chúng ta. Suy nghĩ chẳng có gì là khó lắm đâu, bạn có thể kiểm soát nó. Chỉ kiểm soát được suy nghĩ thôi và nói "Dừng lại, không suy nghĩ nữa". Chỉ cần dừng lại là có được sự bình an, bạn có thể làm điều đó. Ngưng tạo thêm nhu cầu và sự khao khát một cái gì khác. Hãy quan tâm đến điều này, và rồi bạn sẽ không còn có sự buồn chán. Bạn sẽ có sự yên bình và thậm chí sự thích thú trong tâm.

Một khi bạn hiểu những gì tôi đang muốn nói, chỉ cần thay đổi  thái độ là bạn sẽ thấy kết quả. Chỉ cần một sự thay đổi  giản đơn trong thái độ, hiểu ra rằng bạn không cần phải được tiếp tục kích thích bởi một cái gì mới để được hạnh phúc, bạn có thể tìm thấy bình an và mãn nguyện ngay tức khắc.


Hiểu về trầm cảmTrầm cảm phức tạp hơn buồn chán nhiều.  Thường xuyên buồn chán bạn có thể trở nên trầm cảm.  Trầm cảm không liên quan tới việc muốn một cái gì đó khác lạ hơn như buồn chán.
Buồn chán không phức tạp – Tôi không muốn cái này, tôi muốn một thứ gì đó khác-  trầm cảm không đơn giản như vậy.  Nó là một trạng thái cảm xúc mạnh mẽ hơn, thường là một sự buồn bã pha lẫn với sự tuyệt vọng.  Tựa như một thứ gì nặng nề và u ám, tất cả đều  tối  tăm và tuyệt vọng, không có chút ánh sáng hy vọng, không có chút sinh lực.
Khi bạn  chán, bạn thường vẫn có năng lượng: "Vâng, tôi sẽ đi đâu đó và làm cái gì khác." Bạn không muốn mình bị buồn chán và bạn có năng lượng để làm một cái gì đó để loại bỏ nó. Nhưng khi bạn chán nản  (trầm cảm) bạn không có chút năng lượng nào, bạn đã mất hy vọng,  nó áp đảo bạn và  bạn cảm thấy như bị nó nhấn chìm.

Trầm cảm có thể  sinh khởi do nhiều yếu tố. Những khó khăn về mặt cảm xúc, chẳng hạn như một sự  thất bại, hoặc một mối quan hệ trở nên chua chát , hoặc bạn bị  những người mà bạn yêu thương và tôn trọng chỉ trích mạnh mẽ,  những thứ này có thể dễ dàng xô đẩy bạn vào  trạng thái trầm cảm . Thay vì phản ứng với sự tức giận, bạn bắt đầu nghĩ rằng có lẽ họ đúng. Trầm cảm là một cảm giác u uẩn, tuyệt vọng.

Nếu bạn đang lâm vào tình trạng buồn chán kinh niên  và bạn  không biết làm gì  khác, như vậy không  phải  là bạn chỉ buồn chán không thôi đâu, bạn cũng đã bị trầm cảm, bởi vì bạn đã mất hy vọng. Vì vậy, trầm cảm là một gánh nặng. Nó làm mất đi năng lượng của cuộc sống. Nó lấy đi hy vọng và niềm say mê, đó là một cảm giác tối tăm, u uẩn. Tất cả chúng ta đều kinh nghiệm những mức độ khác nhau của  trầm cảm, điều này khá phổ biến, một số người có mức độ trầm cảm nặng hơn so với những người khác.

Bạn sẽ làm gì về để đối phó với trầm cảm? Bởi vì nó là một tình trạng phức tạp, câu trả lời rõ ràng không phải là đơn giản. Có rất nhều khía cạnh liên quan, nhưng tối nay tôi muốn đưa ra một số phương pháp lượm lặt từ một trong những lời dạy của Đức Phật , có thể  sử dụng để đối phó với trầm cảm.

Một trong những điều  Đức Phật  dạy được gọi là Bảy yếu tố của sự Giác ngộ. Đây là những bảy phẩm chất  tâm linh cần được tu tập để tiến tới sự Giác ngộ. Mặc dù Bảy yếu tố giác ngộ là những phẩm chất khá đặc biệt được phát triển trên con đường dẫn đến Giác ngộ,  nhưng tôi muốn nói đến chúng theo  ý nghĩa đời thương hơn, vì những phẩm chất của bảy yếu tố này có thể sử dụng trong việc đối phó với trầm cảm một cách hiệu quả . Những định  nghĩa của tôi về các yếu tố này có thể không  truyền tải hết được  sự sâu sắc của chúng, nhưng bạn có thể  thấy được sự hữu ích của chúng khi đem ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày của bạn.

Có bảy yếu tố, nhưng tối nay tôi sẽ chỉ đề cập đến ba yếu tố mà thôi, bởi vì ba yếu tố này có tác dụng nâng cao tinh thần, năng lượng và làm cho tâm phấn chấn, hồ hỡi, và vì vậy chúng là một thứ thuốc giải độc rất tốt cho trầm cảm.

Yếu tố đầu tiên của ba yếu tố nói trên là học hỏi  của Giáo Pháp, hoặc có thể nói theo một cách khác là  tìm hiểu thực tại, bản chất của sự vật  thuận theo quy luật của cuộc sống. Ví dụ, bạn đang ở trong một vị thế mà ai đó bắt đầu chỉ trích bạn và chỉ ra tất cả những lỗi lầm của bạn. Nếu nhiều người chỉ trích bạn, bạn sẽ bắt đầu tin những gì họ nói về bạn là đúng. Một khi bạn bắt đầu tin  nó, bạn có thể bị trầm cảm. Nếu bạn không tin điều đó,  bạn sẽ  đáp trả: "Bạn đang nói gì vậy?  Tôi tự biết mình nhiều hơn bạn biết tôi.  Bạn là ai mà có quyền nói về tôi như vậy?" Do bạn không bị trầm cảm nên bạn giận dữ, và đáp trả. Nhưng khi cái khả năng cho rằng họ đúng và bạn sai bắt đầu lẻn dần  vào tâm thức của bạn, bạn có thể bị trầm cảm. Bạn bắt đầu suy nghĩ : "Vâng, tôi thực sự đã làm rối tung mọi thứ, tôi thật sự hết thuốc chữa." Bạn buông xuôi và điều đó thực sự hết thuốc chữa. Bạn có thể làm gì bây giờ?  Quá muộn rồi.

Hãy nhìn sự vật đúng với bản chất của chúng

Loại  thái độ và phản ứng này sở dĩ xảy ra là do chúng ta không hiểu rõ bản chất của cuộc sống. Bản chất của cuộc sống là gì? Cuộc sống có cả khen và chê. Mọi người sẽ luôn được khen ngợi, và họ cũng sẽ luôn chê trách. Bạn sẽ luôn luôn nhận được một số lời khen ngợi, bạn sẽ luôn luôn nhận được một số lời chỉ trích, bất kể bạn đi đến đâu hoặc bạn là ai. Bất cứ nơi nào bạn đến, bất cứ  bạn là ai, bạn không bao giờ thoát khỏi nó. Hãy  nghe những gì họ nói về  Chúa Trời - một người khen ngợi , một số người nguyền rủa . Ngay cả Tổng thống của Hoa Kỳ cũng vậy - một số người reo hò  khen ngợi ông ta  trong khi một số đang chế giễu . Ai cũng vậy thôi, ngay cả một tu sĩ Phật giáo cũng chịu chung số phận . Khi tôi gần gũi với giới Phật tử, họ thường đối xử với tôi rất tốt. Nhưng khi tôi  đến gần những người không phải Phật tử hoặc bước đi trên đường  phố, họ  nói những điều không tốt đẹp về tôi. Khen ngợi và chê trách , cuộc đời nó là vậy. Không ai có thể thoát khỏi điều đó.

Tìm hiểu bản chất của  chính bạn cũng giống như tìm hiểu bản chất của cuộc sống.  Bạn không hoàn hảo ...bạn phải biết là mình không hoàn hảo! Bạn có  hiểu điều đó không? Bạn không hoàn hảo, bạn có những lúc phạm sai lầm. Bạn không bao giờ có thể nhìn thấy mọi thứ trọn vẹn và rõ ràng. Đôi khi bạn đánh giá sai, đôi khi bạn phạm những sai lầm thật ngớ ngẩn Vâng, bạn là con người, mọi người đều phạm sai lầm.
Một số người, đặc biệt là Phật tử, nghĩ rằng trong suốt cuộc đời mình Đức Phật không bao giờ phạm sai lầm, vì Ngài là  Đức Phật, bậc toàn tri và toàn giác. Tuy nhiên, một sự cố đặc biệt được ghi lại trong Kinh điển luôn luôn hấp dẫn tôi và làm cho tôi cảm thấy tốt hơn nhiều mỗi khi tôi làm điều gì sai lầm và nghĩ đến nó.

Ngày nọ,  Đức Phật đã  dạy cho Tăng đoàn gồm rất nhiều các vị sư. Đề mục thiền mà Ngài dạy không phải là  chánh niệm trên hơi thở. Đó là một đề mục  cụ thể hơn rất nhiều. Một trong những kỹ thuật thiền định mà Đức Phật đã đặc biệt  dạy cho chư Tăng, Ni thời đó là quán sát cơ thể . Đôi khi nó được gọi là quán sự  về sự bất tịnh hoặc không khả ái của cơ  thể. Trong hình thức thiền định này, bạn dùng tâm mổ xẻ cơ thể và xem nó như là một đối tượng không hấp dẫn, như là một túi da chứa đủ thứ bất tịnh.

Bắt đầu với tóc ở trên đầu, việc quán niệm di chuyển qua bên phải  và đi khắp toàn bộ cơ thể, mô tả tất cả những gì có bên trong. Việc quán niệm này nghe có vẻ khá khủng khiếp khi bạn bắt đầu mổ xẻ cơ thể. Ðức Phật đã cho các nhà sư đề mục thiền  rất tốt này, khuyến khích họ thực hành siêng năng trong khi Ngài rút lui ẩn cư, để lại chỉ thị rằng không ai được làm phiền Ngài ngoại trừ vị tu sĩ mang thức ăn cho Ngài mỗi ngày một lần.

Đức Phật đã để lại các nhà sư hành thiền với nhau. Họ đã hành thiền, và rất tinh tấn. Họ thiền và thiền về sự bất tịnh của cơ thể, và nhiều người trong số họ bắt đầu đạt một sự ghê tởm khủng khiếp đối với  cơ thể, cái bao đựng những thứ ô uế này: "Ồ, khi nào thì tôi sẽ được thoát khỏi cái thân này? Khi nào tôi sẽ thoát được cái bao đựng những thứ ghê tởm này?" Đây là cái quan kiến mà họ đã phát triển được. Trên thực tế nó là tà kiến, nó không phải là mục đích thực sự của kỹ thuật thiền định này, nhưng do không có sự hướng dẫn, việc  này có thể xảy ra. Nó chỉ là một sự thay đổi trong nhận thức, xinh đẹp trở thành xấu xí. Họ nhìn thấy cơ thể thật là kinh tởm.

Một số người trong nhóm  quá ghê tởm cơ thể của mình đến độ họ tìm đến một vị ẩn sĩ, người đang  sống một cuộc sống thiền. Họ nói với ông: "Nghe này ông bạn, chúng tôi hoàn toàn ghê tởm cái thân này. Làm ơn hãy   giết chúng tôi . Nếu ông bạn giết chúng tôi, ông bạn có thể lấy y và quả bát của  chúng tôi ." Vị ẩn sĩ là một người khá đơn giản: "Các bạn có chắc là việc đó tốt cho các bạn không? Việc đó có giá trị cho các bạn chứ?" Họ trả lời "Vâng.  Đó thực sự là những gì mà chúng tôi muốn." Vì vậy, vị  ẩn sĩ dùng  thanh kiếm của mình để giết các tu sĩ trẻ, nghĩ rằng ông đã làm một điều tốt.

Tuy nhiên, khi ông nghĩ về những gì mình đã làm,  ngẫm nghĩ  rằng giết người  là một việc xấu, ông bắt đầu cảm thấy hối hận. Khi vị ẩn sĩ  ra bờ sông để rửa cho thanh kiếm của mình cho sạch máu, ông hết sức ăn năn. Vào lúc đó, theo như câu chuyện kể, Ma- vương hiện ra trong nước như một vị thần và nói  với ông ta, "Ồ, không, thưa ông, đó là một việc làm cao thượng và có công đức nhất  của ông, ông đã giúp cho những  thanh niên đó vượt  qua đại dương của sinh tử luân hồi và được giải thoát.  Đó là một hành động phước báu  vô lượng, sẽ đem lại lợi ích lớn lao cho ông trong đời hiện tại và cả vị lai. " Vị ẩn sĩ trở nên hoàn toàn phấn chấn vì tin rằng mình đã tạo được phước báu lớn lao. Nghĩ rằng mình nên tiếp tục làm việc như vậy nhiều hơn nữa, ông đã đến nơi  các tu sĩ Phật giáo đang tu tập, vung thanh kiếm của mình và đi từ phòng này sang phòng khác, gọi , "Ai muốn được đưa qua bờ bên kia? Ai muốn được giải thoát?"

Câu chuyện nói rằng trong một ngày ông ta đã chặt  đầu nhiều  người và giết  hàng chục, hàng trăm nhà sư. Tất cả điều này được cho là đã xảy ra mà không một ai báo cáo cho Đức Phật biết. Sau thời gian ẩn cư, Đức Phật  ra khỏi rừng, và khi Ngài đi qua tu viện với thị giả của Ngài là Ananda, Ngài nhìn quanh: "Ananda, chuyện gì  đã xảy ra?  Tại sao các nhà sư ở đây còn ít quá?  Tất cả họ đã đi đâu, Ananda? " Chỉ  đến lúc đó, Ananda mới kể cho  Đức Phật những gì đã xảy ra.

Sau đó, Đức Phật  triệu tập các nhà sư lại và nói: "Này các Tỳ khưu, tốt hơn là các ông hãy thay đổi đề mục thiền." Ngài  sau đó bắt đầu  hướng dẫn cho họ thiền tập trên hơi thở vào và hơi thở ra,  chánh niệm trên hơi thở. Đức Phật nói rằng phương pháp thiền này là tốt hơn nhiều và đã đưa ra một danh sách toàn bộ những lợi điểm của nó.

Cho dù câu chuyện này là một sự kiện lịch sử (có thực) hay không, tôi không biết. Tuy nhiên, bởi vì nó là một phần nằm trong Kinh điển,  nó cho thấy rằng ngay cả Đức Phật cũng có thể đã đánh giá sai về kết quả giảng dạy của mình. Điều như vậy chưa từng bao giờ xảy ra đối với tôi, nhưng tôi nghĩ rằng tôi sẽ rất đau khổ nếu tôi dạy một cái gì đó mà nó đưa lại kết quả như vậy. Vì vậy, từ câu chuyện này, có vẻ như ngay cả Đức Phật có thể làm  những gì, mà theo cách chúng ta thường nói,  gọi đó là  một sự sai lầm.

Vâng, bạn là người - vì vậy bạn phải  phạm những việc sai lầm! Có lẽ sai lầm đó là cách mà bạn nuôi dạy con cái của bạn ... có thể bạn không phải là người cha hoàn hảo, không phải người mẹ hoàn hảo. Vâng, bạn không hoàn hảo, bạn không  phải là toàn năng, không phải toàn tri.

Học  hỏi  Giáo Pháp, có nghĩa là tìm hiểu bản chất của cuộc sống, cuộc sống là như thế, nó luôn có hai mặt. Có khen, có chê, có thành công, có thất bại. Chúng ta không thể biết hết  mọi thứ, quan điểm của chúng ta có giới hạn,  chúng ta mắc sai lầm. Vâng, cuộc sống là như vậy. Sự hiểu biết về bản chất của sự vật giúp cho chúng ta bắt đầu đánh giá được quy luật vận hành của thiên nhiên  và giúp chúng ta có niềm tin nơi cuộc sống.  Chúng ta  không cảm thấy bị áp lực khi gặp gì sai trái, khi chúng ta rơi vào tình trạng nào đó, khi chúng ta chỉ trích hay bị bệnh.

Ngày nay nếu người ta nói với bạn  rằng bạn bị  ung thư thì không chỉ cái thân của bạn bị bệnh thôi đâu mà bạn còn bắt đầu cảm thấy chán nản và mang mặc cảm của một người có tội: "Ồ, ung thư, bệnh này  gây ra do bởi căng thẳng – chắc chắn  mặt tinh thần tôi đã có gì sai trái." Vậy thì đã sao? Bạn không hoàn hảo, bạn chưa giác ngộ.  Chúng ta phải có những sai lầm trong cuộc sống.

Sự hiểu biết  về bản chất của sự vật , sự đánh giá đúng bản chất  của thiên nhiên , sự hiểu biết của chúng ta về cái chết và những giới hạn của của chính mình,  có nghĩa là chúng ta  sẽ không để bị các tình huống đè bẹp hay làm cho chúng ta chán nản . Đây là cách cuộc sống vận hành. Ngay khi bạn nhận thức được rằng bạn không hoàn hảo, rằng bạn có thể phạm sai lầm, một gánh nặng đã được quẳng đi. Kết quả này có được là do từ việc  đánh giá đúng bản chất sự vật, từ việc học hỏi, nhìn  kỹ hơn bản chất của cuộc sống cũng như  con người  chúng ta,  bản chất của thân và tâm.

Đây là một ví dụ mà  trong Phật giáo chúng ta gọi là học hỏi Giáo Pháp, yếu tố đầu tiên trong ba yếu tố quan trọng có thể giúp vượt qua trầm cảm.

Yếu tố thứ hai là năng lượng, khơi dậy năng lượng, tương tự như khơi dậy sự thích thú. Chúng ta có  thể khơi dậy năng lượng trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta không thể ngồi chờ đợi cho năng lượng chảy vào trong chúng ta, cũng như chúng ta không thể chờ đợi một cái gì đó thích thú đến với chúng ta. Chúng ta có để có thể khơi dậy năng lượng của chúng ta. Hãy đứng dậy và làm một việc  gì đó. Bạn sẽ làm gì nếu bạn đang chán nản? Hãy đứng dậy, khơi dậy năng lượng để cố gắng làm một cái gì đó. Hãy làm một điều gì  tốt. Làm vườn, đi dạo, hít thở không khí trong lành và sưởi ấm dưới ánh sáng mặt trời, hãy đi ra ngoài nhìn ngắm các hàng cây  và lắng nghe chim hót. Chỉ  cần bạn khơi dậy một chút ít năng lượng, nó sẽ giúp bạn tạo thêm nhiều năng lượng  hơn nữa, và việc đó giúp cho bạn lên tinh thần và giúp bạn thoát khỏi sự trầm cảm. Bất cứ điều gì đó giúp tạo ra năng lượng đều tốt. Đừng chờ cho cuộc sống truyền năng lượng cho bạn, bạn phải truyền năng lượng vào cuộc sống,  tạo ra nội lực  từ bên trong con người của chính mình.

Tương tự như tôi nói   chúng ta có thể khơi dậy sự thích thú trong quá trình thiền tập, chúng ta có thể khơi dậy năng lượng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Nếu chúng ta chán nản, chúng ta có thể khơi dậy năng lượng. Làm điều gì đó cho người khác. Tới hội Phật Giáo và làm điều gì đó cho mọi người. Làm điều gì đó cho cộng đồng, bởi vì khi bạn tạo ra năng lượng để làm một cái gì đó cho người khác, làm một điều  gì tốt, trầm cảm  sẽ nhanh chóng giảm sự đè nặng lên bạn .

Yếu tố tiếp theo là sự hoan hỷ hay niềm vui. Khi chúng ta khơi dậy năng lượng, chúng tôi khơi dậy sự thích thú. Trong thiền tập, khi chúng ta khơi dậy sự quan tâm đến đối tượng, tâm chúng ta  sẽ  tràn đầy niềm vui do kết quả của sự định tâm. Cũng vậy, nếu chúng ta khơi dậy năng lượng và sự quan tâm trong cuộc sống của chúng ta, làm những gì tốt đẹp, làm những việc để phụng sự, trái tim của chúng ta sẽ có được niềm vui. Bạn cảm thấy hoan hỷ khi bạn làm những điều tốt đẹp. Khi bạn sống và phụng sự, bạn sẽ  cảm thấy tròn đầy.

Thật là ngạc nhiên, phải vậy không? Khi chúng ta sống hoàn toàn ích kỷ, chúng ta sẽ cảm thấy hoàn toàn trống rỗng và đau khổ, khi chúng ta  sống cuộc sống phụng sự cho người khác, nuôi dưỡng thiện pháp  trong các hình thức khác nhau,  đủ lạ để chúng ta cảm thấy thỏa mãn, chúng ta sẽ cảm thấy hoan hỷ, chúng ta cảm nhận được lòng tự trọng. Khơi dậy năng lượng để đứng dậy và làm điều gì đó tốt  nhằm tạo cho chúng ta sự hoan hỷ  bởi vì  việc đó làm cho tâm của chúng ta  phấn chấn. Nó không giống chúng ta thấy  hạnh phúc khi được vừa lòng. Hạnh phúc theo nghĩa thông thường của nó đôi khi làm cho bạn cảm thấy xuống tinh thần, đặc biệt là khi nó gắn liền với những  điều không khéo tác ý hoặc bất thiện. Bạn không cảm thấy hoan hỷ. Bạn có thể cảm thấy hứng thú và niềm vui, nhưng không phải là sự hoan hỷ. Hoan hỷ trong ý nghĩa này luôn gắn liền với điều  tốt, bởi vì nó làm cho tâm  thấy ánh sáng. Có lòng tự trọng và niềm vui trong tim.

Ba phẩm chất này có thể giúp bạn đối phó với hoặc vượt  lên trên trầm cảm. Học hỏi  để thực sự hiểu được bản chất của cuộc sống. Phần lớn trầm cảm phát sinh thực tế là do chúng ta đã không đánh giá được  hoặc không chấp nhận  bản chất tự nhiên của cái chết,  bản chất của cuộc sống của chúng ta. Chúng ta càng hiểu về những điều này, chúng ta càng ít bị trầm cảm. Đó là bản chất của sự vật. Nếu chúng ta có thể khơi dậy năng lượng để làm những gì tốt đẹp, nó mang lại cho ta sự hoan hỷ. Điều này có thể được thực hiện trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta và nó cũng có thể được thực hiện trong thiền tập. Nếu bạn làm điều đó trong thiền tập, tâm sẽ không còn bị trầm cảm.  Nếu bạn làm điều đó trong cuộc sống hàng ngày, bạn sẽ không còn bị ảnh hưởng bởi trầm cảm.
Theo: Going beyond Boredom and Depression
Chuyển ngữ sang tiếng Việt: Supañña Thiện Trí

Thái Lan: Wat Khunaram và nhục thân bất hoại của ngài Loung Pordaeng

Wat Khunaram (chùa Khunaram) tọa lạc tại phía Tây của Hua Thanon và Tây Nam bãi biển Lamai, ở đảo Koh Samui. Mặc dù Wat Khunaram không phải là một trong những ngôi chùa đẹp và hùng vĩ của Thái Lan, nhưng là nơi đáng để mọi người đến hành hương, chiêm bái vì ở đấy có thờ nhục thân bất hoại của một vị tăng sĩ, vị ấy chính là ngài Loung Pordaeng.




Nhục thân bất hoại của ngài Loung Pordaeng tại chùa Khunaram

Ngài Loung Pordaeng được sinh ra trong một gia đình quý tộc tại vùng Koh Samui vào năm 1894 với tên gọi là Dang Piyasilo. Giống như bao nhiêu người nam Phật tử khác ở Thái Lan, vừa bước qua tuổi 20, Dang Piyasilo đã xuất gia tu học trong vòng 2 năm, sau đó trở lại cuộc sống đời thường và kết hôn với một người con gái cùng quê. Dang Piyasilo đã có một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc và có được 6 người con. Sau này, khi các con khôn lớn, Dang Piyasilo đã xuất gia trở lại, năm ấy Dang Piyasilo được 50 tuổi, và phát nguyện cống hiến phần thời gian còn lại của cuộc đời mình cho Phật pháp. Lúc này ngài được đặt pháp danh là Phra Kru Samathakittikhun. Sau một thời gian ở Bangkok để học thiền và học giáo pháp, ngài Phra Kru Samathakittikhun đã trở lại Koh Samui và chuyên tâm thực hành thiền định trong hang động. Sau đó thì ngài trở về Wat Khunaram, đảm nhiệm chức vị trụ trì của ngôi chùa.

Ngài rất giỏi về thiền tập và giáo pháp, cho nên kể từ khi ngài trụ trì Wat Khunaram, rất nhiều người đã đến với ngài để cầu học, và ngài đã có rất nhiều đệ tử. Khi ngài bước sang tuổi 79, ngài biết ngài sắp phải từ giả cõi đời, cho nên ngài gọi các để tử đến và dặn rằng: Sau khi ngài qua đời, nếu như nhục thân của ngài bị phân hủy thì hãy đem đi hỏa thiêu. Còn nếu như nhục thân của ngài không bị phân hủy thì hãy để nhục thân của ngài trong một lồng kính và thờ tại Wat Khunaram để các thế hệ sau nhìn vào nhục thân của ngài mà tăng thêm lòng tin và chuyên tâm thực hành giáo pháp của Phật.



Chùa Khunaram tại đảo Ko Samui, Thái Lan

Trong tuần cuối cùng trước khi ngài Loung Pordaeng từ giả cõi đời, ngài ngưng tất cả mọi sự nói năng, ăn uống, chuyên tâm hành thiền và nhập vào trong thái chánh định cho đến khi ngừng thở. Và ngài đã ra đi trong tư thế thiền tọa. Vâng theo lời ngài chỉ dạy trước lúc qua đời, sau một thời gian tổ chức tang lễ, nhận thấy nhục thân của ngài không hề bị phân hủy, các để tử của ngài đã giữ nhục thân của ngài nguyên trạng trong tư thế thiền tọa và làm một cái lồng kính, đặt nhục thân của ngài vào đấy để phụng thờ. Như vậy là ngài Loung Pordaeng đã viên tịch ở tuổi 79, năm ấy là năm 1973. Gần 40 năm trôi qua, nhục thân của ngài vẫn bất hoại với thời gian, chỉ có đôi mắt của ngài do nhẫn cầu bị khô nên đã bị lọt sâu vào bên trong và chư tăng đã dùng kính râm đeo lên cho nhục thân của ngài để che đi đôi mắt bị lõm.


Nhục thân bất hoại của ngài Loung Pordaeng tại chùa Khunaram

Giờ đây, khi đến thăm Wat Khunaram, khách hành hương, Phật tử vẫn được chiêm bái nhục thân của ngài. Nhục thân của ngài vẫn ngự tại đấy trong tư thế thiền tọa như lúc ban đầu.

Thường thì sau khi chết, thân xác của con người nhanh chóng bị phân hủy ở trong môi trường nóng và ẩm thấp. Tuy nhiên, đâu đó vẫn tồn tại một vài nhục thân bất hoại sau khi chết, và điều này thường chỉ xảy ra đối với các bậc tu hành. Đối với một số người thì cho rằng đây là một phép mầu. Những người khác thì cho rằng, với lối sống ít tiêu thụ thực phẩm nên sự trao đổi chất diễn ra thấp dẫn đến giảm bớt nhu cầu về oxygen, cộng với các kỹ thuật thiền định của ngài Loung Pordaeng là lời giải thích cho việc nhục nhân của ngài có thể giữ nguyên tư thế thiền tọa và bất hoại với thời gian.

Đối với người dân Thái Lan nói riêng và người Phật tử nói chúng, mọi người rất kính trọng nhục thân của bậc chân tu, được chiêm bái nhục thân của các vị là một diễm phúc, là phước báu lớn. Và họ quan niệm rằng, chết là một cơ hội tốt để được tái sinh vào kiếp sau và có một đời sống tốt lành hơn.

Kể từ khi nhục thân của ngài Loung Pordaeng được tôn thờ tại Wat Khunaram thì khách hành hương và Phật tử trong và ngoài nước đến viếng chùa và chiêm bái nhục thân của ngài ngày càng đông. Đặc biệt là từ khi đảo Ko Samui được khai thác và phát triển mạnh về du lịch, thu hút đông đảo du khách phương Tây đến du lịch, thì Wat Khunaram càng trở thành một điểm đến hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách đến viếng thăm. Có người đến viếng chùa vì kính ngưỡng và muốn được chiêm bái nhục thân của ngài, có người thì đến thăm vì tính tò mò. Hình ảnh nhục thân bất hoại của ngài Wat Khunaram đem đến cho mọi người một cái nhìn sâu sắc về đạo Phật và văn hóa Thái Lan.

Theo:  Báo Giác Ngộ

An lạc vượt ngoài thế gian - Ajahn Chah

Thực hành Giáo Pháp là công trình vô cùng quan trọng. Nếu không có pháp hành tất cả hiểu biết của chúng ta chỉ là hiểu biết trên bề mặt, chỉ hiểu biết cái vỏ bề ngoài. Cũng giống như ta đã có một loại trái cây nhưng chưa bao giờ ăn đến. Mặc dầu trái cây sẵn có trong tay, nhưng ta không hưởng lợi ích của nó. Chỉ bằng cách thực sự có ăn, ta mới cảm nhận được mùi vị của trái.
Đức Phật không ca ngợi những ai chỉ tin tưởng suông nơi người khác. Ngài tán dương người hiểu biết bên trong chính mình.
Cũng như trái cây kia, nếu ta đã có nếm qua rồi thì không cần phải hỏi ai khác cũng đủ biết nó chua hay ngọt thế nào.  Vấn đề của ta đã chấm dứt ? Tại sao nó đã chấm dứt ? Bởi vì ta đã thấy đúng theo chân lý: Là Người đã chứng ngộ Giáo Pháp, cũng như người kinh nghiệm vị chua hay ngọt của trái cây. Tất cả mọi hoài nghi đều chấm dứt, ngay tại đây.

Mặc dầu khi đề cập đến Giáo Pháp ta có thể thuyết trình dài dòng, nhưng thông thường tất cả chỉ bao gồm bốn điều. Nó chỉ giản dị là : hiểu biết Đau Khổ, hiểu biết Nguyên  Nhân sanh Đau Khổ, hiểu biết sự Chấm Dứt Đau Khổ và hiểu biết Con Đường của pháp hành dẫn đến Chấm Dứt Đau Khổ. Tất cả chỉ có thế. Tất cả những gì mà ta chứng nghiệm trên con đường thực hành, đến đây chỉ keo gọn lại thành bốn điều ấy. Khi đã thấu triệt trọn vẹn bốn điều, vấn đề của chúng ta đã chấm dứt.

Bốn điều ấy, phát sanh từ đâu? Nó chỉ phát sanh từ bên trong thân và tâm này, không đâu khác. Vậy, tại sao giáo pháp do Đức Phật ban truyền lại mênh mông rộng rãi đến ấy? Đó là vì Ngài muốn giải thích một cách vi tế với nhiều chi tiết, nhằm giúp chúng ta lãnh hội đầy đủ bốn điều ấy.

Thái tử Siddhatha được sanh vào đời, và trước khi chứng ngộ Giáo pháp Ngài chỉ là một người thường như chúng ta. Đến khi thông hiểu những gì cần phải hiểu, tức chân lý về Đau Khổ (Khổ Đế), về Nguyên Nhân sanh Khổ (Tập Đế), về sự Cấm Dứt Đau Khổ (Diệt Đế) và về Con Đường Chấm Dứt Đau Khổ (Đạo Đế) thì Ngài chứng ngộ Giáo Pháp và trở thành Đức Phật Toàn Giác.

Khi đã chứng ngộ Giáo Pháp thì bất luận nơi nào mà ta ngồi ta luôn luôn thông hiểu Giáo Pháp, bất luận nơi nào mà ta ở ta luôn luôn nghe lời dạy của Đức Phật. Khi ta thông hiểu Giáo Pháp, Đức Phật luôn luôn ngự trị bên trong tâm ta, Giáo Pháp luôn luôn ở bên trong tâm ta, và pháp hành dẫn đến trí tuệ nằm bên trong tâm ta, được Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng ngự trong tâm có nghĩa là dầu hành động của chúng ta thiện hay bất thiện chúng ta vẫn tự mình hiểu biết rõ ràng bản chất thật sự của nó. Cũng do vậy mà Đức Phật đã gạt bỏ dư luận của thế gian. Ngài gạt bỏ ngoài tai những lời tán dương hay chỉ trích. Khi người đời tán dương hay chỉ trích, Ngài chỉ chấp nhận nó là vậy. Dầu chỉ trích hay tán dương cũng chỉ là thế gian pháp, không thể làm cho Ngài chao động. Tại sao? Bởi vì Ngài thấu triệt bản chất của Đau khổ. Ngài thấu hiểu rằng nếu tin theo những lời tán dương hay chỉ trích thì nó sẽ là nguyên nhân sanh đau khổ.
Khi đau khổ đến, nó làm cho ta chao động, cảm nghe không thoải mái. Nguyên nhân của đau khổ ấy là gì? Chúng ta không thấu hiểu chân lý, đó là nguyên nhân. Khi nguyên nhân hiện hữu thì đau khổ phát sanh. Một khi đau khổ đã phát sanh thì ta không biết phải làm thế nào để ngưng nó lại. Ta càng cố gắng chận đứng thì nó càng lấn lướt xông đến ta. Ta nói , “ chớ có chỉ trích tôi ”, hoặc “ Đừng chỉ trích tôi ”. Cố gắng chận đứng như vậy là đau khổ sẽ thật sự xông đến, không ngưng.

Do đó Đức Phật dạy rằng con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ là làm cho Giáo Pháp thật sự phát sanh trong tâm của chúng ta. Ta trở thành người tự mình chứng ngộ Giáo Pháp. Nếu có ai khen ta tốt, ta không để bị lạc lối trong đó. Người ta chê mình không tốt, mình không tự quên mình. Làm như vậy ta hoàn toàn tự do, không dính mắc. “ Tốt ” và “ Xấu ” chỉ là thế gian pháp - những sự vật trong thế gian trần tục. Nó chỉ là những trạng thái tâm. Nếu ta chạy theo nó thì tâm ta trở thành thế gian. Ta chỉ mù mờ mò dẫm trong đêm tối mà không biết lối thoát. Làm như thế ắt chúng ta không tự chủ, không làm chủ lấy mình. Ta cố gắng chiến thắng kẻ khác, nhưng hành động như vậy ta chỉ vì cái ta. Trái lại, nếu tự mình làm chủ lấy mình ta sẽ chủ động trong tất cả, sẽ làm chủ tất cả -- tất cả những tâm sở, tất cả sắc, thinh , hương, vị và xúc.

Đến đây Sư chỉ đề cập đến bên ngoài, nó là vậy. Nhưng bề ngoài cũng ảnh hưởng đến bên trong. Vài người chỉ biết bề ngoài, họ không biết bên trong. Như khi nói, “ Nhìn thân trong thân”. Nhìn thấy phía bên ngoài thì không đủ, ta phải hiểu biết thân bên trong cái thân. Và khi quán chiếu tâm, ta phải hiểu biết tâm bên trong cái tâm.

Tại sao phải quán chiếu thân ? “ Thân bên trong thân là gì ?” . Khi nói, phải hiểu biết tâm, cái “ tâm ” ấy là gì? Nếu không hiểu biết tâm ắt không hiểu biết những gì bên trong tâm. Đó là làm người không hiểu biết Đau Khổ, không hiểu biết Nguyên Nhân sanh Đau Khổ, không hiểu biết sự Chấm Dứt và Con Đường dẫn đến Chấm Dứt Đau Khổ. Những gì có khả năng giúp ta dập tắt đau khổ sẽ không thể giúp, bởi vì ta bị xao lãng, lạc lối trong những gì chỉ tăng trưởng, làm cho đau khổ càng thêm trầm trọng. Cũng như người bị ngứa trên đầu mà gãi dưới chân! Nếu ta bị ngứa trên đầu mà chỉ gãi dưới chân thì tác động gãi của ta rõ ràng không thể làm cho đầu bớt ngứa. Cùng thế ấy, khi đau khổ phát sanh chúng ta không biết phải đối phó thế nào, không biết pháp hành dẫn đến chấm dứt đau khổ.

Thí dụ như thân này, cái thân này mà mỗi người chúng ta mang theo đến buổi họp mặt hôm nay. Nếu chúng ta chỉ thấy hình thể bên ngoài của thân thì không có cách nào lẫn thoát ra khỏi đau khổ. Tại sao ? Bởi vì chúng ta vẫn chưa thấy được bên trong của thân, ta chỉ thấy bề ngoài. Ta chỉ thấy nó là cái gì xinh đẹp, cái gì có thực chất. Đức Phật dạy rằng  bấy nhiêu đó không đủ. Bằng mắt, chúng ta thấy bề ngoài của cái thân; một em bé cũng có thể thấy như vậy, một con thú cũng có thể thấy như vậy, không có gì khó. Thấy bề ngoài của thân thì quá thật là dễ, nhưng khi đã thấy rồi ta bị dính mắc, kẹt luôn trong đó. Ta không thông hiểu chân lý của nó, không hiểu thật sự nó là thế nào. Thấy nó rồi ta liền chụp lấy và nắm chặt, rồi bị nó cắn!

Như vậy, ta phải quán chiếu thân bên trong thân. Bất luận gì ở bên trong thân, ta hãy nhìn vào. Nếu chỉ nhìn bề ngoài ta không thấy rõ. Ta thấy tóc, móng chân móng tay v.v… và cho đó là những gì đẹp đẽ, có sức quyến rũ chúng ta. Do đó Đức Phật dạy nên nhìn sâu vào bên trong của thân, nhìn thân trong thân. Bên trong thân có những gì? Hãy nhìn tận tường, nhìn thật kỹ vào bên trong! Có nhiều cái sẽ làm cho ta ngạc nhiên bởi vì mặc dầu nó ở ngay bên trong ta, chúng ta không bao giờ thấy.  Mỗi khi đi đâu là ta mang nó theo, ngồi trên xe ta cũng mang theo, vậy mà ta vẫn không biết nó chút nào!

Cũng như ta đến nhà viếng một người bà con và họ cho ta một món quà. Ta nhận lấy quà, cất giữ trong bao, rồi ra về mà không dở ra xem trong đó có gì. Khi cuối cùng về đến nhà, dở ra thì … đầy là rắn độc! Thân của ta cũng dường thế ấy. Nếu chỉ nhìn cái vỏ bề ngoài ta nói rằng nó xinh tươi đẹp đẽ. Chúng ta tự quên mình. Chúng ta quên lý Vô Thường, Khổ và Vô Ngã. Nếu thận trọng nhìn vào bên trong thân này thì quả thật là đáng nhờm chán. Nếu chúng ta nhìn thấy đúng thực tại, không có dậm muối hay thêm đường, không tô điểm cho nó, thì ta sẽ thấy rằng thật sự nó đáng thương hại và đáng chán. Ta sẽ không còn luyến ái, bám níu vào thân này. Cảm giác “không trìu mến” ấy không có nghĩa là ta cảm nghe hờn giận thế gian hoặc phiền trách bất cứ ai hay bất luận gì. Chỉ giản dị là cái tâm của ta sáng tỏ và biết buông bỏ. Chúng ta nhận thấy rằng sự vật không có chi là thực chất, không có chi mà ta có thể ỷ lại vào. Nhưng tất cả mọi sự vật đã là vậy, bản chất của thiên nhiên chỉ là vậy. Dầu ta có muốn nó như thế nào, nó chỉ đi theo con đường của nó. Dầu ta cười, dầu ta khóc, nó vẫn giản dị như thế đúng như nó là vậy. Sự vật nào không bền vững và ổn định, thì nó không vững bền ổn định. Sự vật nào không đẹp đẽ xinh tươi, thì nó không xinh tươi đẹp đẽ.

Do đó Đức Phật dạy rằng khi chứng nghiệm sắc, thinh, hương, vị, xúc hay pháp, ta hãy buông thả nó ra. Khi tai nghe âm thanh, hãy để cho nó qua. Khi mũi hưởi mùi, hãy để cho nó qua … chỉ bỏ nó ở lại mũi! khi cảm giác xúc chạm của thân phát sanh, hãy buông bỏ cảm xúc ưa thích hay ghét bỏ theo liền đó, hãy để cho nó trở về nguyên quán. Tư tưởng phát sanh cũng vậy. Tất cả những hiện tượng ấy, hãy để cho nó đi theo con đường của nó. Đó là hiểu biết. Dầu hạnh phúc hay đau khổ, tất cả đều như nhau. Đó là hành thiền.

Hành thiền có nghĩa là làm cho tâm an lạc nhằm tạo duyên cho trí tuệ phát sanh. Công trình này đòi hỏi phải thực hành với thân và tâm, hầu trông thấy và hiểu biết những cảm xúc phát sanh do: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Thâu gọn lại, nó chỉ là vấn đề hạnh phúc và đau khổ. Hạnh phúc là hoan hỉ thỏa thích trong tâm. Đau khổ là cảm giác khó chịu, không thoải mái. Đức Phật dạy nên tách rời hạnh phúc và đau khổ ấy ra khỏi tâm. Tâm là cái gì hiểu biết. Thọ (Vedana ) là đặc tính của hạnh phúc và đau khổ, thương và ghét ( Danh từ “thọ” ở đây được phiên dịch từ Phạn ngữ “ vedana ” và nên được hiểu trong ý nghĩa mà Ngài Ajahn Chah mô tả nơi đây: như những tâm sở ưa thích, ghét bỏ, vui buồn, v.v… ) khi tâm dễ duôi, tự buông trôi theo những cảm xúc ấy ta nói rằng nó bám níu vào, hoặc chấp rằng hạnh phúc  và đau khổ đáng được nắm giữ. Bám níu, hay “ thủ ” ấy, là một sinh hoạt của tâm, còn hạnh phúc và đau khổ là thọ.

Khi nói rằng Ðức Phật dạy tách rời tâm ra khỏi thọ, không có nghĩa là vứt bỏ nó ở một nơi nào. Ngài muốn dạy rằng tâm phải hiểu biết hạnh phúc và hiểu biết đau khổ. Thí dụ như khi tọa thiền, trong trạng thái định, tâm thấm nhuần an lạc thì hạnh phúc đến, nhưng không vào tâm, đau khổ đến, nhưng không vào tâm. Ðó là tách rời thọ và tâm. Ta có thể ví như nước và dầu trong một cái lọ. Nó không hòa tan. Dầu có muốn trộn lộn hai thứ, dầu vẫn ra dầu và nước vẫn ra nước. Tại sao vậy? Vì trọng lượng khác nhau.

Trạng thái thiên nhiên của tâm là không hạnh phúc, không đau khổ. Khi thọ nhập vào thì hạnh phúc hay đau khổ phát sanh. Nếu có niệm ta nhận biết thọ lạc là thọ lạc. Cái tâm hiểu biết không “bóc” nó lên. Hạnh phúc có đó, nhưng nó “ở ngoài”, không đắm chìm trong tâm. Tâm chỉ hiểu biết rõ ràng.

Tách rời đau khổ ra khỏi tâm. Phải chăng điều này có nghĩa là không còn đau khổ, rằng ta không còn chứng nghiệm đau khổ nữa?  Không phải vậy, ta vẫn còn chứng nghiệm đau khổ, nhưng lúc bấy giờ ta hiểu biết tâm là tâm, thọ là thọ. Ta không bám chặt vào thọ cảm đau khổ ấy và mang nó đi theo mình. Ðức Phật tách rời những trạng thái ấy bằng tuệ giác. Ngài có đau khổ không? Ngài biết trạng thái đau khổ nhưng không bám níu vào đó. Do vậy ta nói rằng Ngài cắt đứt đau khổ. Và khi có hạnh phúc, Ngài hiểu biết đó chỉ là hạnh phúc. Nếu không hiểu biết như vậy thì nó là thuốc độc. Ngài không nắm giữ nó lại và cho rằng nó là mình. Do trí tuệ, hiểu biết rằng có hạnh phúc hiện hữu, nhưng hạnh phúc không nằm trong tâm. Vậy ta nói rằng Ngài tách rời hạnh phúc và đau khổ ra khỏi tâm.

Nói rằng Ðức Phật và chư vị A La Hán diệt trừ ô nhiễm không có nghĩa là các Ngài thật sự giết chết ô nhiễm ( danh từ “ô nhiễm” ở đây được phiên dịch từ Phạn ngữ kilesa, là những thói hư tật xấu phát sanh từ si mê, hay những bợn nhơ tinh thần luôn luôn ngủ ngầm bên trong tất cả những chúng sanh trong tam giới). Nếu các Ngài đã giết chết tất cả những ô nhiễm thì có lẽ chúng ta không còn ô nhiễm nào! Các Ngài không giết chết. Khi hiểu biết thực tướng của nó, đúng như nó là vậy, các Ngài buông bỏ, để cho nó đi qua. Người điên rồ sẽ nắm giữ nó lại, nhưng các bậc Giác Ngộ đã thấu hiểu rằng ô nhiễm trong tâm là thuốc độc nên liền quét sạch nó đi. Các Ngài quét sạch những gì là nguyên nhân tạo đau khổ chớ không giết chết. Người không thấu hiểu như vậy sẽ thấy những gì như hạnh phúc là tốt đẹp và nắm chặt, giữ nó lại, nhưng Ðức Phật chỉ hiểu biết nó và giản dị tẩy sạch nó đi.

Nhưng đối với chúng ta, khi thọ phát sanh thì ta lợi dưỡng trong đó, có nghĩa là tâm của ta mang hạnh phúc và đau khổ theo cùng với nó. Trong thực tế tâm và hạnh phúc hay đau khổ là hai sự việc khác nhau. Những sinh hoạt của tâm, thọ lạc, thọ khổ v. v… là những cảm xúc. Nó là thế gian pháp. Nếu tâm hiểu biết như vậy thì dầu hạnh phúc hay đau khổ tâm vẫn xem như nhau và phản ứng cùng một cách. Tại sao ? Bởi vì tâm hiểu biết chân lý của sự vật. Người không thông hiểu sẽ thấy hạnh phúc và đau khổ có hai giá  trị khác biệt, những người đã thấu hiểu sẽ thấy nó như nhau. Nếu quí vị bám chặt vào hạnh phúc thì nó sẽ là nơi phát sanh đau khổ về sau, bởi vì nó không ổn định vững bền mà luôn luôn biến đổi. Khi hạnh phúc tan biến ắt đau khổ khởi sanh.

Đức Phật thấu triệt rằng cả hai, hạnh phúc và đau khổ, đều là bất toại nguyện, tức đau khổ, nên cả hai đều có giá trị bằng nhau. Khi hạnh phúc phát sanh Ngài để nó trôi qua. Ngài có Pháp Hành Chân Chánh và thấy rằng cả hai đều có giá trị và sức trở ngại bằng nhau. Cả hai đều nằm dười sự chi phối của Định Luật Thiên Nhiên, tức bất ổn định và bất toại nguyện. Sanh rồi diệt. Khi thấy rõ như vậy Chánh Kiến phát sanh và pháp hành chân chánh trở nên sáng tỏ. Bất luận cảm thọ hoặc tư tưởng nào phát sanh Ngài biết rõ rằng đó chỉ giản dị là trò đùa luôn luôn tiếp diễn của hạnh phúc và đau khổ. Ngài không bám níu vào.

Vậy, nếu quý vị không nhận thức rõ ràng để kịp thời buông bỏ, không bám níu vào, thì chính trong hạnh phúc đã có mầm mống đau khổ rồi. Nó cũng giống hệt như khi ta nắm đuôi con rắn – nếu không buông bỏ ắt sẽ bị rắn  quay đầu lại cắn. Như vậy, dầu là đầu hay đuôi con rắn, tức thiện hay bất thiện nghiệp, tất cả đều có đặc tính cột chắc ta vào những kiếp sống triền miên vô cùng tận của vòng luân hồi.

Khi Đức Phật mới Thành Đạo Ngài thuyết giảng một thời Pháp về Lợi Dưỡng trong Dục Lạc và Lợi Dưỡng trong Đau Khổ. “ Này chư Tỳ Khưu! Lợi Dưỡng trong Dục Lạc là con đường dễ duôi buông lung, Lợi Dưỡng trong Đau Khổ là con đường căng thẳng”. Đó là hai con đường làm trở ngại pháp hành của Ngài cho đến ngày chứng ngộ đạo quả, bởi vì trước đó Ngài không buông bỏ cho nó trôi qua. Khi đã thấu hiểu, Ngài để cho nó trôi qua và do đó mới có thể ban truyền Bài Pháp Đầu Tiên.

Như vậy chúng ta cần nói rằng người hành thiền không nên đi trên con đường của hạnh phúc và đau khổ, mà phải thấu hiểu bản chất của nó. Thấu hiểu chân lý của Đau Khổ, hành giả sẽ thấu hiểu Nguyên Nhân sanh ra Đau Khổ, sự Chấm Dứt Đau Khổ và Con Đường dẫn đến Chấm Dứt Đau Khổ. Và con đường dẫn thoát ra khỏi Đau Khổ chính là pháp hành thiền. Nói một cách đơn giản, ta phải luôn luôn chú niệm.

Chú niệm là hay biết, hay có tâm hiện hữu. Ngay trong giờ phút này, chúng ta đang nghĩ gì, chúng ta đang làm gì? Điều gì xảy đến ta trong hiện tại? Chúng ta quán chiếu như vậy, luôn luôn hay biết ta đang sống như thế nào. Trong khi thực hành như vậy trí tuệ có thể phát sanh. Lúc nào chúng ta cũng đang suy niệm và quán chiếu, trong mọi oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi. Khi một cảm giác phát sanh mà ta ưa thích, hãy biết đúng như vậy, nhưng chúng ta không giữ nó lại như một cái gì có thực chất: đó chỉ là hạnh phúc. Khi đau khổ phát sanh chúng ta hiểu biết ngay rằng đó là Lợi Dưỡng trong Đau Khổ, không phải là Con Đường của người hành thiền.

Đó là điều gọi là tách rời tâm ra khỏi thọ. Nếu là sáng suốt , ta không bám níu vào mà để cho sự vật tự nhiên trôi chảy. Chúng ta trở thành “người hiểu biết”. Tâm và thọ cũng chỉ như nước và dầu; cùng ở chung trong một cái lọ, nhưng không hòa tan. Chỉ đến khi lâm bệnh hay đau nhức ta vẫn hiểu biết thọ là thọ, tâm là tâm. Chúng ta hiểu biết những trạng thái đau đớn hay thoải mái dễ chịu nhưng không tự mình đồng hóa với chúng. Chúng ta chỉ ở với thanh bình an lạc, sự an lạc thanh bình vượt lên trên cả hai, thoải mái hoặc đau đớn.

Quí vị phải thấu hiểu như vậy, bởi vì đã không có một tự ngã trường tồn, ắt không có chỗ nương tựa. Quí vị phải sống như vậy, tức sống không có hạnh phúc và không có đau khổ. Quí vị chỉ sống với sự hiểu biết, không bận bịu mang kè kè sự vật theo mình.

Ngày nào mà chúng ta chưa giác ngộ thì tất cả những điều trên đây nghe hình như quái lạ, nhưng không hề gì, chúng ta chỉ nhắm hướng đi. Tâm là tâm. Tâm sẽ hội kiến với hạnh phúc và đau khổ, chúng ta chỉ nhận thấy suông như vậy, ngoài ra không có gì khác. Tách rời riêng biệt không trộn lộn. Nếu tâm và hạnh phúc - đau khổ pha lẫn nhau ắt chúng ta không hiểu biết chúng. Cũng giống như ta đang ở trong một ngôi nhà; cái nhà và người ở trong nhà liên quan với nhau, nhưng riêng biệt, không phải là một. Nếu nhà hư hỏng thì ta có bổn phận phải bảo vệ nhà cửa. Nhưng nếu nhà bị hỏa hoạn ta phải nhanh chân thoát ra khỏi đó. Nếu cảm giác đau khổ phát sanh, ta phải thoát ra khỏi đó, cũng như ta chạy thoát ra khỏi căn nhà đang cháy. Nó là hai sự việc riêng biệt; nhà là một việc, người ở trong  nhà là việc khác.

Chúng ta nói rằng ta tách rời tâm và thọ ra khỏi nhau, nhưng trong thực tế bản chất của chúng, là đã rời nhau. Công việc làm của chúng ta chỉ giản dị là nhận thức trạng thái thiên nhiên tách rời khỏi nhau, đúng như thực tại vậy. Nói tâm và thọ không riêng biệt, không tách rời nhau là bởi vì do vô minh, chúng ta bám níu vào nó và vì vậy, ta không thông hiểu Chân Lý.

Do vậy Đức Phật dạy ta hãy hành thiền. Pháp hành thiền vô cùng quan trọng. Chỉ hiểu biết suông với trí thức không đủ. Kiến thức phát sanh do pháp hành với tâm an lạc. Và kiến thức đến với ta bằng cách học hỏi, nghiên cứu thật sự xa nhau một trời một vực. Sự hiểu biết thâu thập bằng cách học hỏi không phải là hiểu biết thật sự của tâm. Cái tâm chỉ cố gắng bám chặt và giữ lại điều học hỏi hiểu biết ấy. Tại sao ta cố gắng giữ lại? Chỉ để nó mất đi! Và khi nó mất chúng ta than khóc!

Nếu thật sự hiểu biết ắt sẽ không có sự cố gắng giữ lại mà cứ để nó tự nhiên trôi qua, để cho sự vật tự nhiên, đúng như sự vật là vậy. Chúng ta thấu hiểu sự vật là thế nào và không tự quên mình. Nếu không may lâm bệnh chúng ta không để lạc lối trong đó. Vài người nghĩ rằng “ Năm nay tôi bệnh suốt năm, không hành thiền được chút nào”. Đó là lời nói của người thật sự cuồng si. Người đang bệnh hoặc sắp lâm chung, càng phải chuyên cần tinh tấn hành thiền. Có thể ta nói rằng người ấy không có thì giờ để hành thiền. Người ấy bệnh, người ấy đang bị đau nhức, người ấy không còn tin tưởng nơi cơ thể mình và do đó cảm nghe rằng mình không thể hành thiền. Suy tư như vậy, sự việc ắt trở nên khó khăn. Đức Phật không dạy như vậy. Ngài dạy rằng ngay tại đây chính là nơi hành thiền. Khi lâm trọng bệnh hoặc lâm chung đó là lúc ta có thể thật sự hiểu biết và nhận thức thực tại.

Vài người khác nói rằng họ không may mắn được hành thiền vì luôn luôn có việc làm bận rộn. Có vài giáo viên đến đây viếng Sư và nói rằng vì đa đoan với nhiệm vụ họ không có thì giờ để hành thiền. Sư hỏi họ, “ Trong khi dạy học Ông có thì giờ để thở không?”. Họ trả lời, “Bạch Sư, có”. Nếu công việc bề bộn và đa đoan, làm thế nào Ông có thì giờ để thở? Nơi đây Ông đã rời xa Giáo Pháp.

Thật ra, pháp hành chỉ liên quan đến tâm. Nó không phải là điều mà quí vị phải chạy theo, hoặc phải tranh đấu để được. Trong khi làm việc ta vẫn thở. Chính thiên nhiên đã chăm lo để cho tiến trình thở vào thở ra được tự nhiên – tất cả những gì ta phải làm chỉ là hay biết. Quý vị chỉ chuyên cần cố gắng, nhìn trở lại vào trong và thấy rõ ràng. Hành thiền là vậy.

Nếu chúng ta giữ tâm hiện hữu như vậy thì bất luận trong công việc nào ta làm nó sẽ là dụng cụ hữu hiệu giúp ta luôn luôn hiểu biết điều nào là phải và điều nào sai. Có rất nhiều thì giờ để hành thiền, chỉ vì ta không thông hiểu pháp hành đầy đủ, chỉ có thế. Trong khi ngủ ta thở, ăn ta thở, có phải vậy không? Tại sao ta không có thì giờ để hành thiền? Bất cứ ở đâu ta cũng thở. Nếu nghĩ như vậy thì kiếp sống của chúng ta có giá trị nhiều như hơi thở, bất luận ở đâu ta cũng có thì giờ .

Tất cả các loại tư tưởng đều là những điều kiện tinh thần, không thuộc về cơ thể, như vậy ta chỉ cần giữ tâm hiện hữu và chừng ấy lúc nào chúng ta cũng hiểu biết điều nào là phải, điều nào sai. Đi, đứng, nằm, ngồi, có rất nhiều thì giờ. Chỉ vì ta không biết sử dụng một cách thích nghi. Xin quý vị hãy suy xét lại.

Chúng ta không thể bỏ chạy, lẫn trốn những cảm giác, phải hiểu biết nó. Cảm giác, hay thọ chỉ là cảm giác, hạnh phúc chỉ là hạnh phúc, đau khổ chỉ là đau khổ. Nó chỉ giản dị là vậy. Tại sao ta phải bám níu vào nó? Nếu tâm sáng suốt thì chỉ nghe bấy nhiêu cũng đã đủ để tách rời thọ ra khỏi tâm.

Nếu chúng ta thường xuyên quán chiếu như vậy tâm sẽ nhẹ nhàng, nhưng đó không phải là tẩu thoát qua đường lối của vô minh. Tâm buông bỏ, nhưng nó hiểu biết. Không phải buông bỏ vì si mê, hay buông bỏ vì không muốn sự vật giống như trong hiện tại. Tâm buông bỏ, không bám níu vào thọ, vì ta hiểu biết đúng theo Chân Lý. Đó là nhận thức Thiên Nhiên. Thấy đúng thực tại ở quanh mình.

Khi hiểu biết được như vậy ta đã là người thuần thục, đối với tâm và đối với thọ. Khi đã thuần thục làm chủ mình trước những thọ cảm ta cũng thuần thục đối với thế gian. Đó là “Người Hiểu Biết Thế Gian”. Đức Phật là bậc hiểu biết rõ ràng thế gian và những vấn đề khó khăn ở thế gian. Ngài hiểu biết rằng những gì khuấy động và những gì không khuấy động đều ở ngay tại đây! Thế gian này quả thật phức tạp, làm sao Đức Phật có thể thấu hiểu được? Nơi đây ta phải nhận thức rằng Giáo Pháp do Đức Phật ban truyền không vượt ra ngoài khả năng của chúng ta. Trong tất cả oai nghi -- đi, đứng, nằm, ngồi -- chúng ta phải giữ tâm niệm hiện hữu và tự hay biết mình, và khi tọa thiền cũng vậy, luôn luôn chú niệm và tự hay biết mình.

Ta ngồi thiền để cũng cố trạng thái tâm an lạc và trau dồi tâm lực. Không phải ngồi đó để làm chuyện gì khác. Thiền Minh Sát chỉ là tọa thiền, an trụ tâm trong trạng thái định. Ở vài nơi người ta bảo, “ Bây giờ ta hãy ngồi thiền định (Samadhi), rồi sau đó hãy thiền Tuệ ”. Không nên phân chia như vậy! Trạng thái vắng lặng là nền tảng để trí tuệ phát sanh; trí tuệ sẽ được khai triển trên nền tảng vắng lặng. Nói rằng giờ đây ta hãy hành thiền Vắng Lặng, sau đó sẽ hành Minh Sát – ta không thể làm như vậy! Ta chỉ có thể phân chia như vậy qua lời nói. Cũng như lưỡi dao, bề mặt ở một bên, bề trái ở bên kia. Quý vị không thể phân chia. Nếu lấy bề mặt lên thì cũng lấy luôn cả hai bề. Vắng lặng làm nền tảng cho trí tuệ phát sanh cũng cùng thế ấy.

Giới đức là cha mẹ của Giáo Pháp. Từ lúc sơ khởi chúng ta phải nghiêm chỉnh trì giới. Giới là an lạc. Trì giới có nghĩa là giữ thân và khẩu trong sạch, không nói và không hành động sai lầm. Không làm gì sai bậy thì không bị khuấy động; không bị chao động, tâm sẽ được an lạc thanh bình và dễ dàng an trụ. Do đó ta nói rằng Giới, Định và Tuệ là Con Đường mà tất cả chư Hiền Thánh đều đã trải qua để thành tựu Đạo Quả. Tất cả ba pháp là một. Giới là Định, Định là Giới. Định là Tuệ, Tuệ là Định. Cũng giống như một trái xoài. Khi còn là bông thì ta gọi là bông xoài. Lúc trổ thành trái ta gọi là trái xoài và đến lúc chín thì ta gọi là trái xoài chín. Tất cả chỉ là một trái xoài luôn luôn thay đổi trạng thái. Trái xoài già lớn lên từ xoài non. Xoài non trở thành trái xoài già. Ta có thể gọi bằng những danh từ khác nhau nhưng tựu trung chỉ là một trái xoài. Giới, Định, Tuệ cũng liên hệ với nhau cùng một thế ấy. Sau cùng tất cả ba pháp đều nhập chung lại thành Con Đường dẫn đến giác ngộ.

Trái xoài, từ lúc sơ khởi là bông xoài, chỉ giản dị trưởng thành để trở thành xoài chín. Bấy nhiêu đã đủ, ta phải thấy như vậy. Dầu ai khác có gọi nó như thế nào, điều đó không thành vấn đề. Một khi được sanh ra nó lớn dần đến già, và rồi đến đâu? Ta phải suy niệm như vậy.

Vài người không muốn già. Khi thấy tuổi già đến thì họ buồn phiền, luyến tiếc thời son trẻ. Những người ấy không nên ăn xoài chín! Tại sao họ muốn xoài non trở thành chín? Dầu xoài không chín đúng lúc họ cũng giú ép, có phải vậy không? Nhưng khi chính ta trở thành già, ta lại tiếc. Vài người than khóc, sợ già hay sợ chết. Nếu như vậy thì họ chớ nên ăn xoài chín mà chỉ ăn bông xoài! Nếu thấy được như vậy ắt ta có thể trông thấy Giáo Pháp. Mọi việc đều sáng tỏ, chúng ta an lạc. Hãy quyết tâm thực hành như vậy.

Hôm nay có Ông Cố vấn Trưởng cùng nhiều quan khách đến nghe Pháp. Quý vị hãy nhận lãnh những gì Sư giảng để về nhà suy gẫm. Nếu có gì sai lầm xin quý vị thông cảm cho Sư. Tuy nhiên có hiểu được là đúng hay sai cũng tùy theo pháp hành và quan điểm của quý vị. Bất cứ gì là sai, hãy vứt bỏ. Điều nào đúng, hãy giữ lấy để sử dụng. Nhưng, trong thực tế. chúng ta thực hành để buông bỏ cả hai, đúng và sai. Rốt ráo sau cùng chúng ta chỉ vứt bỏ tất cả. Điều đúng, hãy vứt bỏ; sai, vứt bỏ. Thông thường, nếu là đúng thì ta bám níu vào tính cách đúng của nó, còn sai thì ta giữ lại cái sai, rồi sau đó tranh luận, bàn thảo v.v… Nhưng Giáo Pháp là nơi chốn không có gì – Chẳng có gì cả!
Theo: Hương vị giải thoát
Chuyển ngữ sang tiếng Việt: Phạm Kim Khánh