Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Cá chép nguy hiểm hơn cả cá mập?

Loài cá nào nguy hiểm nhất? Chắc bạn nghĩ ngay danh hiệu ấy sẽ thuộc về cá mập, cá chình điện? Không, nó chỉ là con cá chép thông thường.
Cách ăn sẽ khiến cá chép trở nên nguy hiểm. Ảnh: Wikipedia.
Cá là món ăn ngon và tốt về nhiều mặt theo quan điểm dinh dưỡng. Nhưng do có những xương nhỏ, cá có thể gây ra những tai nạn, thường không trầm trọng lắm, chỉ là hóc xương. Loài cá nào gây nhiều vụ hóc xương nhất. Các bác sĩ Israen, bệnh viện Shiba đã theo dõi suốt một năm và đưa các số liệu thống kê gây tò mò (và có lẽ cũng có ích) như sau:
Số “tai nạn” hóc xương cá chép phải đến cấp cứu tại bệnh viện Shiba trong năm qua là 108 vụ, trong đó xảy ra nhiều nhất là vào bữa sáng ngày thứ bảy. 94 vụ bị hóc xương tại nhà, chỉ 9 vụ là trong khách sạn. 48% bệnh nhân đến gặp thầy thuốc là nam giới, có tuổi trung bình là 46.
Chiếc xương cá mắc ngang họng không phải do chúng quá ngang ngạnh, quá dài hay quá nhọn mà chính do “thực khách” làm cho nó bỗng nhiên quay ngang: khi ăn họ nói chuyện lớn tiếng, cười đùa hoặc vừa ăn vừa uống làm xương xoay ngang xoay ngửa khi chưa kịp nuốt nên xương bèn đâm vào thành họng để “cảnh cáo”.
Loài cá nguy hiểm thứ hai là cá vền biển (Abramis brama) và cá tráp (Dorado) gây ra 15 vụ hóc xương. Đứng vị trí thứ ba là cá rô phi (Tilapia) – 8 vụ, sau đó đến cá vược (Perca schrenki) – 4 vụ…
Ít ai ngờ cá chép lại đứng đầu bảng “cá nguy hiểm”. Trước đây, nhóm nghiên cứu Trường Đại học Illinois (Mỹ) dó nữ giáo sư Susane Brewer đứng đầu đã công bố những loài cá có tác dụng giảm cân và giàu dinh dưỡng mà các cháu bé và trẻ em vị thành niên nên ăn thì cá chép cũng đứng đầu bảng cùng với cá hồi (salmon) và cá hồi lưng gù (humpack).
Hoá ra, sự nguy hiểm của cá không phải do chúng mà do cách ăn cá.

Theo Vietnamnet

10 vùng đất bí ẩn trên thế giới

Khoa học không ngừng phát triển, và đạt được nhiều thành tựu lớn, nhưng còn rất nhiều điều về quá khứ, cho tới nay vẫn còn là một bí ẩn lớn với nhân loại, các nhà khoa học vẫn đang đi tìm lời giải đáp. Dưới đây là 10 nền văn minh cổ đại bí ẩn nhất thế giới.

Kim tự tháp Giza và tượng nhân sư khổng lồ Sphinx (Ai Cập)

Cùng với sự xuất hiện nền văn minh Ai Cập cổ là sự tập trung dày đặc các công trình xây dựng vĩ đại. Kim tự tháp Giza và tượng nhân sư khổng lồ Sphinx là quà tặng vô giá - một trong bảy kì quan thế giới mà Ai Cập cổ đại để lại cho nhân loại. Mặc dù theo thời gian, chúng bị phá hủy phần nào, các đền thờ xung quanh cũng bị đổ nát nhưng kích thước của công trình hùng vĩ này vẫn khiến nhiều du khách phải sửng sốt. Được đánh dấu như một trong những thành tựu đáng ngạc nhiên nhất trong lịch sử loài người, cho đến bây giờ, cách thức các thợ xây cổ đại áp dụng vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi.

Vòng đá cổ Stonehenge (Great Britain)

Những dấu tích cổ đại xa xưa nhất của con người tại đây, là những công trình tượng đài trên các ngọn đồi vùng Wiltshire nước Anh. Nó bao gồm các tảng đá lớn, được xếp thành một hình tròn, được bố trí theo một ý nghĩa thiên văn của thời cổ đại, mà cho tới nay vẫn là một bí ẩn lớn của thế giới, vẫn đang được khám phá. Vòng đá cổ Stonehenge được xây dựng khoảng 2500 trước Công Nguyên.

Đảo Phục Sinh (Chile)

Đảo Phục Sinh nằm ở Đông Nam Thái Bình Dương thuộc Chile, vốn nổi tiếng với những bức tượng hình người bằng đá khổng lồ mang tên là Moai có tuổi thọ khoảng 6000 năm. Nhà thám hiểm Hà Lan Jacob Roggeveen, được tin là người đầu tiên khám phá ra hòn đảo này, vào ngày Chủ nhật Phục Sinh năm 1722, vì thế nó có tên gọi là đảo Phục Sinh. Các pho tượng nằm rải rác, khắp nơi trên hòn đảo là một phần của việc thờ cúng tổ tiên. Lí do vì sao dân cư cổ xưa có thể dựng những bức tượng này, cho tới nay vẫn là một điều bí ẩn.

Khối cự thạch cổ Baalbeck (Lebanon)

Baalbeck một thành phố ở miền đông Lebanon, nó là một thành phố phồn thịnh khi mà người Hy Lạp chiếm nó năm 331 trước công nguyên và trở thành một thuộc địa của Hoàng đế La Mã Augustus. Người La Mã đã cho xây dựng ba đền thờ Baalbeck ở Lebanon có niên đại từ 2000 năm trước công nguyên. Điều làm nên sự kỳ diệu của cấu trúc bằng đá này là nền móng đồ sộ của những ngôi đền La Mã, có những tảng đá có trọng lượng xấp xỉ 350 tấn. Điều bí ẩn là chúng đã được xẻ ra, đẽo tạc, và vận chuyển qua hàng dặm, nâng lên tới độ cao 7m, để đặt bên trên những tảng đá nhỏ hơn như thế nào.

Pháo đài Machu Picchu (Peru)

Machu picchu là một tàn tích Inca thời tiền Columbo, ở độ cao 2.400m ẩn trong dãy Andes trên một quả núi có chóp nhọn tại thung lũng Urubamba Peru. Bị thế giới bên ngoài lãng quên từ nhiều thế kỷ, dù người dân vẫn biết tới nó và được tái khám phá trở lại bởi nhà khảo cổ học Hiram Bingham vào năm 1911.

Đường kẻ Nazca lines (Peru)

Các đường kẻ Nazca Lines được tìm thấy trên sa mạc cách Lima, Peru được xem là hiện tượng rất bí ẩn. Các đường kẻ này nằm trên một vùng đất dài và rộng lớn được con người phát hiện ra đầu thập niên 30 ở thế kỷ trước. Những đường thẳng này rất hoàn hảo, chạy thẳng và đôi lúc chạy song song với nhau, nhìn từ xa trông giống như một đường băng hay hình con chim khổng lồ được khắc họa trên mặt đất. Nhiều giả thiết cho rằng, hình vẽ này là dùng để nhận biết độ cao, dùng cho dự báo thời tiết hoặc có thể là cho mục đích tín ngưỡng…

Tiahuanacu (Bolivia)

Tihuanacu hay còn được gọi là Tiwanaku vẫn còn là một bí ẩn lớn với khoa học thế giới chính xác về độ tuổi, được ước tính xây dựng khoảng từ năm 300 đến 700 với đá và công nghệ đặc biệt. Có nhiều ý kiến cho rằng, Tiahuanaco là một thánh điện để thực hiện các nghi lễ thiêng liêng với một nền văn hóa, đã lây lan sang nhiều khu vực lân cận. Những người cổ đại, đã xây dựng một kim tự tháp bằng đá được gọi là Akapana, là một trong những công trình vĩ đại nhất ở Nam Mỹ thời kỳ trước khi Columbus phát hiện ra “tân thế giới” và tạo nên ý nghĩa tâm linh lớn cho nền văn minh Tiwanaku.

Chichen Itza (Mexico)

Chichen Itza là một địa điểm khảo cổ thời tiền Colombo, do nền văn minh Maya xây dựng, nằm ở trung tâm phía bắc Bán đảo Yucatan, Mexico. Địa điểm này chứa đựng vô số các phong cách kiến trúc lớn, khác nhau lớn như El Castillo (đền thờ của Kukulkán) và đền thờ của Warriors. Nó được xây dựng bởi một bộ tộc của người Maya là Itzáes trong thế kỷ thứ 9 và phát triển thành một thủ đô trong khu vực chính cho đến thế kỷ thứ 12. Nguồn gốc thực sự của người Itza vẫn còn bí ẩn.

Những quả cầu đá bí ẩn (the Stone Spheres of Costa Rica)

Một trong những bí ẩn lạ lùng nhất, được các nhà khảo cổ học phát hiện ở đồng bằng sông Diquis, Costa Rica. Kể từ năm 1930, hàng trăm quả cầu bằng đá này, đã được tìm thấy có kích thước từ vài cm đến hơn 2m và một số có cân nặng tới 16 tấn. Các nhà khoa học tin rằng chúng được tạo thành với hình dạng này từ khoảng trước năm 200 trước công nguyên. Những quả cầu lớn này là tác phẩm điêu khắc bằng đá nguyên khối được thực hiện bởi bàn tay của con người.

Thành phố dưới nước tại Nhật Bản

Được phát hiện, bởi một hướng dẫn viên lặn khoảng 20 năm trước, trên bờ biển phía nam của Yonaguni, Nhật Bản. Tàn tích ngập dươi nước này có ước tính khoảng 8.000 năm tuổi, tranh cãi đã nảy sinh xung quanh một kim tự tháp bí ẩn được tìm thấy ngoài khơi bờ biển Nhật Bản. Những cấu trúc này dường như đã được trổ khắc ngay trong khối đá, sử dụng những công cụ trước đây được cho là không có sẵn ở các nền văn hóa cổ trong khu vực này.

Theo TPO

Những người không có ý niệm thời gian

Đó là các thành viên một bộ tộc sinh sống tại Amazon thuộc Brazil. Giáo sư Chris Sina đang làm việc tại Đại học Portsmouth (Anh) nói rằng ngôn ngữ của người Amondawa chưa bao giờ có những từ như: thời gian, tuần lễ, tháng hoặc năm.
Theo ông thì đây là lần đầu tiên các nhà khoa học có thể chứng minh rằng khái niệm thời gian không ăn sâu vào tiềm thức một cách phổ quát như chúng ta từng nghĩ.
Giáo sư Chris Sina đã công bố phát hiện này qua một bài báo được đăng tải trên tạp chí Ngôn ngữ và Nhận thức. Nội dung bài báo này nhận định trên thế giới có ít nhất một nền văn hóa và ngôn ngữ không có khái niệm thời gian như một mốc có thể đo đếm. Nói cách khác, bộ tộc Amondawa là những người “ngoài thời gian”, họ sống trong một thế giới của các sự kiện, thay vì nhận thức sự kiện đó được nhúng trong thời gian.
Bộ tộc Amondawa
Các thành viên khác trong nhóm nghiên cứu là nhà ngôn ngữ học Wany Sampaio và nhà nhân chủng học Vera da Silva Sinha đã dành ra 8 tuần để nghiên cứu ngôn ngữ của người Amondawa, cố tìm hiểu cách họ truyền đạt rằng tuần tới hoặc năm ngoái như thế nào. Không có từ diễn đạt khái niệm này. Với người Amondawa thì đơn vị của họ chỉ là ngày và đêm; mùa mưa và mùa khô. Thậm chí trong bộ tộc này không có tuổi!
Thay vào khái niệm năm tuổi thì người Amondawa thay đổi tên của họ để phản ánh các giai đoạn trong cuộc sống hoặc sự thay đổi vị trí của họ. Ví dụ một đứa trẻ sẽ chuyển tên của nó cho em mới sinh và lấy một tên khác.
Theo báo Daily Mail thì bộ tộc Amondawa lần đầu tiên tiếp xúc với thế giới bên ngoài vào năm 1986, đến nay họ vẫn tiếp tục mưu sinh theo cách truyền thống là nuôi trồng, săn bắn, câu cá. Tuy nhiên, ngôn ngữ Amondawa đang bị đe dọa thất truyền bởi tiếng Bồ Đào Nha khi mà các tiện nghi hiện đại như truyền hình đang trở nên phổ biến trong bộ tộc này.

Theo Thanh Niên

Bật mí 22 điều lý thú có thể bạn chưa biết

Một chú gà sống sót 18 tháng mà không cần đầu, giun đất rất “giàu tình cảm” vì có tới 9 trái tim, nhím từng được tin có thể chữa bệnh hói… những điều lý thú này chắc hẳn sẽ khiến nhiều người bất ngờ.

Bật mí 22 điều lý thú ít người biết
1. Trận đấu quyền anh dài nhất trong lịch sử kéo dài 11 hiệp.
2. Chú chó già nhất thế giới chết ở tuổi 29.
3. Loài hà mã trông bề ngoài tưởng dễ thương nhưng lại là loài vật giết người nhiều hơn bất cứ động vật có vú châu Phi nào khác.
4. Wayne Allwine – người lồng tiếng cho chuột Mickey, và Russi Taylor – người lồng tiếng của chuột Minnie, đã kết hôn.
5. Cá ngựa là loài cá chậm chạp nhất.
6. Mỗi ngày chân người lớn sản sinh ra 1/4 cốc mồ hôi.
7. Chiếc ô tô mang hình dáng con bọ hung là ý tưởng của trùm phát xít A. Hitler.
8. Giun đất có 9 trái tim.
9. Trên thế giới có 1 chú gà sống sót 18 tháng mà không cần đầu.
10. Trung bình trái tim đập 3 tỉ lần trong đời.
11. Người Ai Cập cổ đại tin rằng nhím có thể chữa bệnh hói.
12. Đàn ông dễ bị sét đánh hơn phụ nữ.
13. Để 1 người nặng khoảng 50kg bay lên được cần 4.000 quả bóng bay khí heli.
14. Hươu cao cổ vệ sinh tai bằng chiếc lưỡi dài hơn 45 cm của mình.
15. Mắt xanh nhạy cảm với ánh sáng nhất.
16. Loài gấu Koala ngủ 22 giờ/ngày.
17. Một số loại giun đốt tự ăn mình khi thiếu thức ăn.
18. Tất cả các hành tinh đều quay ngược chiều kim đồng hồ, trừ sao Kim.
19. Chú Kangaroo sơ sinh nhỏ tới mức có thể ngồi gọn trên 1 cái muỗng trà.
20. Anh không trả xác của Napoleon cho Pháp cho đến 20 năm sau ông chết.
21. Bò tiết mồ hôi qua mũi.
22. Răng của loài hải ly có thể mọc dài bất tận.

Theo NLD    

Phát hiện thế giới bị mất tích

Các nhà khoa học vừa phát hiện một vùng đất có niên đại cách đây 56 triệu năm ở bắc Đại Tây Dương, từ dữ liệu do các tập đoàn dầu mỏ cung cấp.

Chôn sâu trong lớp trầm tích nơi đáy biển của Đại Tây Dương là một thế giới bí ẩn có nguồn gốc xa xưa, với những rãnh cắt do sông suối và những chóp nhọn từng thuộc về các đỉnh núi cao. "Nó giống như bản đồ của một quốc gia trên cạn”, chuyên gia Nicky White nhận xét, chỉ khác là được bảo quản ở độ sâu 2 km dưới đáy biển.
Phát hiện thế giới bị mất tích
Vùng đất mới được phát hiện khiến người ta liên tưởng đến lục địa huyền thoại Atlantis -
Ảnh: iasos.com
Cho đến lúc này, dữ liệu cho thấy đó là một khu vực rộng khoảng 10.000 km2 nằm về phía tây các đảo Orkney-Shetland, và phần nổi của nó trồi lên mặt nước biển đến gần 1 km. Ông White và đồng sự nghi ngờ rằng đây là một phần của khu vực lớn hơn đã sáp nhập với nơi hiện giờ là Scotland, thậm chí có thể kéo dài đến Na Uy.
Phát hiện trên được rút ra từ những dữ liệu do công ty đo đạc địa chấn thu thập được qua phương pháp hồi âm chùm hiện đại. Không khí nén thoát khỏi các ống xy-lanh kim loại, tạo nên sóng âm di chuyển thẳng đến thềm đại dương và xuyên qua các lớp bùn trầm tích. Mỗi lần sóng âm chạm phải một sự thay đổi nào đó về phần vật chất, như từ bùn sang cát, tiếng dội sẽ nảy trở về nguồn phát âm. Các thiết bị trên tàu sẽ ghi nhận những tiếng vang này và vẽ nên hình ảnh 3 chiều về đáy biển, chuyên gia White của Đại học Cambridge giải thích.
Đội ngũ nhà khoa học, do Ross Hartley dẫn đầu, đã phát hiện được một lớp gồ ghề dày đến 2 km bên dưới thềm lục địa, chứng cứ cho thấy có một quang cảnh đang bị vùi sâu bên dưới, khiến người ta liên tưởng đến huyền thoại về lục địa mất tích Atlantis. Các nhà nghiên cứu tìm được 8 con sông chính, cũng như các mẫu phấn hoa và than đá, dấu hiệu cho thấy từng có sự sống ở khu vực trên. Tuy nhiên trên hết, họ thu thập được chứng cứ về một môi trường sinh vật biển, có cả các hóa thạch nhỏ. Điều này cho thấy vùng đất từng nằm trên mặt biển rồi bị chìm xuống nước trong vòng 2,5 triệu năm. Đứng về góc độ chuyên gia, chuyện thay đổi như vậy là nhanh một cách đáng ngạc nhiên.

Theo TNO (Nature Geoscience)


 

Phát hiện mới về người tiền sử 

Con người bắt đầu đi bằng hai chân sớm hơn rất nhiều so với chúng ta nghĩ trước đây, theo một nghiên cứu khoa học mới được công bố.
Cho đến hiện tại, chúng ta vẫn tin rằng con người bắt đầu biết đi thẳng người bằng hai chân cách đây khoảng 1,9 triệu năm. Tuy nhiên, một nhóm các nhà khoa học, đứng đầu bởi tiến sĩ Robin Crompton thuộc trường đại học Liverpool (Anh), đã phát hiện thấy những dấu chân người có niên đại cách đây khoảng 3,7 triệu năm.
Phát hiện mới về người tiền sử
Chủng người Australopithecus afarensis được cho là đã có thể đi thẳng bằng hai chân cách đây 3,7 triệu năm.
Ảnh: Getty Images
Nhóm nghiên cứu đã tìm thấy 11 dấu chân in trên đá ở Laetoli, Tanzania. Những dấu chân này có đặc điểm giống với dấu chân của người hiện đại khi đứng thẳng, hơn là dấu chân của các các loài linh trưởng khác như tinh tinh, đười ươi và khỉ đột.
Các dấu chân vừa phát hiện được cho là của loài Australopithecus afarensis – một chủng người thời tiền sử có thể là tổ tiên trực tiếp của người hiện đại ngày nay. Các nhà khoa học đã so sánh các phân tích dấu chân với những số liệu nghiên cứu dấu chân của người hiện đại và khỉ.
Tờ Daily Mail dẫn lời tiến sĩ Robin Crompton, người đứng đầu nghiên cứu, cho biết: “Các nghiên cứu trước đây cho rằng, chủng người Australopithecus chỉ có thể đi lom khom. Tuy nhiên, những dấu chân được phát hiện ở Laetoli hé lộ, chủng người này đã có thể đi thẳng người trên hai chân giống như loài người ngày nay”.
Trong những nghiên cứu trước đây, các nhà khoa học chỉ phát hiện những dấu chân đơn lẻ. Điều này khiến các nhà khoa học rất khó xác định đây có phải là dấu chân thật hay là được chạm khắc.

Theo VietNamNet

Chuyện luân hồi chuyển kiếp về cô bé Shanti Dévi tại Ấn Độ

Shanti Dévi sinh năm 1926 tại Delhi, Ấn Độ. Năm lên 4 tuổi, cô bé bắt đầu nói với bố mẹ những điều rất kỳ lạ rằng, ngôi nhà thật của bé là ở thành phố Mathura, nơi chồng của bé đang sống. Mới đầu cảm thấy buồn cười, nhưng không lâu sau, cha mẹ Dévi cảm thấy lo lắng cho tình trạng thần kinh của con gái. Nhưng Shanti Dévi rất thông minh và dễ mến. Suốt hai năm tiếp theo, Dévi vẫn luôn khẳng định những lời nói của mình, điều này làm cho cha mẹ cô bé khó chịu. Năm lên 6 tuổi Dévi trốn khỏi nhà và quyết định đi bộ đến Mathura, cách Delhi 150km, nhưng không thực hiện được.




Một hôm Dévi giải thích cho một bạn cùng lớp rằng, cô không phải tên là Shanti Dévi mà là Lugdi Dévi, và rằng cô đã có chồng, thậm chí, còn có một con mà cô không thể chăm sóc, vì sinh con được 10 ngày thì cô chết. Cả Trường học đã chế giễu Dévi. Dévi khóc tức tưởi và bỏ đi.

Tuyệt vọng, cô bé lang thang rất lâu và cuối cùng đến gần một ngôi đền. Tại đây, cô bé kể lại toàn bộ câu chuyện của mình cho một người phụ nữ, khi bà này cố an ủi cô. Lúc này, cả gia đình hốt hoảng lo cho con gái. Bố cô bé bổ đi tìm và cuối cùng đã tìm thấy cô. Lần này, ông đã lung lay trước sự cương quyết của con gái. Tuy nhiên, hai năm tiếp theo mọi chuyện vẫn như cũ, không có gì thay đổi. Shanti Dévi sống khép mình.

Cuối cùng, cảm thấy tò mò vì tất cả những gì người ta kể về đứa trẻ hiền lành, chăm chỉ này, thầy giáo và thầy hiệu trưởng Trường cô bé học, đã đến gặp bố mẹ cô bé, với hy vọng làm sáng tỏ mọi việc. Họ đã hỏi cô bé rất lâu và cô bé đã bình tĩnh tự tin trả lời tất cả các câu hỏi của họ.

Cô bé kể lại cuộc sống của mình đã trải qua ở Mathura với người chồng làm nghề buôn bán, và khẳng định rằng, cô có thể dễ dàng nhận ra người quen và các địa danh nơi đó. Trong buổi nói chuyện Dévi thường dùng các phương ngữ của vùng Mathura, mà ở đây không một ai nói. Hai ông thầy nài nỉ cô bé cho biết tên chồng.

Việc cho biết tên chồng đối với một phụ nữ Ấn Độ, là một việc làm mất lịch sự và đáng xấu hổ, Dévi lưỡng lự, lấy tay che mặt và cuối cùng thì thầm cái tên “Kédar Nath”. Mặc dù bố mẹ cô bé muốn mọi người quên tất cả những chuyện này đi, nhưng ông Hiệu trưởng vẫn tiến hành điều tra ở Mathura. Và ở đó quả thật có một thương gia tên là Kédar Nath.



Ông Hiệu trưởng viết một lá thư cho Nath và vài tuần sau, ông nhận được thư trả lời. Hết sức sững sờ, người thương gia khẳng định rằng 9 năm trước, vợ anh ta đã chết 10 ngày sau khi sinh ra một đứa con trai. Hẳn là người đàn ông này muốn biết thêm nhiều thông tin nữa, nhưng vì còn bán tín bán nghi, nên anh ta nhờ một người họ hàng đến Delhi để tìm hiểu sự tình. Ngay lập tức, cô bé đã nhận ra người đàn ông mà cô chưa bao giờ gặp này. Cô đón tiếp thân mật anh ta, nhận xét rằng anh ta béo lên so với trước và cảm thấy buồn khi anh ta vẫn sống độc thân. Cô bé còn hỏi han nhiều điều khác nữa.

Lúc đến đây, với niềm tin sẽ lột mặt được một trò bịp bợm, người đàn ông nọ cảm thấy rất đỗi kinh ngạc. Anh ta cũng bắt đầu vặn hỏi cô bé, nhưng ngay sau đó đã phải cầu xin cô bé im lặng, vì cô bắt đầu kể chính xác, anh ta đã tán tỉnh cô như thế nào lúc chồng cô đi vắng. “Lugdi Dévi là một người phụ nữ tuyệt vời nhất thế giới, đó là một nữ thánh!”, người anh họ này kêu lên. Sau đó cô bé hỏi thăm tin tức về con trai mình.

Khi kể lại cho thương gia Kédar Nath nghe sự việc này, thiếu chút nữa thì anh ta ngất xỉu. Kédar Nath quyết định đến Delhi cùng con trai, nhưng với ý định là giả danh người em trai. Nhưng thật hoài công. Ngay khi Nath vừa xưng tên giả mạo của mình, thì Dévi đã kêu lên: ”Anh không phải là Jeth (em chồng – theo phương ngữ ở Mathura) của em, mà là Kédar Nath, chồng em” và cô bé Dévi ngã vào vòng tay của Nath khóc nức nở. Khi cậu con trai, gần bằng tuổi Dévi, vào phòng, Dévi ôm hôn cậu bé giống như mẹ ôm con. Tất cả những người chứng kiến cảnh này đều thấy sững sờ.



Câu chuyện càng tiếp tục càng trở nên chính xác hơn. Shanti Dévi còn hỏi Kédar Nath có giữ lời hứa trước lúc cô lâm chung là sẽ không tục huyền không. Dévi đã tha thứ khi Nath thú nhận là đã lấy một người phụ nữ khác. Kédar Nath ở lại Delhi nhiều ngày và hỏi Shanti Dévi rất nhiều câu hỏi, và Dévi đã trả lời với những chi tiết làm mọi người hết sức ngỡ ngàng. Khi quay trở về, Nath hoàn toàn tin rằng Shanti Dévi chính là sự đầu thai trở lại của người vợ cũ của mình.

Sự việc không dừng lại ở đây. Tiếng đồn vang xa, và một hôm. Trong sự kinh ngạc của tất cả mọi người, đích thân Ngài Gandhi đã đến thăm cô bé. Ông rất quan tâm đến trường hợp này. Shanti Dévi tiết lộ với ông rất nhiều điều, trong đó có việc Lugdi Dévi rất sùng giáo. Vuốt tóc cô bé như người cha vuốt tóc con. Ngài Gandhi nói với cô bé:

“Ta hy vọng sẽ biết nhiều điều hơn nữa khi cháu trở lại Mathura. Những thiện ý của ta sẽ đi cùng cháu. Điều mà cháu cần làm, đó là Sự thật, đừng bao giờ rời xa con đường Sự thật, dù cháu phải trả giá như thế nào”.

Ông đã gửi cô bé đến Mathura, có cha mẹ đi theo, cùng với 3 thân hào, nhiều Luật sư, nhà báo và doanh nhân nổi tiếng có trí tuệ cao. Ngày 25 tháng 11 năm 1935, phái đoàn đến nhà ga Mathura. Một đám đông tụ tập trên sân ga để chào đón họ. Ngay lập tức, cô bé khiến mọi người phải sửng sốt khi cô nhận ra các thành viên của “gia đình” mình. Cô bé bước nhanh đến một ông già và kêu lên: “Ông!”và hỏi thăm con rắn thần của mình.



Ông già hết sức kinh ngạc: trước khi chết, Lugdi Dévi đã ký thác cho ông con rắn thần của mình. Sau đó, cô dẫn cả đoàn về thẳng “nhà mình”. Trong nhiều ngày Dévi tới thăm hàng chục địa danh và con người nơi đây. Cô tới gặp lại bố mẹ xưa kia của mình, làm họ hết sức bối rối. Trong khi đó, bố mẹ hiện tại của cô rất lo là cô sẽ không về lại với họ nữa. Mặc dù bị giằng xé ghê gớm, nhưng cô bé vẫn quyết định trở lại Delhi.

Dần dà trong quá trình hỏi chồng mình, cô bé phát hiện ra rằng, anh ta đã không giữ bất cứ lời hứa nào, mà anh ta đã nói trước lúc cô giã từ cõi đời. Thậm chí, anh ta còn không cúng tiến cho thần Krisha 150 rupi tiết kiệm mà cô đã giấu dưới một tấm ván, để cứu rỗi cho linh hồn cô. Món tiền giấu này chỉ có Lugdi Dévi và chồng biết. Shanti Dévi đã tha thứ cho Kédar Nath tất cả những lỗi lầm đó, và điều này càng khiến cho những người nghe cô, thêm quí trọng cô nhiều hơn.

Ủy Ban điều tra gồm các thân sĩ đã làm việc nghiêm túc, tiến hành rất nhiều cuộc xác minh, tập hợp và đối chiếu các thông tin và sự việc. Ủy Ban này đã đi đến quyết định rằng, Shanti Dévi chính là sự đầu thai trở lại của Lugdi Dévi.



Sau đó Shanti Dévi sống một cuộc đời rất khiêm nhường và độc thân, vì cô đã hứa với chồng là sẽ không bao giờ tái giá trong cuộc sống mới. Cô không bao giờ tìm cách kiếm lợi từ sự nổi tiếng của mình và, sau khi hoàn thành việc học Văn học và Triết học, cô đã dành thời gian cho cầu nguyện và Thiền định. Vào cuối những năm 1950, một lần nữa, cô chấp nhận kể lại câu chuyện của đời mình…




Trái đất đang bị hủy diệt vì con người ăn nhiều thịt

Dưới đây là 8 lý do khiến cho trái đất bị hủy diệt vì thói quen ăn thịt của chúng ta

1. Đốt nóng hành tinh

Thế giới tiêu thụ khoảng 230 triệu tấn thịt động vật mỗi năm – lớn gấp đôi 30 năm trước. Thường chúng ta chăn nuôi bốn loại - gà, bò, cừu và lợn - tất cả đều đòi hỏi số lượng lớn thức ăn và nước, thải ra khí metan và những loại khí khác làm khí hậu nóng lên. Chúng cũng sản xuất cả núi chất thải hữu cơ gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước…
ăn thịt hủy diệt trái đất
Thế giới tiêu thụ khoảng 230 triệu tấn thịt động vật mỗi năm – lớn gấp đôi 30 năm trước.
Các tác giả bản tường trình “cái bóng dài của đàn bò” đã tính toán không chỉ số lượng khí metan do đàn bò thải ra, mà cả ác loại khí bốc ra từ chất thải của chúng, số nhiên liệu tiêu hao khi vận chuyển thịt đến điểm tiêu thụ, số điện tiêu thụ bảo quản thịt đông lạnh, lượng gas sử dụng trong khâu chế biến, năng lượng tiêu hao để làm đất nuôi trồng thức ăn cho gia súc, và thậm chí cả nước ngọt cần thiết cho đàn bò. Và kết quả là một con số lớn hơn tổng khí thải của xe hơi, máy bay và các phương tiện vận tải cơ giới gộp lại.
Các nhà khoa học thuộc Ngân hàng Thế giới đã tăng con số trên tới 51% sau khi tính cả nhiều nhân tố khác, như các khoản chi phí sản xuất phân bón cần thiết cho nuôi trồng thức ăn chăn nuôi hoặc kim loại để đóng tầu vận chuyển gia súc.
Sự tính toán chính xác ảnh hưởng của chăn nuôi đối với môi trường là cơn ác mộng toán học. Và dù tính chi li hay xuê xoa, dù chỉ là 5-10%, hoặc lên tới 50% lượng khí làm Trái đất nóng lên, thì ngành chăn nuôi vẫn thuộc loại hình hoạt động làm hủy hoại môi trường lớn nhất.

2. Ngốn quá nhiều đất đai

Mức gia tăng dân số dự báo 3 tỷ người, mức tiêu thụ thịt toàn cầu tăng gấp đôi trong vòng 40 năm tới đang dẫn chúng ta đến cuộc khủng hoảng dinh dưỡng nghiêm trọng. Việc sản xuất thực phẩm chiếm dụng diện tích ngày càng lớn trên Trái đất. Nhu cầu của con người ăn chay cần không gian nhỏ hơn nhiều so với người ăn thịt. Một gia đình trung bình tám khẩu ăn chay ở Banglades chỉ cần diện tích canh tác 1 ha, trong khi một người Mỹ tiêu thụ trung bình 120 kg thịt/năm cần tới 20 ha đất đai!
Gần 30% địa bàn Trái đất không bị đóng băng được sử dụng để chăn nuôi bò hoặc trồng cỏ làm thức ăn cho chúng. Trong khi đàn bò ăn phần lớn các sản phẩm canh tác thì trên hành tinh mỗi ngày có hàng tỷ người đói ăn! Các nhà khoa học thuộc Đại học Corrnell (Mỹ) đã tính được rằng năm 1997 diện tích trồng rau, lúa mỳ, hoa quả, khoai tây và đậu nành trên toàn nước Mỹ chỉ chiếm diện tích 13 triệu hécta. Trong khi diện tích sử dụng chăn nuôi bò lên tới 302 triệu héc ta. Rắc rối ẩn giấu ở chỗ: hiệu suất “chế biến” thức ăn thành sản phẩm của gia súc nuôi đại trà quá thấp. Trong khi để sản xuất 1 kg thịt, gia cầm chỉ cần trung bình 3,4 kg thức ăn, nhưng để có 1 kg thịt lợn nuôi phải cần tới 8,4 kg thức ăn.
Các nhà khoa học cũng tính được, nếu sử dụng số ngũ cốc phương Tây chăn nuôi gia súc để chế biến thức ăn cho con người, ít nhất có thể nuôi sống số nhân loại lớn hơn hai lần so với hiện nay.
Súc vật hiện được chăn nuôi tại các quốc gia châu Âu duy nhất nhằm mục đích giết mổ lấy thịt trong thời gian ngắn nhất có thể. Trong khi tại các vùng lãnh thổ nghèo, đặc biệt tại những vùng khô cằn, động vật có sừng đóng vai trò thành phần trung tâm của cuộc sống và nền văn hóa, thường là nguồn sống và tài sản đối với hàng triệu dân chăn thả. Dân du mục quanh năm vận động theo đàn súc vật trở thành nền tảng nền kinh tế nhiều quốc gia châu Phi. Theo Viện Môi trường và Phát triển Quốc tế, hình thức nuôi thả động vật có sức và móng này thân thiện hơn với môi trường và năng suất cao hơn so với phương pháp chăn nuôi công nghiệp tại Australia hoặc Mỹ.

3. Tiêu thụ quá nhiều nước ngọt

Khi ăn món bít tết bò hay món gà rán, chúng ta đồng thời đã sử dụng lượng nước không nhỏ mà những con vật từng tiêu thụ để tồn tại. GS John Robbin đã tính được, để sản xuất 1 kg khoai tây, lúa mỳ, ngô và gạo cần tương ứng 120, 216, 336 và 450 lít nước. Tuy nhiên, để sản xuất được 1kg thịt bò, cần có tới trên 18 ngàn lít nước. Để có một lít sữa bò – cần 1.000 lít nước ngọt.
Lợn cũng thuộc loại động vật tiêu thụ nhiều nước nhất. Một trang trại chăn nuôi cỡ trung bình (đàn lợn 80 ngàn con) ở Mỹ mỗi năm tiêu tốn 337,5 triệu lít nước. Những trang trại lớn với đàn lợn cỡ triệu con sử dụng lượng nước sinh hoạt tương đương một thành phổ.
Thực tế ngành chăn nuôi gia súc hiện sử dụng tới 70% dự trữ nước ngọt dành cho con người. Bởi thế nhu cầu tiêu thụ thịt gia tăng, nước ngọt cho nhu cầu sản xuất lẫn sinh hoạt sẽ cạn kiệt. Các quốc gia giàu có, nhưng thiếu nước ngọt như A Rập Saudi, Libia, các nước vùng vịnh Persja hay CH Nam Phi khẳng định, cần sản xuất thực phẩm tại những quốc gia nghèo hơn, để bảo vệ dự trữ nước ngọt của chính mình. Cũng vì thế mà họ đã mua hoặc thuê hàng triệu ha đất ở Etiopia và nhiều quốc gia khác. Bằng cách này họ tiết kiệm nước ngọt tại chính quốc.
Việc chặt phá rừng trên quy mô toàn cầu kéo dài hơn 30 năm không nhằm mục đích khai thác gỗ, mà chủ yếu lấy diện tích chăn nuôi bò, trồng đậu nành và trồng cọ lấy dầu.
Trong bản tường trình “Thực phẩm của chúng ta sống bằng gì?” mới nhất của mình, tổ chức môi trường Friends of the Earth đánh giá, mỗi năm thế giới tàn phá khoảng 6 triệu hecta rừng (tương đương diện tích nước Litva) vì mục đích phát triển trồng trọt và chăn nuôi.

4. Làm ô nhiễm đất đai

Nền nông nghiệp và chăn nuôi trên phạm vi công nghiệp nắm địa vị chi phối tại các quốc gia phương Tây. Một trang trại đơn lẻ có thể thải ra lượng chất thải tương đương một thành phố. Trung bình, để cung cấp một kg thịt bò cho chúng ta ăn, con bò đã thải ra môi trưởng tối thiểu 40kg chất thải rắn. Nếu hàng ngàn con bò nuôi trên diện tích hạn chế, hiệu ứng sẽ thật khủng khiếp. Phân động vật thường được đổ vào những bể chứa khổng lồ - công trình thường bị vỡ hoặc rò rỉ, làm ô nhiễm dự trữ nước ngầm và các dòng sông bởi lượng nito, fosfo và nhiều chất độc hại khác.
Hàng năm có hàng chục ngàn kilomet sông ngòi tại Mỹ, châu Âu và châu Á bị ô nhiễm vì chăn nuôi. Chỉ một vết nứt bể chứa dò rỉ hàng triệu lít chất thải từ trại nuôi lợn lớn ở Bắc Carolina(Mỹ) năm 1995 đã giết chết đàn cá hàng triệu con và làm tê liệt trang trại nuôi tôm diện tích 364 ngàn ha mặt nước biển.

5. Ô nhiễm các Đại Dương

Vụ tràn dầu ở vịnh Mexico giữa năm 2010 không phải là thảm họa môi trường duy nhất tại vùng lãnh thổ này. Đã từ lâu, 13.000-20.000 km2 diện tích mặt biển và cửa sông Mississipi đã bị coi là “vùng chết” vì phân động vật, các nguyên tố nito, phân hóa học và những thứ độc hại khác thải ra từ các trang trại chăn nuôi. Các chất ô nhiễm đã lấy hết nguồn oxy của cơ thể sống khác.
ăn thịt hủy diệt trái đất
Cửa sông Mississipi đã bị coi là “vùng chết” vì phân động vật và những thứ độc hại
khác thải ra từ các trang trại chăn nuôi.
Từ bờ biển Bắc Âu đến bờ biển Đông Nam Á, giới khoa học đã nhận diện được 400 vùng biển chết với diện tích 1.000-70.000 km2. Chăn nuôi không phải là thủ phạm duy nhất, song chắc chắn là một trong số các nguyên nhân nghiêm trọng nhất.

6. Ô nhiễm bầu không khí

Tất cả những ai sống gần trang trại chăn nuôi lợn đều biết rõ bầu không khí tại đó khó chịu thế nào. Ngoài các chất gây hiệu ứng nhà kính như metan hay cacbonic, đàn bò và lợn còn thải ra nhiều khí độc hại khác. Tại Mỹ, đàn bò và canh tác ngũ cốc làm thức ăn gia súc đảm trách 37% tổng số thuốc bảo vệ thực vật sử dụng tại quốc gia này, trên 50% thuốc kháng sinh sản xuất tại Mỹ, 1/3 lượng nito và fosfo thải vào nguồn nước. Các trang trại nuôi bò tạo ra gần 2/3 lượng amoniac tổng hợp (nhân tố chính tạo mưa axit).

7. Đầu độc con người

Chất thải động vật chăn nuôi chữa nhiều mầm bệnh, trong đó có khuẩn salmonella, vi trùng E.Coli và nhiều vi trùng gây bệnh khác có thể thâm nhập vào cơ thể con người. Mỗi năm người ta trộn hàng tấn thuốc kháng sinh vào thức ăn gia súc – yếu tố làm xuất hiện nhiều loại vi trùng nhờn thuốc kháng sinh, tức gây khó khăn trong nỗ lực điều trị bệnh ở con người.

8. Góp phần làm cạn kiệt dự trữ dầu lửa thế giới

Ngành công nghiệp chăn nuôi ở các quốc gia phương Tây phát triển dựa vào dầu lửa. Vì thế năm 2008, khi giá nhiên liệu đột ngột nhảy vọt, tại 23 quốc gia đã xảy ra bạo động vì lý do tăng giá các mặt hàng thực phẩm. Theo một số nghiên cứu tại Mỹ, ngành chăn nuôi đã tiêu thụ 1/3 tổng sản lượng các nguồn nhiên liệu khai khoáng hàng năm của đất nước.

Theo Bee.net